Từ sách đến kịch và phim

Vanvn- Nhiều văn bản kịch, khi được dựng trên các sân khấu khác nhau, hoặc chuyển thành phim, thì mỗi kịch mỗi phim lại là một cách xử lý văn bản khác nhau.

Khác nhau, nhưng nếu vào tay đạo diễn tài năng thì những sáng tạo mới đều đem lại nhiều điều thú vị. Trước hết, đơn cử vở kịch Vania của nhà hát Tuổi Trẻ, đạo diễn người Nhật Tsuyoshi Sugiyama. Trong vở này có diễn viên Nhật đóng vai cô giúp việc và Sonia, khi họ nói tiếng Nhật thì có phụ đề tiếng Việt.

Trước khi xem có hơi ngần ngại, trước hết là bởi vì kịch Chekhov đã trở nên nhạt đối với người xem ngày nay. Cũng ngần ngại vì tưởng là ê kíp toàn diễn viên trẻ, tức là những người không biết diễn kịch kinh điển. Nhưng ê kíp này không hẳn là trẻ, mà là lứa kế cận, ngay sau lứa Lê Khanh, Chí Trung. Chỉ có một cô trẻ đóng vai người vợ hai, và thực sự là cô không diễn được kinh điển, đài từ yếu và mỏng,  cùng lối diễn của kịch sinh hoạt trong nhà ngoài phố.

Nghệ sĩ Thanh Bình đóng vai bác sĩ gây được ấn tượng tốt. Trước đến giờ diễn viên này thường đóng vai phụ và có nhiều vai phụ rất khá. Lần này được một vai chính và hóa thân đến mức khó nhận ra.

Xem kịch, đồng thời đọc lại Cậu Vania, Lê Phát và Nhị Ca dịch, NXB Sân Khấu 2006. Trong bản này, Vania là em của bà vợ cả đã mất, vì vậy gọi là cậu. Còn trong vở diễn của nhà hát Tuổi Trẻ, cậu đã được sửa lại thành bác, vì Vania được coi là “anh” của bà cả. Trong kịch không có chỗ nào nói đến tuổi của bà cả, chỉ nói Vania bốn mươi bảy tuổi, cho nên chưa phân định được Vania là anh hay là em.

Đạo diễn có cách xử lý sân khấu gây ấn tượng và những trò diễn mà kịch bản không có: bộ bàn ghế cao quá tầm của các nhân vật, vừa là bàn ghế vừa như một căn nhà. Đạo diễn còn dùng máy chiếu phóng to hình bà hai và bác sĩ lên phông lớn. Đổ một lớp cát lên sàn diễn, tạo ấn tượng cơ ngơi của giáo sư như lâu đài trên cát. Tất cả các nhân vật tỉnh lẻ, người sang kẻ hèn, cuối cùng đều lăn lê nhem nhuốc trong đất cát. Cảnh cuối, Sonia – biểu tượng của sự trong trắng giữa đám người nọ – phải đi vực từng người dậy, nhưng dựng được người này dậy thì người kia lại đổ gục xuống đất cát bùn lầy.

***

Trong dòng đối chiếu văn bản kịch với sân khấu và phim, tôi đọc lại Cô gái không của hồi môn, kịch của Ostrovsky, sau khi xem lại phim Bản tình ca nghiệt ngã, đạo diễn Eldar Ryazanov chuyển thể từ vở kịch. Câu chuyện tương đối đơn giản, viết theo lối kịch cổ điển cân xứng đầu cuối. Chuyện kể về giới nhà giàu mới phất và những công chức nhỏ.

