Truyện ngắn Trần Hồng Giang: Ô sin làng & Trăng khuya

Vanvn- Tròn một năm sau đó, cũng ở trước cửa cái quán tre lá bán tạp hóa của bà Vân điếc, vẫn cái đám ô sin làng ấy đứng tụ tập buôn chuyện rôm rả. Nhưng đột nhiên tất cả im bặt khi thấy ông Liên ở phía xa xa đi tới. Trên tay ông Liên bế xốc bên hông một thằng cu con đang cười toe toét. Lẽo đẽo phía sau là Hà hấp đẩy xe lăn cho bà Hương chầm chậm cùng đi tới. Vừa nhác trông thấy bà Vân điếc từ xa, bà Hương lại kêu rú lên những tiếng ú ơ đầy phấn khích.

Nhà văn Trần Hồng Giang

Ô SIN LÀNG

 

Làng Lâm vốn nổi tiếng trong vùng về sự học hành đỗ đạt khoa cử. Vì thế người ta cứ lớn lên trưởng thành là lại thoát ly đi khỏi làng. Thành ra từ đầu làng đến cuối làng chỉ có độ dăm chục nóc nhà nhưng quá nửa trong số đó là những gia đình các cụ già neo đơn. Đa số mỗi nhà chỉ có hai ông bà già với nhau, hoặc chỉ còn cụ ông hay cụ bà, thậm chí có vài ba nhà còn đóng cửa để không, chả có ma nào ở, rêu cỏ mọc đầy sân. Con cái ở xa, lo bố mẹ ở nhà trái nắng trở trời, đêm hôm gió máy. Có người cố vật nài đưa bố mẹ ra phố ở với mình cho yên tâm, nhưng rồi cùng lắm các cụ cũng chỉ ở được dăm bữa nửa tháng rồi lại phá bĩnh hồi hương. Chả có ông bà già nào chịu được cái cảnh bị con cái nó đưa đi một chỗ lạ huơ lạ hoắc, không họ hàng thân thích, không bà con chòm xóm. Đã thế hầu như suốt ngày còn bị nhốt trong bốn bức tường ngột ngạt, bức bối. Vậy là thôi, chả ham hố thèm muốn gì cái sự thành phố, chúng ông lại về với vườn tược làng xóm cho nó lành.

Chuyện sẽ chẳng có gì nếu như trong làng không có cái chết thương tâm của bà cụ Tị. Hai ông bà cụ sống trong ngôi nhà hai tầng bề thế nhất nhì ở giữa làng Lâm do người con trai là tổng giám đốc một công ty xơ sợi đem tiền về xây. Buổi chiều bà cụ còn sang chơi nhà hàng xóm, chuyện trò nổ như ngô rang, vậy mà sáng sớm hôm sau nghe tiếng chó sủa ran mọi người ngó sang thì đã thấy bà cụ nằm gục bên chái nhà tắt thở từ bao giờ rồi. Trong khi đó, cụ ông tai nghễnh ngãng ở trong nhà vẫn không hề hay biết. Biết là sống chết nó do số mệnh nhưng từ đấy các gia đình trong làng đâm hoảng. Gần như ngay lập tức, vài ba gia đình neo người nhưng thuộc diện có máu mặt trong làng tuyển ô sin để cơm nước giặt giũ nhưng chủ yếu là trông chừng các cụ. Người ta sợ nhỡ đâu lại xảy ra chuyện như nhà bà cụ Tị thì con cái muối mặt với làng với nước. Rằng chỉ biết đi đến nơi đô hội sung sướng, bỏ mặc bố mẹ ở nhà không biết sống chết ra sao.

Vậy nhưng tìm được ô sin ở quê lại chả dễ. Không phải là ở làng mọi người đã khá giả có của ăn của để nên không thèm làm cái nghề xưa nay luôn được xem là con ở mạt hạng ấy, mà thậm chí vô số các bà các cô quanh năm vẫn ra thành phố làm ô sin và chỉ dịp lễ tết giỗ chạp mới loáng thoáng đi về. Thế nhưng làm ô sin cho người ở ngay trong làng thì xưa nay chưa từng có. Đói ăn thật đấy nhưng tính sĩ diện lại cao nên người ta mặc cảm rằng nhà tao cũng sinh ra ở cái làng này như nhà mày thì hà cớ gì tao phải đi làm con ở cho nhà mày chứ? Cái tư duy văn hóa làng từ bao đời nay nó thế! Vậy nên thôi, thà rằng ra ngoài hầu hạ người thiên hạ cho nó cam, không phải mang tiếng nhục với họ hàng làng nước.

Không thuê được ô sin ở làng thì người ta nghĩ ra cách mượn người ở nơi khác đến. Thời buổi kinh tế sôi động thế này thì cái sự ấy quá dễ, miễn sao anh có tiền. Thế là làng bắt đầu có ô sin. Từ vài ba nhà ban đầu, chỉ ít hôm sau là người làng đã nghe loáng thoáng ở nhà này nhà kia có giọng nói lạ của người ở vùng khác, có cả giọng trọ trẹ khó nghe của những người ở mạn khu bốn.

***

Cứ tầm bảy giờ rưỡi sáng là cái quán lợp tre lá bán các đồ tạp hóa lặt vặt của bà Vân điếc ở đầu làng lại tấp nập. Đám ô sin lúc này đã tạm xong các công việc cơm nước dọn dẹp buổi sáng nên tụ tập ở đây với mục đích chính là buôn dưa xả stress. Những bức bối ức chế dồn nén lại trong suốt hai bốn giờ trong ngày giữa các ông bà chủ nhà với ô sin lúc này mới được tung hê hết ra. Một bà béo mập độ ngoài năm mươi, nói giọng miền trung vừa há mồm ngáp ngắn ngáp dài vừa than vãn:

– Vơ trời! Nhẽ không vì tháng dăm triệu bạc cho con ăn học thì tao bỏ việc cho xong. Ai đời cả đêm mà bảy tám lần đi đấy đi ẹ thì mần răng mà sống cho đặng!

Một em trẻ hơn, tuổi chỉ độ xấp xỉ ba mươi, nói giọng Thái Bình nằng nặng, nét mặt câng câng tru mỏ lên:

– Dào ôi, sao cô không tẹt cái bỉm vào, chứ lọ mọ suốt đêm thế thì có mà tèo à!

– Khổ, lại không chịu bỉm cơ! Cứ đeo vào tẹo lại thò tay giật bố nó ra mất!

– Chậc, thế thì cô nhọ rồi! May cháu không phải chịu cái cảnh ấy chứ không thì có mà chạy làng sớm!

Một bà độ bốn mươi, vẻ ngoài đài các chứ không giống người đi giúp việc với tóc uốn phi dê xoắn tít, mặc áo dây cũn cỡn đứng trề môi nguýt dài lên giọng dạy đời:

– Xời, các bá các cô cứ không chịu cập nhật kiến thức khoa học kỹ thuật thế là chết. Người già thì ai chả ít ngủ, mà đã không ngủ được thì phải đi đái chứ còn gì.

– Gớm, ai chả biết là thế… Cơ mà làm thế nào được?

– Đấy, tôi đã bảo. Phải biết tiếp thu khoa học kỹ thuật. Cứ tối đến là cho các cụ ý liều sê-đu-xen vào là đảm bảo ngủ tít mít đến sáng luôn, chả ỉa đái gì sất!

– Sê đu xen? Thuốc ngủ á cô? – Em trẻ nhất trợn mắt hỏi lại.

– Chứ còn gì nữa, chả lẽ lại là thuốc bổ!

– Ui giồi, thế chị vẫn cho bà Nga uống thuốc ngủ đấy à? Cơ mà nó có làm sao không? Hay là em cũng cho bà Hương uống nhỉ?!

Hà hấp đang ngồi ăn cái bánh gai nghe thế thì đứng vụt dậy kêu toáng lên. Bà tóc xoăn vội lao đến đưa tay bịt mồm Hà hấp lại:

– Con hấp này, có im mồm ngay đi không! Tao phổ biến cho mọi người biết cách để làm cho nó nhàn cái thân mà lại còn cứ toang toác ra thế!

Nghe vậy cả Hà hấp và đám ô sin liền nín bặt đưa mắt nhìn ra xung quanh xem có ai là người trong làng lảng vảng ở đấy không. Nhưng may là ngoài đám ô sin và bà Vân điếc ra thì không có ai khác ở đó cả.

Trong đám ô sin thì Hà hấp luôn là người to mồm nhất. Hà hấp hơn ba mươi tuổi, ế chồng và là người duy nhất trong đám ô sin có hộ khẩu ở làng này. Gọi là Hà hấp vì ả này nhiều lúc hâm hâm, kiểu như bị đồng ám. Có người bảo tại căn quả của Hà quá nặng mà cúng bái chưa đến nơi đến chốn, có người lại bảo tại ả ế chồng nên tâm sinh lý mới thành ra thế. Nghe đâu cứ ngày rằm mồng một mà bà mẹ nhà Hà hấp không hương khói khấn vái cái bàn thờ bản mệnh của ả là y như rằng thế nào cái mặt ả cũng sưng xỉa lên rồi vật mình vật mẩy như giận dỗi ai đó. Hà hấp ở làm giúp việc cho nhà ông bà Liên Hương sau khi nhà này liên tiếp có tới ba đời ô sin bất thình lình bỏ việc đi làm chỗ khác. Tới lượt Hà hấp thì chả hiểu sao mọi sự lại êm thấm. Cả làng đều ngạc nhiên khi ai cũng biết hai ông bà nhà đấy căn ke khó tính thế nào, và cũng biết cái tính hâm dở của Hà hấp. Cuối cùng thì có vẻ như mọi người đều ngộ ra, và ai cũng tấm tắc bảo, rõ giời khéo sắp đặt, rằng nhà ấy thì phải con ấy nó mới trị được.

