Tượng đài giữa trùng khơi

Vanvn- Những ai có dịp ra thăm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa trong những năm gần đây đều nhận ra ở vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc có rất nhiều sự thay đổi. Không chỉ có hệ thống các công trình quốc phòng, trên các đảo nổi như Trường Sa Lớn, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn…còn có ngày càng nhiều các công trình dân sinh, văn hóa, tâm linh.

Tượng đài Trần Hưng Đạo trên đảo Song Tử Tây (Quần đảo Trường Sa) trong ngày khánh thành.

Điểm tựa tinh thần, ý chí

Trong đó, ít người biết cách nay mấy năm, tại đảo Song Tử Tây có một công trình rất đặc biệt được xây dựng, khánh thành vào ngày 6/5/2012, đó là Tượng đài Trần Hưng Đạo. Đây là món quà do Đảng bộ, chính quyền, nhân dân, các lực lượng vũ trang tỉnh Nam Định, quê hương vị Anh hùng dân tộc xây dựng, tặng quân dân huyện đảo Trường Sa.

Trần Hưng Đạo là biểu trưng của khí phách dân tộc Việt Nam, kiên cường, bất khuất, quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược. Ông là hạt nhân quy tụ sức mạnh và là người đã lãnh đạo quân và dân Đại Việt, đồng lòng “Sát Thát”, lập kỳ tích ba lần đại thắng quân xâm lược Nguyên Mông, làm nên Hào khí Đông A lừng lẫy. Không chỉ là nhà tư tưởng kiệt xuất, nhà quân sự thiên tài, nhà chiến lược quân sự tài ba về chiến tranh nhân dân, người đặt nền tảng hình thành binh pháp Việt Nam, ông còn được cả đương thời và hậu thế nhìn nhận là tấm gương sáng về lòng “trung quân, ái quốc”, thương dân, hết lòng chăm lo, trọng dụng người tài; coi việc “đồng tâm hòa mục” vua tôi, anh em, quân sỹ là đại nghĩa. Ông để lại cho hậu thế nhiều kiệt tác như “Binh thư yếu lược”, “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Hịch tướng sĩ”… Các trước tác của ông đều toát lên tư tưởng “chí trung đại nghĩa”, “lấy dân làm gốc” làm kế sách giữ nước. Ông được nhân dân tôn thờ, suy tôn là bậc Thánh nhân, thường được gọi là Đức Thánh Trần với lời nhắc nhớ: “Tháng tám giỗ cha tháng ba giỗ mẹ”…

Với mong muốn thông qua hình tượng, khí phách Trần Hưng Đạo tiếp thêm ý chí, sức mạnh, điểm tựa cho quân và dân huyện đảo Trường Sa thêm vững vàng, vượt qua khó khăn, bảo vệ vững chắc vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, nhân kỷ niệm 750 năm Thiên Trường-Nam Định (năm 2012), tỉnh Nam Định, quê hương, nơi phát tích vương triều Trần đã thực hiện một việc ý nghĩa, đó là dành kinh phí xây dựng Tượng đài Trần Hưng Đạo tại đảo Song Tử Tây, tặng quân dân huyện đảo Trường Sa. Công trình được xây dựng theo mẫu tượng đài Trần Hưng Đạo tại trung tâm Quảng trường 3-2, Thành phố Nam Định, chỉ khác thay bằng chất liệu đồng tượng được đúc bằng đá khối, xuất xứ từ Thanh Hóa. Công trình được xây dựng trên diện tích gần 600 m², đặt tại sườn phía đông đảo Song Tử Tây. Tượng đài hướng ra biển, quanh tượng đài có nhiều cây phong ba, cây bàng vuông, loại cây có sức sống mãnh liệt ở Trường Sa, tạo vẻ uy nghi nhưng hài hoà của công trình trước sóng gió đại dương…

Được tham dự lễ khánh thành công trình Tượng đài Trần Hưng Đạo ở Trường Sa sáng ấy, tôi nhớ lãnh đạo tỉnh Nam Định, lãnh đạo Quân chủng Hải quân khi ấy cùng nhìn nhận công trình không chỉ mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh mà còn mang ý nghĩa về chính trị, góp phần quan trọng khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Như chia sẻ của Thượng tá Vũ Văn Cường, khi ấy là Chỉ huy trưởng đảo Song Tử Tây kiêm chủ tịch UBND xã đảo Song Tử Tây: “Có Tượng đài Đức Thánh Trần ở bên, quân dân Trường Sa nói chung, xã đảo Song Tử Tây nói riêng được tiếp thêm sức mạnh, ý chí, vững vàng hơn trước mọi khó khăn, gian khó”. Trước đó, vào đêm ngày 5/5, các nhà sư từ Nam Định ra đảo đã cử hành Lễ an vị tượng theo nghi thức của Phật giáo, rất trang trọng.

“Gặp” đất liền.

Sống giữa trùng khơi

Trong hành trình ra thăm quần đảo Trường Sa năm ấy, ngoài được tham dự lễ khánh thành Tượng đài Trần Hưng Đạo ở đảo Song Tử Tây, chúng tôi còn được tới thăm quân và dân ở nhiều đảo khác trong quần đảo, trải qua nhiều xúc cảm khi được trực tiếp cảm nhận cuộc sống của quân dân nơi đây.

Nhớ đêm ấy, ngủ lại phòng của thiếu úy Phạm Quốc Phương (quê xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) trên đảo Nam Yết, tôi được Phương cho hay trước khi ở đảo Nam Yết, Phương đã có một năm ở đảo Sơn Ca. Tối ấy Phương và anh em trong đơn vị đãi tôi bữa cơm là một tô canh và món thịt hộp. Háo hức với món thịt hộp lạ mắt, tôi nếm thử nhưng thấy…không dễ ăn chút nào. Nhưng theo Phương, đó là món ăn thường xuyên của anh em trên đảo. Chuyện riêng của Phương cũng cảm động. Trước khi cưới, Phương và cô giáo Nguyễn Thị Hà (khi ấy là giáo viên dạy văn ở Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Xuân Trường) yêu nhau đã lâu. Nhưng phải sau hai lần lỡ hẹn đám cưới mới được tổ chức. Lần thứ nhất chuẩn bị cưới thì bà của Hà mất, lần thứ hai sắp cưới thì Phương nhận được quyết định ra Trường Sa. Tết năm ấy Phương được về nghỉ phép, đôi trẻ và hai bên gia đình rất mừng, quyết tâm tranh thủ thời gian để…cưới bằng được. Sáng 28 Tết, Phương vừa về đến quê thì Hà đã đợi sẵn, đôi trẻ tranh thủ từng phút để vừa ra xã đăng ký kết hôn, vừa đi chụp ảnh cưới vừa đi mời họ hàng, bạn bè. Mồng 6 Tết lễ cưới được tổ chức. Để rồi, cưới xong ít ngày Phương lại tất tả ra đảo và…biền biệt cho đến khi gặp người đồng hương Nam Định là tôi ở ngoài đảo.

May mắn hơn Phương, trước khi ra công tác tại đảo Sinh Tồn, Thiếu úy Trần Văn Chương (quê làng Nho Lâm, xã Bình Minh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) đã kịp cùng vợ đón cậu con trai chào đời. Nhưng cũng giống Phương, quấn quýt bên vợ con được ít ngày Chương lại phải trở ra đảo. Gặp nhau trên đảo, Chương chìa cho tôi xem chiếc điện thoại, “ở trong ấy” có hình thằng cu Quân, khi ấy đã được hơn một tuổi đang nhảy tưng tưng trên giường. Chương bảo, để đỡ nhớ con, Chương “quy định” với vợ, hàng tháng phải gửi một tấm hình của con để thỉnh thoảng mở ra xem.

Đến các đảo nổi ở Trường Sa chúng tôi rất xúc động mỗi khi đứng trước những nghĩa trang Liệt sỹ trên đảo. Nhìn bia mộ thấy nhiều người lính hy sinh khi còn rất trẻ. Hôm đến đảo Trường Sa Lớn, thăm nghĩa trang Liệt sỹ trên đảo tôi lặng đi khi nhìn thấy tấm bia khắc dòng chữ: Liệt sỹ Hoàng Văn Nghĩa, sinh ngày 3/7/1986, hy sinh ngày 29/3/2010. Bia mộ ghi quê em ở xã Nam Toàn, huyện Nam Trực, cách quê tôi chỉ vài cây số. Nghĩa hy sinh khi còn rất trẻ, khi mới 24 tuổi…

Do có nhiều công trình quốc phòng, xã hội, dân sinh, văn hóa, tâm linh được xây dựng nên thời điểm đó, ngoài quân và dân làm nhiệm vụ, sinh sống, ở các đảo ngoài Trường Sa còn có rất nhiều lao động từ đất liền ra xây dựng các công trình. Nhớ khi ấy, tìm đến công trường xây dựng Nhà văn hoá trung tâm trên đảo Nam Yết, trong phút chốc tôi được gặp và được ngồi lọt thỏm giữa hàng chục công nhân là đồng hương Nam Định. Chuyện quê, chuyện đảo rất vui! Hỏi chuyện mới biết anh em quê ở nhiều xã, huyện khác nhau trong tỉnh nhưng đông nhất là người làng Bỉnh Di, xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy. Trong đó, bác thợ cả Đỗ Ngọc Quyển da đen, vạm vỡ, rắn chắc “khoe” khi ấy đã 55 tuổi và đã có tới 19 năm làm thợ xây trên các đảo ở Trường Sa. Đảo nào là đảo nổi, đảo nào là đảo chìm, diện tích rộng bao nhiêu, có loại cây, cá gì đặc biệt… bác kể vanh vách.

Bác Quyền tâm sự, xa nhà, ở giữa biển khơi, thiếu thốn tình cảm nên anh em công nhân luôn thương yêu, giúp đỡ nhau hoàn thành tốt công việc. Trong câu chuyện, họ kể nhiều và rất tự hào về Thiếu tướng Hoàng Kiền, người làng Bỉnh Di quê mình. Ông nguyên là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 83 công binh Hải quân, từng trực tiếp chỉ huy xây dựng nhiều công trình quốc phòng trên các đảo ở Trường Sa. Từ hàng chục năm trước, theo Thiếu tướng Hoàng Kiền nhiều trai làng Bỉnh Di đã vượt sóng ra Trường Sa làm việc tại các công trình xây dựng. Nhiều công trình quốc phòng, dân sinh đang hiện hữu ở Trường Sa hôm nay có bàn tay của những người thợ Bỉnh Di góp phần làm nên. Hỏi chuyện quê nhà, bác Quyển bảo ở đảo quanh năm, chẳng được gần vợ gần con. Ngoài tiền lương hằng tháng, cứ đến ngày mùa lại xin công ty cho tạm ứng trước tiền lương rồi lại nhờ luôn công ty gửi về cho bác gái ở quê nhà lo chuyện giống vốn. Bác bảo, ở giữa trùng khơi, chỉ có sóng và gió này, tiền có dùng được vào việc gì đâu. 

TRẦN DUY HƯNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *