Từ “Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương” hé lộ tầm văn hóa vượt qua thời đại của một nữ sỹ người Nghệ An

Vanvn- Xuân Hương là một kỳ nữ: Xuân Hương không như Đoàn Thị Điểm nặng về tao nhã; không như Ngọc Hân công chúa nặng về tha thiết khóc than; không như bà huyện Thanh Quan làm thơ như có hầu đi theo sau: Xuân Hương là trong thơ có người và trong thơ có quỷ.

“Bà chúa thơ Nôm” trong tranh vẽ xưa. Ảnh: TL.

Việc nghiên cứu về cuộc đời và văn chương của Hồ Xuân Hương ở nước ta và của một số học giả nước ngoài đã được tiến hành khá sớm. Trong các công trình nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương chúng ta cần kể đến cuốn Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của nhóm 3 tác giả GS. Lê Trí Viễn – Lê Văn Lít – Nguyễn Đức Quyền biên soạn được Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2002. Cuốn sách đã tập hợp bài viết của các tác giả GS. Lê Trí Viễn, Xuân Diệu, Lê Hoài Nam, Nguyễn Nghiệp và Trương Quang Mến, Nguyễn Lộc.

Trong Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương(*) các bài viết: Đôi điều về thơ Hồ Xuân Hương, Xuân Hương và dân tộc, Giáo sư Lê Trí Viễn cho chúng ta thấy rõ một số nội dung sau:

Đến năm 2002, việc nghiên cứu về Hồ Xuân Hương còn gặp một số khó khăn. Mặc dù vậy, trong chương trình học không thể vắng mặt con người tài danh này. Bởi Xuân Hương không chỉ là một thi tài mà còn là niềm tự hào không nhỏ đối với dân tộc. Tiếng tăm tài thơ kỳ xuất của Xuân Hương đã vang tận nhiều nơi trên thế giới. Các thế hệ trẻ không thể không học thơ nữ sỹ để rồi tiến lên cùng cha anh, tiếp nối cùng cha anh tìm tòi nghiên cứu làm sáng tỏ bao vấn đề còn để trống. Từ trường phổ thông đến đại học (ngành văn khoa sư phạm) đều có dạy và học thơ Hồ Xuân Hương.

Một vấn đề khác đặt ra Xuân Hương, tác giả Lưu Hương Ký có phải là chủ nhân các bài thơ Nôm truyền tụng lâu nay không? Phong cách trong hai mảng thơ có chỗ khác nhau.

Chưa được công bố trên báo chí nhưng một số tư liệu khác đem lại chút ánh sáng cho vấn đề này. Quốc sử biên của Phan Thúc Trực viết vào những năm 1848-1850, ở cột Gia Long thứ 17 (1818) có hai chi tiết rất quý:

Tham hiệp An Quảng là Trần Phúc Hiển bị kết án một năm và bắt giam.

Vợ thiếp là Hồ Xuân Hương có tài văn thơ và hiểu biết việc quan. Được tham gia chính sự. Đại Nam thực lục cho biết Trần Phúc Hiển là con Trần Phúc Nhàn công thần của Gia Long. Hiển từng giữ chức tham thư ở triều ra làm tri phủ Tam Đái (đến đời Minh Mạng phủ này đổi tên là phủ Vĩnh Tường) rồi thăng tham hiệp An Quảng và bị Gia Long bác án một năm của Tổng trấn Bắc Thành, khép vào tội tử hình (1819). Chi tiết trên đây về Hồ Xuân Hương cho phép nghĩ tới những giai thoại Văn đàn bảo giám kể về việc Xuân Hương phê vào đơn của Nguyễn Thị Đào, hoặc của lý trưởng lúc chồng làm tri phủ Vĩnh Tường và cứ phong cách nôm na, đùa cợt mà tài tình trong đó thì các lời phê bằng thơ lấy từ tay vợ thiếp của quan phủ vừa hay thơ vừa hay việc quan kia có khả năng là dấu nối giữa Lưu hương ký và thơ Nôm được truyền tụng, giữa Xuân Hương tác giả Lưu hương ký và Xuân Hương chủ nhân thơ Nôm thường quen biết.

Gia đình một thời sống ở Thăng Long, lúc ở phường Khán Xuân, lúc ở thôn Tiền Thị và đến tuổi trưởng thành Xuân Hương lại dựng một ngôi nhà gần Hồ Tây đặt tên là Cổ Nguyệt Đường – bạn bè văn chương lui tới nhiều là ở ngôi nhà ấy. Xuân Hương theo nề nếp gia đình có được đi học nhưng không nhiều. Cứ thơ ca thù ứng với bạn bè, cả Nôm lẫn Hán, không kể tài thơ, về kiến thức cũng làm các bậc mày râu kính nể. Nhiều bạn bè được Xuân Hương tặng thơ và cùng xướng họa đều là tri thức quan lại. Chưa kể đến Chiêu Hổ không chắc không phải là Phạm Đình Hổ, Lưu hương ký cho thấy thêm khá nhiều văn nhân nổi tiếng thời đó đã lui tới gặp gỡ, mạn đàm văn chương với Hồ Xuân Hương trong đó có Nguyễn Du. Xuân Hương thuộc tầng lớp trung lưu hạng thấp và có mấp mem dân nghèo thành thị, lăn lộn với nhân dân lao động. Đường chồng con nhiều long đong…

Đến khi miêu tả thiên nhiên cách nhìn của Hồ Xuân Hương cũng thật lạ kỳ… Nó như có ma lực làm cho mọi vật sống lên sôi động.

“Một đèo, một đèo, lại một đèo

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,

Hòn đá xanh rì lún phún rêu

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

Hiền nhân quân tử ai là chẳng?

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”

(Đèo Ba Dội)

Người ta có lúc cho Xuân Hương thiên về một thứ cảm xúc là cảm xúc về giới tính.

Tác phẩm Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của các tác giả GS Lê Trí Viễn – Lê Văn Lít – Nguyễn Đức Quyền ấn hành từ năm 2002

Cái vui như vậy làm chứng cho sự thiết tha ấy. Nhưng trái lại cái buồn cũng chẳng phải vô nghĩa. Cái buồn đánh bóng cho cái vui nổi lên. Xuân Hương không chỉ có tiếng cười, giọng đùa vui. Còn có điệu buồn len vào đó. Đời chung đời riêng buổi ấy dễ mấy dịp vui. Vui là tự mình dạy mình buồn là có thật. Chùm thơ tự tình thì quá rõ. Ba bài là ba bực của lòng buồn. Từ chỗ nỗi buồn còn bật lên thành tiếng dù chỉ là tiếng khô khốc như tiếng mõ bay tối đen như giọng chuông sầu đến chỗ con người trơ ra như gỗ đất thậm chí chẳng bằng cái rêu hòn đá, thao thức với canh dài, cuối cùng đến buông xuôi bồng bềnh như chiếc bách giữa dòng nản buồn tột độ. Vẫn có sự gượng dậy, thách thức chẳng chịu thua nhưng quả thật là tội nghiệp. Tội nghiệp cho con người cho sự sống cho một tấm lòng thiết tha vô hạn với sự sống mà phần cuộc đời cụ thể dành cho lại chỉ toàn thương đau.

Nhiều kẻ chết, nhiều kiểu chết nhưng Xuân Hương chỉ quan tâm tới mỗi nỗi chết chồng… Tiếc thương cho người mất nhưng cũng tiếc thương cho sự lạnh lẽo buồn tủi của cuộc sống của người còn.

Chẳng thấy tín điều nào, giáo lý nào của Phật được đem ra chỉ trích. Xuân Hương cần gì giáo lý với tín điều. Xuân Hương chống ngay trên nguyên tắc phản tự nhiên trái sự sống tự nhiên của nhà Phật:

“Chẳng phải Ngô chẳng phải ta

Đầu thì trọc lóc áo không tà

Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm

Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà

Khi cảnh, khi tu, khi chũm chọe

Giọng hì, giọng hí, giọng hi ha

Từ lâu có lẽ lên sư cụ

Ngất nghiễu tòa sen nọ đó mà”

(Sư hổ mang)

Ở bình diện sự nam và nữ là không phân chia hoàn toàn ngang nhau. Chỉ vì xã hội chia trên dưới đẳng cấp, kẻ thống trị, người bị trị nên xẩy ra thời phong kiến ở phương Đông Nho giáo, người phụ nữ phải sống dưới quyền của đàn ông. Đàn ông luôn luôn được coi như trưởng thành, “Phụ nữ là không thể dạy được”.

Đặc sắc lạ lùng nhất là lời bênh vực cho người con giá “dở dang”, trạng sư ở (Hồ Xuân Hương), đây quả là cao tay… Cái nhìn đó, thái độ đó, tư tưởng đó do đâu mà ra?

Yếu tố cuối cùng phải là tính cách của con người.

Còn thiếu nhiều điền đề để hiểu thật kỹ ở chỗ này. Mới tạm thấy đây là con người có học, chắc là thông minh, có tài thơ văn, đời sống ngả nghiêng giữa dân nghèo lao động thành thị và tầng lớp trung lưu bậc thấp, giao du rộng, bạn nam nhiều, chồng con không ra gì và chẳng biết thời gian nào lại đi đây đó khắp nơi. Mấy nét đời tư ấy cộng với thơ văn cho thấy đây là một bản lĩnh cứng cáp, dám khẳng định mình giữa đám đông đảo trí thức quan lại (Lưu hương ký có câu họa quan tỉnh họ Trần là: “Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng, Ngã bối tài tình chính sở chung”, dịch: Thanh khí bọn ta lời cảm trọn. Tài danh đất Nghệ khí linh thiêng. Trong đó Xuân Hương đặt mình ngang với vị quan nọ và coi mình là bậc tài tử. Riêng điều đó là một nét hiếm thấy thời xưa nhưng lại xuất hiện không ít như là dấu hiệu của thời đại anh hùng này. Con người có bản lĩnh cứng cáp ấy lại là con người sôi trào sức sống và yêu đến say mê cuộc sống, coi cuộc sống như một niềm vui lớn, trong đó con người khẳng định mình ngay ở lĩnh vực tình yêu, ở cả sự sống tại dạng gốc nguồn của nó.

Những nội dung mới thực sự nêu cao tính dân tộc của thơ Xuân Hương.

Những yếu tố dân chủ và xã hội chủ nghĩa trong người lao động… tồn tại của dân chủ thị tộc trong khuôn khổ làng xã ý thức tự do nơi tầng lớp thị dân đặc biệt là truyền thống nhân đạo lâu đời của dân tộc, chưa nói những kích thích ban đầu từ phương Tây tư bản đến những đóng góp nào đó của các hệ tư tưởng ngoại lai từ xưa.

Xuân Hương học thông chữ Hán mà trong thơ chỉ toàn dùng tiếng Việt.

Đề tài cũng thật xa tính chất phong kiến: Nói thẳng thắn trong vấn đề đề tài, thơ Xuân Hương còn dứt khoát trong vấn đề diễn đạt. Nhà văn sỹ phu luẩn quẩn với trăm ngàn thứ hình ảnh cũ rích của Trung Quốc, lao tâm khổ tứ mới thuần hóa được chúng, mà nhiều khi không thành công. Xuân Hương thì thái độ triệt để, bà không bao giờ mượn một hình ảnh sáo cũ, một điển tích xưa của văn chương ngoại lai. Bà đi sát với thực tại, thấu hiểu ý tình rào rạt của sự vật nên phát huy được những rung động cực kỳ tinh tế và diễn đạt bằng những hình ảnh độc đáo, bất ngờ, một sự vật tầm thường đến đâu cũng gây được cảm xúc, vì nó là bộ phận, là yếu tố của cuộc sống con người.

Đến thể thơ thì có khác. Nhân dân dùng lục bát, bà dùng Đường luật. Sự sai khác có thật gay gắt không? Xuân Hương dù sao có một người cha môn đồ của Khổng Mạnh, cũng chịu ít nhiều sự đào luyện của cái sự học phong kiến, nghề làm thơ được học từ nhỏ theo cung cách văn chương cử tử thể tất không thể không thành thói quen. Có thể vì thế mà Xuân Hương dùng Đường luật chăng? Đường luật là một sản phẩm quý tộc hóa ở nước ta. Thi cử nâng nó lên vị trí quyền thế của một quy tắc có pháp luật trường thi bảo đảm. Nó phải thanh tân cao nhã lại phải trịnh trọng nghiêm trang. Nó phải mang trong nội dung châu ngọc của văn chương hay khuôn phép đạo lý. Nó phải là lợi khí ở trong tay phép tắc, khuôn mực, nó ra vào cửa quyền quý hay ít ra cũng là cửa môn đồ Khổng Mạnh. Xuân Hương làm ngược lại tất cả. Bà đường hoàng hạ giá thể thơ cao quý ấy lôi nó ra khỏi vị trí trang trọng, bắt nó mang một nội dung vô cùng nhân dân, tầm thường và có khi thô lậu nữa. Bà đã dân chúng hóa trên một quy mô sâu rộng, dưới ngòi bút bản lĩnh và vạn năng của bà. Đường luật mất hẳn cốt cách quý tộc mà ngoan ngoãn cung hiến vần điệu cân xứng của mình cho bà sử dụng theo ý muốn độc đáo của bà.

Đứng về phương diện biến thể thơ, tìm khuôn khổ cho phô diễn tình cảm và tư tưởng dân tộc, có thể xem cái gia tài thuộc hóa thơ Đường của Xuân Hương gần có giá trị ngang công trình hoàn thiện song thất lục bát của một Đoàn Thị Điểm hay của một Nguyễn Gia Thiều. Dùng Đường luật mà vẫn khớp với tinh thần dân tộc phải vì biết lấy nội dung mà biến cải hình thức ấy.

1. Lê Trí Viễn còn đưa thêm luận điểm này sau khi nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương: Xuân Hương thi sỹ của cảm giác.

Xuân Hương có một ngôn ngữ rất Việt Nam điều đấy đã hẳn. Cần phải nói thêm ngôn ngữ ấy rất Xuân Hương. Nó gồm một số từ xưa bây giờ không dùng nữa hoặc khác nghĩa đi:

“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bon/Thân này đâu đã chịu già bom”

Nó biến hóa để phổ vào câu thơ những tục ngữ thành ngữ, ca dao:

Năm thì mười họa chăng hay chớ.

(Lấy chồng chung)

Không có nhưng mà có mới ngoan.

(Dở dang)

Nó không tránh những từ thô tục hoặc nói lái thành thô tục, những tiếng chửi rủa:

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo/Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo.

(Chùa Quán Sứ)

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

(Lấy chồng chung)

Rúc rích thây cha con chuột nhắt/Vo ve mặc kệ cái ong bầu.

(Quan thị)

Đặc biệt nhất là những điệp từ, từ láy. Có loại thông thường: lún phún, lắt lẻo, dầm dìa; có loại lạ lùng: mõm mòm, hòm hom, toen hoẻn, dở dom… Từ láy là một đặc điểm của tiếng Việt. Xuân Hương khai thác để nó trở thành đặc điểm của riêng mình làm cho thơ có dáng dấp tài tình, tinh nghịch và độc đáo. Lời thơ của Xuân Hương nói chung rất tươi trẻ, giản dị và hồn nhiên. Nó dùng toàn tiếng nói thông thường nhưng biết lựa chọn cho xứng chữ, xứng lời nên có được cái trong sáng của tiếng nói nhân dân, cái hương vị tươi ngon của mớ rau vườn mới hái. Trần Tế Xương sau này cũng hưởng được cái hồn nhiên ấy nhưng không sao có được cái tài tình tươi trẻ của Xuân Hương.

Sử dụng ngôn ngữ phong phú như thế để lột tả ý tứ, Xuân Hương đã thực hiện một văn phong thực sự sắc sảo. Phạm vi tác phẩm hẹp, đối tượng của sáng tác dễ gay cấn, Xuân Hương vẫn tìm được sự phóng túng cho ngòi bút bằng cách vạch cho mình một cách thức miêu tả riêng biệt. Bất kỳ tả cảnh, tả vật hay tả tình bà cũng dùng thuần cảm giác.

Thiên nhiên trong thơ bà có những cảnh không thiếu cao rộng… Bà cố thu hẹp thành những cảnh con con, ngoan ngoãn có thể nằm gọn trong lòng bàn tay của mình để bắt nó nói giùm riêng cho mình một lối riêng, để bắt nó phục vụ mình. Bà tả cảnh không chỉ vì cảnh mà còn vì mình.

Hơn nữa, Xuân Hương còn biến các vật thành người để vật cùng mình trộn lẫn hòa tan trong thế giới cảm xúc. Dường như tới độ đó mới đúng cỡ, mới là Xuân Hương. Quả mít, con ốc, bánh trôi… là quả mít, con ốc, cái bánh đấy nhưng cũng là thân phận Xuân Hương, thân phận phụ nữ. Nói cho mình nhưng cũng chính là nói cho chị em. Mà nói sao cho hết cái phũ phàng của xã hội phong kiến mục ruỗng…

Xuân Hương quả có biệt tài trong những trường hợp cần đến sự lộn sòng như thế. Xuân Hương sẽ thành công cách khác trong những trường hợp tả cảnh trực tiếp, cũng thường là gửi tình vào cảnh làm câu kết cho bài tả cảnh:

Đá kia còn biết xuân già dặn/Chẳng trách người ta lúc trẻ trung.

(Đá Ông Chồng, Bà Chồng)

Đó là cảm tưởng so sánh trước cảnh Đá Ông Chồng, Bà Chồng.

Cũng tại tập Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, bạn đọc một lần nữa được gặp lại thông điệp cao đẹp mà nhà thơ Xuân Diệu – ông hoàng của thơ tình Việt Nam – trong bài viết về Hồ Xuân Hương đã ngợi ca Hồ Xuân Hương là Thiên tài kỳ nữ. Xuân Diệu nhấn mạnh: Hồ Xuân Hương là một nhà thơ vào hạng có tài nhất trong văn học Việt Nam ta. Thơ Hồ Xuân Hương rất hay. Thơ Hồ Xuân Hương rất sống. Chính cái “rất sống” đó làm cho thơ Hồ Xuân Hương ở mãi trong lòng nhân dân.

Hãy thử xem một bức tranh “Ngủ quên” của nữ thi sỹ. Không phải chỉ là bức tranh hai bề trên mặt giấy mà là một bức tranh điêu khắc có đường nét, có khối:“Mùa hè hây hẩy gió nồm đông/Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng/Lược trúc chải dài trên mái tóc/Yếm đào trễ xuống dưới nương lưng/Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm/Một lạch Đào nguyên suối chửa thông/Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt/Đi thì cũng dở, ở không xong”.

Xuân Hương là một kỳ nữ: Xuân Hương không như Đoàn Thị Điểm nặng về tao nhã; không như Ngọc Hân công chúa nặng về tha thiết khóc than; không như bà huyện Thanh Quan làm thơ như có hầu đi theo sau: Xuân Hương là trong thơ có người và trong thơ có quỷ.

Khi nhà nghiên cứu Văn Tân liệt bài Ông Chồng, Bà Chồng chẳng hạn vào loại “Thơ văn dâm và tục”, Xuân Diệu đặt vấn đề: Nhưng ta xét lại cái tội của nó có to lắm không?

Nhìn chung, Xuân Hương đối với cảnh vật đất nước là rất đậm đà, thắm thiết. Cái thắm thiết ấy có khi vượt quá xa cái mức thường tình. Xuân Hương là một nghệ sỹ lớn, biết phun tâm hồn mình vào cảnh vật làm cho cảnh vật sống lên ngồn ngộn. Đọc thơ Hồ Xuân Hương nếu ta cứ bắt bẻ một cách tầm thường, tẹp nhẹp thì ta không sao hiểu được sức sống mạnh lớn. Sức sống đó như trong bài vịnh Ông Chồng, Bà Chồng nhân một cảnh đá mọc và nhân dân đặt tên, Xuân Hương như một nhà điêu khắc tạc cho đá sống và yêu, chính Xuân Hương là bà tạo hóa: Khéo khéo bày trò tạo hóa công/Ông Chồng đã vậy, lại Bà Chồng/Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc/Thớt dưới sương pha đượm má hồng

Gan nghĩa giải ra cùng nhật nguyệt/Khối tình cọ mãi với non sông/Đá kia còn biết xuân già dặn/Chả trách người ta lúc trẻ trung.

Qua một số bài thơ, đoạn thơ của Hồ Xuân Hương dùng nhiều đến giác quan, chúng ta còn thấy cái khía cạnh: Con người đòi giải phóng, đòi phát triển.

Và chúng ta phải đặt mình vào hoàn cảnh những thế kỷ trước kia của nhân loại để tìm hiểu những tác phẩm của quá khứ. Có thể trong khi Vịnh bức tranh Tố nữ: Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình/Chị cũng xinh mà em cũng xinh/Đôi lứa in như tờ giấy trắng/Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh/Xiếu mai chị dám tình trăng gió/Hồ liễu thôi đành phận mỏng manh.

Mà Hồ Xuân Hương kết ngay bằng hai câu 7 và 8: Còn thú vui kia sao chẳng vẽ/Trách người thợ vẽ khéo vô tình.

Sau khi ca ngợi Hồ Xuân Hương là bậc kỳ tài, nhà thơ Xuân Diệu lại đưa tiếp thông điệp ở mức cao hơn: Hồ Xuân Hương là Nhà thơ dòng Việt, bà chúa thơ Nôm.

Sau đây là một số luận cứ trong nhiều luận cứ mà Xuân Diệu cho rằng Hồ Xuân Hương là nhà thơ dòng Việt, bà Chúa thơ Nôm:

Nhìn chung trong thơ cổ điển của ta, bao gồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên, nếu xét về khía cạnh có tính cách dân tộc hơn cả có lẽ là thơ Hồ Xuân Hương “thì treo giải nhất chị nhường cho ai”.

Thơ Hồ Xuân Hương Việt Nam hơn cả, vì đã thống nhất tới cao độ hai tính cách dân tộc và đại chúng. Xuân Hương cũng là một “nhà nho” chẳng kém ai, cũng giỏi chữ Hán, khi cần cũng ra được câu đối “Mặc áo giáp cài chữ đinh”, cũng giỏi chiết tự “Duyên thuyên đầu dọc phận liễu nét ngang” nhưng Xuân Hương không chịu khoe chữ.

Nội dung thơ Xuân Hương toát ra từ đời sống bình dân hàng ngày và trên đất nước nhà.

Hồ Xuân Hương là nhà thơ dòng Việt, là bà chúa thơ Nôm. Chúa đây là một cách nói như hoa Hồng là chúa các loài hoa chứ không phải ông hoàng bà chúa. Thơ Xuân Hương đã làm cho chữ “nôm na” không đồng nghĩa với mách qué nữa mà nôm na đồng nghĩa với thuần túy, trong trẻo tuyệt vời… Bà chúa thơ Nôm là chúa cả nội dung và hình thức. Xuân Hương đã sáng tạo được một chất thơ man mác, nên thơ… Vừa đặt bút xuống những nét tưởng như nặng nề: Hành sơn mực điểm đôi hàng nhạn/Thừa lĩnh đen trùm một thức mây.

Xuân Hương tiếp theo đã cho một ánh sáng của trăng từ phía dưới trời dọi lên và thả bay vèo những chiếc lá bát ngát nhẹ nhàng, thật là một bút pháp kỳ lạ:

Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch/Phất phơ sườn núi lá thu bay.

Dùng chữ Việt Nam, phải nhận Hồ Xuân Hương là thánh. Khi chế diễu mấy anh học trò dốt:

Ong non ngứa nọc châm hoa rữa/Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.

Xuân Hương là cái gương mẫu hoàn toàn nhất về việc dân tộc hóa và đại chúng hóa những điệu thơ vay mượn ở nước ngoài. Thể thơ thất ngôn Đường luật vốn là của Trung Quốc không thoát thai từ ca dao như lục bát; đó là một thể thơ khó làm, dễ cứng nhắc, lời dễ đứng thành ra kênh kiệu, công thức hoặc có đạt đến mức hay cũng thường mang dáng điệu Nho sĩ, cao sang. Xuân Hương chỉ chuyên dùng thể thất ngôn Đường luật thế mà không một chút nào ta nghĩ rằng đó là điệu thơ nhập ngoại. Xuân Hương cứ nôm na bình dân, tự nhiên, lời cứ trong veo không gợn, đọc cứ thoải mái, dễ thuộc, những câu đối nhau thì cân chỉnh già dặn đến ai cũng phải sợ, mà vẫn như lời nói thường. Và nếu chỉ nói về tài dùng chữ, có lẽ ở nhiều trường hợp Nguyễn Du cũng phải nhường bước Xuân Hương. Chữ của Xuân Hương chọn tài tình đến nỗi chẳng còn thấy công phu gò gẫm gì cả, chọn trên cơ sở phổ cập, không trau chuốt chữ, thích dùng những vật liệu thông thường, nhưng vì đo đặt đúng chỗ ngăn ngắt nên hóa ra rất chọn lọc: Mỏng dày chừng ấy thành ba gó/Rộng hẹp giường nào cắm một cay.

Kể ngay trong văn học cổ điển Việt Nam nếu lấy 4 nhà thơ lớn thì đã có 2 nhà thơ là phụ nữ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm.

Cái tích cực lớn nhất, giá trị nhất của Hồ Xuân Hương là cái tính đả kích xã hội thối nát với tất cả uất giận của mình, bằng tất cả tài năng của mình.

Nói về vị thế của Hồ Xuân Hương trên văn đàn thế giới Xuân Diệu (tại thời điểm đó) còn chỉ rõ: Ở Liên Xô trước đây đã xuất bản 1 tập thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Nga. Bungari xuất bản 1 tuyển tập thơ Việt Nam trong đó đã có 16 bài của Xuân Hương được dịch.

Trong Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, các tác giả khác còn đưa ra những nhận định đáng chú ý sau đây về thơ Hồ Xuân Hương:

Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói mạnh mẽ “Đòi giải phóng về mặt bản năng” (Nguyễn Hiệp và Trương Quang Kiến).

Hồ Xuân Hương nhà thơ độc đáo vô song (Nguyễn Lộc).

Gác bỏ mọi thành kiến một bên… chúng ta sẽ bắt gặp một con người hết sức tha thiết với cuộc sống, đem hết tâm hồn ra gắn bó với cuộc sống, cuộc sống khỏe và mạnh. Một thứ chủ nghĩa yêu đời hồn nhiên và mộc mạc, đó mới là cái ý thức chủ đạo làm nên sinh khí, cái rạo rực, cái ý vị đậm đà của toàn bộ thơ Xuân Hương (Lê Hoài Nam).

Tác phẩm Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của các tác giả GS. Lê Trí Viễn – Lê Văn Lít – Nguyễn Đức Quyền ấn hành từ năm 2002 đã giúp cho chúng ta hôm nay có được cách nhìn tương đối đầy đủ về thơ Hồ Xuân Hương. Trên cơ sở đó chúng tôi cho rằng:

Vì Hồ Xuân Hương là người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Họ Hồ ở Quỳnh Lưu là một họ nổi tiếng, từng có nhiều người đỗ đạt cao và làm quan to. Xuân Hương theo nề nếp gia đình có đi học nhưng không nhiều. Cứ thơ ca thù ứng với bạn bè, cả Nôm lẫn Hán không kể tài thơ, về kiến thức cũng làm các bậc mày râu kính nể. Với những gì chúng ta biết được như trên về Hồ Xuân Hương qua ý kiến của các nhà nghiên cứu trong Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương chúng ta có thể khẳng định trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng, nữ giới không được tham gia thi cử. Tuy vậy, trên nền tảng văn hóa đã có do cha mình truyền dạy và với sự thông minh vốn có Hồ Xuân Hương đã tự nghiên cứu và học hỏi thêm qua các cuộc gặp gỡ giao lưu với các văn nhân để thành người có vốn hiểu biết sâu rộng về chữ nghĩa, về văn chương, về cuộc đời. Đó chính là việc làm vượt qua hoàn cảnh sống, vượt tầm thời đại của Hồ Xuân Hương mà chỉ có Hồ Xuân Hương làm được điều đó. Do vượt tầm thời đại khác xa những người phụ nữ và cả giới nho sỹ cùng thời để nhìn nhận sự vật, nhìn nhận cuộc đời cho nên đời sống tâm hồn, thế giới quan của Hồ Xuân Hương cũng khác hơn những người cùng thế hệ, bởi vậy Hồ Xuân Hương đã làm thơ được cả bằng chữ Nôm và chữ Hán nhưng với ý thức tự chủ và ý thức dân tộc cao nên Hồ Xuân Hương chú trọng hơn trong việc dùng chữ Nôm để làm thơ vì một chủ đích tiến bộ hơn. Thơ bà là tiếng nói ca ngợi vẻ đẹp trần thế của con người trong đó có vẻ đẹp tuyệt mỹ của phụ nữ. Thơ bà là tiếng nói mạnh mẽ đòi quyền bình đẳng. Trong gia tài thi ca của Hồ Xuân Hương cũng như trong thi đàn văn chương thời ấy, cách đây 200 năm dưới chế độ phong kiến chỉ có nhà thơ nữ Việt Nam Hồ Xuân Hương là người đầu tiên ở Việt Nam và trên thế giới lên tiếng đấu tranh mạnh mẽ cho nữ quyền qua tác phẩm thi ca.

Thơ bà có lối đi riêng về sử dụng ngôn ngữ, lựa chọn đề tài, lựa chọn cách biểu đạt. Bà là người đã thành công trong việc Việt hóa các thể thơ nước ngoài. Việt hóa thành công khi mà cả xã hội chạy theo lối viết tầm chương trích cú, thơ đầy điển tích buộc người đọc hết sức mệt mỏi khi thưởng ngoạn thơ ca. Nếu như ở những năm 2000, thơ bà chỉ mới có Liên Xô trước đây đã xuất bản 1 tập thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Nga, Bungari xuất bản 1 tuyển tập thơ Việt Nam trong đó đã có 16 bài của Xuân Hương được dịch, thì đến thời điểm này những kiệt tác của bà để lại không chỉ được tôn vinh trong nước mà có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới. Đến nay có 10 quốc gia dịch và giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương (Theo Báo Thể thao & Văn hóa, ngày 24.11.2021) và đặc biệt hơn năm 2021, Hồ Xuân Hương cùng Nguyễn Đình Chiểu là hai nhà thơ của Việt Nam được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa thế giới”. Hồ Xuân Hương và sự nghiệp thơ ca của bà vốn là niềm tự hào của người Việt Nam, là di sản của chúng ta đến hôm nay đã trở thành di sản văn học, trở thành một trong những giá trị văn hóa của toàn thế giới.

Vinh, tháng 4.2022

NGUYỄN ĐÌNH ANH

Tạp chí Văn Nghệ TP.HCM

____________________

(*) Sách do NXB Giáo dục ấn hành năm 2002.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.