Phim đã tình huống hóa những chi tiết tưởng như nhỏ trong kịch. Ví dụ, tay kế toán tự xưng là chủ ngân hàng, ăn cắp tiền của nhà băng, bị bắt ngay khi đang dự tiệc ở nhà Larisa. Hoặc Paratov phô trương tài bắn súng bằng cách bắn chiếc cốc thủy tinh trên đầu một người đàn ông, và nhằm bắn chiếc đồng hồ quả quít trong tay Larisa. Hoặc Paratov phô trương sức mạnh cơ bắp bằng cách lội ra chỗ mưa, nâng cỗ xe đang chở bà mẹ của Larisa qua chỗ bùn lầy, rồi dọa vị hôn phu của cô bằng cách đập nát một quả táo trên lan can… Chi tiết mấu chốt, người chồng mới đính hôn của Larisa mang theo khẩu súng ngắn rồi bắn cô ta, không phải ở trong nhà, mà được đổi thành anh ta chèo một chiếc thuyền đuổi theo con tàu khi nó đỗ lại giữa dòng. Anh ta trèo lên tàu và bắn. Larisa trúng đạn, theo đà lao vào tấm cửa kính lớn, và cứ thế loạng choạng lướt bên ngoài tấm kính, trượt qua từng bộ mặt đàn ông ở bên trong.

***

Một tác phẩm kinh điển nữa là tiểu thuyết Người thứ 41 của Boris Lavrenyov. Tiểu thuyết này suốt một thế kỷ qua đã được rất nhiều thế hệ người đọc say mê và bâng khuâng tiếc nuối với cái kết. Ở Việt Nam ít nhất đã có hai bản dịch, bản dịch của Phạm Hồng Chi dịch êm hơn bản của Vũ Lê, NXB Văn Học 1998. Ngay từ đầu, bản dịch của Vũ Lê gọi toạc nhân vật chính, một trí thức phải đóng lon thượng úy bạch vệ là “tên”, “hắn”, cho nên làm lộ ý đồ một cách thô vụng. Tuy nhiên văn phong tiếng Việt của cả hai bản đều còn trúc trắc và ít chất văn chương.

Phim làm năm 1956 và đoạt giải đặc biệt của ban giám khảo (giải ba) ở Liên hoan phim quốc tế Cannes năm 1957. Cốt truyện độc đáo và rất hợp lý của truyện là nền tảng tốt cho bộ phim, được dựng hầu như bám sát truyện. Cái kết đẹp, nhưng đạo diễn Yuri Chukhrai hơi vội cho nên không dùng một cận cảnh gương mặt nhân vật nữ lắng lại một chút để biểu hiện cảm xúc có chiều sâu hơn.

Gợi suy nghĩ là đoạn đối thoại sau: viên thượng úy vốn là một cựu sinh viên văn chương phải đi lính bạch vệ, trong khi cô gái hồng quân xuất thân nông dân nghèo quyết tâm đi theo cách mạng vô sản. Hoàn cảnh xô đẩy khiến chỉ có hai người trên một hòn đảo hoang vắng, và tất yếu dẫn đến yêu nhau. Nhưng sự khác biệt về xuất thân và kiến thức cũng có lúc dẫn đến xung đột. Một lần như vậy, viên thượng úy đã nói với cô gái nông dân: “Nếu như bây giờ chúng tôi ngồi đọc sách, còn để cho các người toàn quyền sử dụng đất đai, thì trên mảnh đất ấy các người làm bậy làm bạ đến nỗi năm thế hệ sau còn phải khóc than thảm thiết” (trang 108).

Người thứ 41 được viết vào năm 1924, chỉ mới bảy năm sau cách mạng tháng 10.1917 và tác giả là nhà văn hồng quân. Ngay từ hồi ấy, nhiều trí thức hồng quân đã nhìn rõ phần khuất sáng của số phận quần chúng cách mạng, đặc biệt là trí thức.

Những văn bản kịch và tác phẩm văn xuôi, khi được dàn dựng trên sân khấu và chuyển thành phim thường ghi rõ dấu ấn mới của đạo diễn. Càng tài năng thì phần sáng tạo của họ càng thu hút được công chúng và phát huy xa rộng hơn văn bản ban đầu.

HỒ ANH THÁI

* Cậu Vania, kịch của Anton Chekhov, Lê Phát và Nhị Ca dịch, NXB Sân khấu 2006.

* Cô gái không của hồi môn, kịch của Alexander Ostrovsky, Đỗ Lai Thúy dịch, NXB Sân khấu 2006.

* Người thứ 41, tiểu thuyết của Boris Lavrenyov, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh 2001.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *