Tưởng nhớ Đỗ Huy Nhiệm: Đã tràn u uẩn cả hồn tôi

(Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022)

Vanvn- Phong trào Thơ Mới 1932 đã đi qua chặng đường dài 90 năm. Trong 90 năm ấy, có nhiều tên tuổi vẫn còn long lanh, rạng rỡ. Họ được xem như những người khổng lồ của thế kỷ XX. Tác phẩm của họ luôn là niềm tự hào của văn chương nước nhà như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên… Đỗ Huy Nhiệm cũng là một người đã xuất hiện và được biết đến từ Phong trào Thơ Mới, nhưng sau đó tên tuổi ông rất ít được nhắc đến, thậm chí bị rơi vào quên lãng.

Trong cuốn Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941 của Hoài Thanh và Hoài Chân (NXB Văn học tái bản 1988), tại trang 259 có ghi:

Sinh ngày 16 Mars 1915 tại Nam Định. Chính gốc người Phú Yên, họ Hồ sau đổi ra họ Đỗ. Học trường Nam Định đến đậu thành chung, lên Hà Nội học đến đậu tú tài. Hiện làm ở sở Trước bạ Hà Nội. Viết báo thường ký Đỗ Phủ, Thiếu Lăng.

Đã xuất bản: Khúc ly tao (1931), Thiên diễm tuyệt (1936)”.

Trong cuốn Việt Nam thi nhân tiền chiến (Toàn tập), tái bản năm 2000, tác giả Nguyễn Tấn Long đã dành cho Đỗ thi sĩ tới 25 trang, từ trang 1.243 đến trang 1.268, gồm cả phần giới thiệu và tuyển tác phẩm. Cũng theo ông Nguyễn Tấn Long, ngoài làm thơ, Đỗ Huy Nhiệm còn có cuốn tiểu thuyết có tên là Tiền kiếp và đã từng cộng tác cho rất nhiều tờ báo nổi tiếng thời bấy giờ như Phụ nữ thời đàm, Tân thiếu niên, Tiến hóa, Văn học tạp chí, Hà Nội báo, Tiểu thuyết Thứ Năm, Trào phúng, Đông thanh, Đông Á, Tin mới

Mới đây khi thống kê lại số tác phẩm đã được in trên Tiểu thuyết Thứ Năm qua một số báo hiện còn lưu giữ được, chúng tôi thấy Đỗ Huy Nhiệm có cả thảy 16 bài thơ đăng rải rác trên các số từ 9 đến 44.

Như vậy tên tuổi Đỗ Huy Nhiệm gắn liền với Phong trào Thơ Mới, dù so với nhiều người, hoạt động văn chương của ông có diễn ra sớm hơn, và khi cuộc cách mạng thi ca này đi đến đỉnh cao vào những năm 1936 thì ông đã cho ra đời hai tập thơ rồi. Tự mượn bút danh là Đỗ Phủ, Thiếu Lăng nhưng nhà thơ gốc người Phú Yên này không khuôn mình vào những câu thơ Đường luật cổ kính. Ông than hoa, khóc bướm và chỉ toàn viết về những mối tình si não nùng, lãng đãng khói sương.

Nhà phê bình Nguyễn Thị Thu Trang ở Phú Yên

>> Hàn Mặc Tử: Trữ tình gợi cảm trong điên cuồng đau thương

>> Đông Hồ – ngòi bút bình dị

>> Cõi say của Vũ Hoàng Chương

>> Thi sĩ Nguyễn Bính: Nặng những mối tình phân ly

>> Thơ mới và Tự Lực văn đoàn: 90 năm nhìn lại

>> Chế Lan Viên – nhà thơ không thể lấy kích tấc thường mà đo được!

>> Người đương thời Thơ mới bàn về thơ Tế Hanh

>> Một đóng góp của Xuân Diệu vào nền thơ dân tộc

>> Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Trường thơ Loạn

>> Nhà thơ Phạm Hầu: “Vẫy ngoài vô tận”

>> Huy Cận lấp lánh Lửa thiêng sáng tạo

>> Đinh Hùng: Cúi mặt u huyền khép áo xuân

>> Lưu Trọng Lư với tình yêu và mộng đẹp

>> Bích Khê: Tài thơ độc đáo

>> Nhà thơ Thế Lữ – một tài năng muôn mặt

>> Trường thơ Loạn Quy Nhơn từ góc nhìn địa văn hóa

>> Âm vang hồn thơ Hồ Dzếnh!

 

Trong cuốn Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941; Hoài Thanh và Hoài Chân tuyển đăng bài Say và một số bài thơ ngắn khác. Bài thơ Say được viết theo thể thơ 7 chữ quen thuộc, gồm 40 câu chia thành 10 khổ. Đề tài say trong thơ khá quen thuộc vì thơ thường đi với rượu với hoa với trăng. Thi sĩ thường uống rượu một phần nhưng cái chính là mượn rượu để làm thơ. Đọc Say của Đỗ Huy Nhiệm, ta nhớ tới những bài thơ chung đề tài của Nguyễn Vỹ, Vũ Hoàng Chương, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Quang Dũng… Có bài tác giả tự chú thích rõ là viết trong lúc say. Như Nguyễn Vỹ chẳng hạn, bài thơ Gửi Trương Tửu nổi tiếng ông mở đầu bằng câu: “viết trong lúc say” và kết thúc còn xác nhận thêm bằng câu: “Viết rồi hãy còn say”. Bài thơ được đăng trên báo Phụ nữ lúc bấy giờ:

Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa

Bực chí thành say mấy cũng vừa!

Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ!.

(Trích bài thơ Gửi Trương Tửu, in trong Thi nhân Việt Nam, sđd)

Còn như Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Quang Dũng…; chuyện say chỉ là cái cớ để bày tỏ nỗi niềm, để tìm quên.

Câu thơ của Nguyễn Bính da diết và đẹp đến não nùng. Nguyễn Bính không say vì rượu mà chỉ vì nỗi nhớ giai nhân trào dâng như men rượu chiều nay:

Chiều nay… thương nhớ nhất chiều nay

Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy

Tôi uống cả em và uống cả

Một trời quan tái mấy cho say!”.

(Trích Một trời quan tái của Nguyễn Bính, in trong Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, 1986, trang 95)

Thuộc thế hệ thứ hai, sau thời kỳ Thơ Mới nhưng chất hào hoa, lãng mạn của Quang Dũng trong bài Đôi bờ viết năm 1948 lại có vẻ tương đồng với Nguyễn Bính:

Khói thuốc khơi dòng xanh lối xưa

 Đêm nay sông Đáy lạnh đôi bờ

 Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ

(Trích Đôi bờ, in trong Thơ Quang Dũng, NXB Đồng Nai, 1998, trang 50)

Đỗ Huy Nhiệm viết bài Say cũng nói tới rượu, cũng nói tới nỗi buồn và hình bóng giai nhân. Lạ ở chỗ giọng điệu của nó, cứ hờ hững mà da diết, cứ lãng đãng nhẹ như khói sương mà thấm thía tim gan. Cuộc say bắt đầu bằng nỗi buồn:

Buồn ở đâu theo tối xuống rồi

Đã tràn u uẩn cả hồn tôi”.

Buồn không xuất phát từ con người, buồn theo bóng chiều lan nhanh, bao trùm cả không gian. Trong thời khắc được bắt nhịp, tương thông với đất trời ấy, thấy hiện hữu một nỗi nhớ mơ hồ: “Thơ thẩn nhớ người không nhớ tôi”. Theo dẫn dắt của bài thơ và của men say; “người” là giai nhân, là thơ và cũng là mộng. Dư vị chua chát của một tình yêu gần như vô vọng thấm đẫm trong từng câu chữ. Đau khổ mà yêu thương thênh thang:

Qua đã say rồi nay lại say,

Rượu vơi, buồn vẫn lẩn đâu đây.

Nghiêng hồ tôi rót cho đầy chén

Để giữ người yêu hết trọn ngày”.

Nhưng rượu nhiều uống mãi cũng hết, đêm rồi cũng tàn. Người thơ Đỗ Huy Nhiệm chia ly với nỗi buồn, chia ly với người trong mộng bằng cách đem tất cả vào “hồn tôi”, kể cả chút hương còn vương vấn:

Trăng đã lên cao. Rượu cạn rồi.

Cả nàng đã đẫm cả hồn tôi.

Ngày mai rượu hết nghiêng hồ rỗng,

Vét chút hương còn ép sát môi”.

Kể ra uống say như vậy thì không thể gọi là say được. Tỉnh mới biết rằng nàng không có thực, không có trong tôi. Đỗ Huy Nhiệm trong bài Say chỉ say ở chỗ hóa giải một nỗi buồn mơ hồ, nỗi buồn về những “giấc mơ hoa” của thế hệ thanh niên thời đại mình thành hình ảnh của cô gái, của thơ, của một tình yêu không thành.

Thơ Đỗ Huy Nhiệm không đạt đến độ tân kỳ, hiện đại như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương; không được trau chuốt, sang trọng như thơ Huy Cận; không siêu thực như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử. Ông là một nỗi sầu thương trước hoa, trước gió và đặc biệt là trước sự vô tình của con người:

Vườn xuân, nắng mới, hoa đang đẹp

Em lạnh lùng qua, chẳng đoái hoài

Em hỡi, vô tri hoa biết tủi

Đầm đìa châu lệ hạt sương mai”.

(Hoa tủi, theo Thi nhân Việt Nam 1932 -1941, sđd)

Tâm hồn nhạy cảm, dễ bị tổn thương của nhà thơ đã nối liền ông với một thế hệ các nhà thơ trẻ mới, dù rơi rớt trong một số bài ta vẫn còn bắt gặp những hình ảnh cách điệu của thơ cổ: “mành dương liễu rủ buông tơ”, “Văng vẳng buồng khuê tiếng tiếc than”, “tà dương”, “nguyệt mờ”, “non Quỳnh”…

Cũ nhưng mà mới, Đỗ Huy Nhiệm cho ta biết rằng tình yêu mãi mãi không già:

Em giận con gà gáy sáng ran

Làm em trót tỉnh, giấc mơ tan.

Anh ơi, khẽ kéo rèm the lại,

Nối lại cho em giấc mộng vàng”.

(Trích bài thơ Bắt đền, in trên Hà Nội báo, số 47, 25/11/1936)

Trong cuốn tiểu thuyết Tiền kiếp (xuất bản năm 1944), Đỗ Huy Nhiệm cũng pha trộn mơ và thực như vậy. Không khí liêu trai huyền hoặc bao trùm tác phẩm với những con ma sống chung cùng người: ma cây đa ngoài đường, ma trong nhà xác, ma rắn, ma Mường… Thế giới yêu ma ấy xem ra còn phong phú hơn cả Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ bởi vì nó hiện đại, lãng mạn hơn nhiều.

Đi hết cuộc đời thơ của mình đam mê và đầy mộng ảo như vậy nhưng tiếc rằng Đỗ Huy Nhiệm đã chia tay với thơ sớm. Cho tới nay không tìm thấy bài thơ nào của ông viết sau 1945, không tìm thấy địa chỉ của nhà thơ và không biết ông đã mất hay còn (!?) Trên tạp chí Văn học số tháng 7 năm 2002, nhà thơ Gia Ninh phát biểu (Bài phát biểu nhân dịp tổ chức kỷ niệm 70 năm phong trào Thơ Mới):

Năm 1992, khi Hà Nội kỷ niệm 60 năm phong trào Thơ Mới, tôi thấy còn 9 nhà thơ mới dự. Có lẽ tôi đã bỏ sót 2 người: Đỗ Huy Nhiệm và Nguyễn Xuân Huy vì không tìm ra địa chỉ. Tôi nhớ sau ngày giải phóng Thủ đô, có gặp anh Đỗ Huy Nhiệm và anh nói với tôi đã bỏ thơ từ lâu, không cầm bút nữa, sau đó biệt tin luôn...”.

Nếu quả thực có chuyện “lá rụng về cội” có nghĩa là mọi chiếc lá đều rơi xuống gốc chứ không có chiếc nào “cuốn theo chiều gió” hoặc bay về trời, thì chắc Đỗ tiên sinh đã tìm được chốn cội nguồn bình yên của mình. Dẫu sao, mỗi khi nhớ đến thời kỳ vàng son Thơ Mới (qua hơn 80 năm vẫn còn mới), cứ thấy thiêu thiếu và nhơ nhớ Đỗ Huy Nhiệm!

Người viết bài này coi đây là tấm lòng của kẻ hậu thế cùng quê gốc Phú Yên tưởng nhớ đến nhà thơ và rất mong được biết thêm những thông tin đầy đủ hơn về Đỗ Huy Nhiệm.

    NGUYỄN THỊ THU TRANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.