Ông bà Liên Hương đều đã ở tuổi ngoài bảy mươi một tẹo. Bà Hương là cán bộ thuế đã nghỉ hưu, giờ bị tai biến phải ngồi xe lăn đã hơn năm nay. Còn ông Liên chồng bà thì nguyên là chủ tịch của đúng cái xã này. Hai ông bà sở hữu hai dáng vóc trái ngược hẳn nhau, ông Liên thì thân hình to cao vạm vỡ, trong khi đó bà Hương thì người gầy đét như con cá khô. Tuy vậy hai ông bà lại rất tương đồng về tính cách, đó chính là sự riết róng, hà tiện. Không kể thời hai ông bà còn đương chức mà ngay cả bây giờ dù đã nghỉ hưu đến vài chục năm và kinh tế gia đình vẫn thuộc loại khá giả nhất nhì trong làng nhưng cái tính cách ấy vẫn luôn nổi tiếng trong làng ngoài xã. Người trong làng có lỡ gặp lúc thóc cao gạo kém, lúc thiếu thốn nhỡ ngại thì cũng đừng ai tơ tưởng đến cái việc lại vác mặt đến nhà ấy mà vay mượn.

Nhờ sự khéo léo thu quén của bà Hương cộng với tính cách cẩn thận chặt chẽ của ông Liên nên ngay từ xưa hai ông bà đã có một cơ ngơi khang trang. Rồi nhờ có của ăn của để mà cả năm người con của ông bà đều được ăn học tử tế và thành đạt. Anh con cả sau khi đi du học nước ngoài thì ở lại định cư luôn bên ấy không về nữa. Không những thế anh này còn bảo lãnh cho thêm hai đứa em sang làm ăn bên ấy. Hai người còn lại thì đều sống ở Hà Nội, cũng là quan chức nọ kia cả. Bởi vậy, riêng chuyện kinh tế thì với nhà ông bà Liên Hương là chuyện không phải nghĩ. Ấy thế nhưng thực tế đời sống của hai ông bà thì lại không phải vậy. Nó thậm chí còn khổ sở hơn cả những cái nhà thuộc diện hộ nghèo ở trong làng. Thời này thịt cá đầy chợ, vậy mà hầu như cả tháng trong thực đơn của hai ông bà không có tý gọi là chất đạm. Thức ăn kèm với cơm chủ yếu là các loại rau củ tự trồng trong vườn. Mỗi bữa chỉ cần một nhúm rau và tý muối lạc mặn chát là đủ. Ngay đến như bột ngọt là thứ mà thời bây giờ cái nhà nghèo rớt cũng nêm nếm không thèm run tay thì với nhà này nó cũng chỉ được tra vào các món ăn một cách rất rón rén. Không ai nghĩ cái sự hà tiện chắt chiu từ thời bao cấp lại ám vào ông bà Liên Hương sâu sắc đến thế. Nhà người ta thì chỉ vợ hoặc chồng, đây thì được cả đôi. Chính vì vậy mỗi khi ai đó nhắc đến cái tên ông bà Liên Hương thì tất thảy đều lắc đầu lè lưỡi. Bằng chứng sinh động nhất chính là những người giúp việc được đám con ông bà Liên Hương thuê về để chăm sóc bố mẹ họ. Người thứ nhất làm được một tuần thì phải khăn áo ra đi vì cả gan ăn vụng hai cái đầu cá rán ông Liên cất trong tủ lạnh. Ông Liên làm cho một trận lôi đình rồi báo trưởng xóm đến lập biên bản. Người thứ hai thậm chí chỉ mới ở được hai ngày rồi cũng đi, sau khi bị ông Liên phát hiện đem cơm nguội đổ xuống ao chứ không đem hấp lại để ăn như lời ông dặn. Thế là ngay lập tức ông giảng luôn cho một bài về việc thực hiện lối sống tiết kiệm để xây dựng xã hội hòng hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh. Người này nghe xong chả nói câu gì, hôm sau lẳng lặng bỏ đi không một lời chào từ biệt. Người thứ ba ở được đâu hơn tháng thì bị ốm, đi bệnh viện khám thì bác sĩ bảo cơ thể suy nhược vì ăn uống thiếu chất đạm, vậy là thôi cũng bỏ nốt.

Không kịp tìm ra được người giúp việc tiếp theo cho bố mẹ, đám con cái nhà ông bà Liên Hương đành tặc lưỡi mượn tạm Hà hấp ít hôm để lấp chỗ trống. Ai cũng tưởng chỉ ngày một ngày hai là Hà cũng theo chân những người giúp việc trước đó, a lê hấp, biến gấp. Thế mà rồi mọi sự cứ êm thắm như không. Người ta cứ chờ đợi ngày Hà hấp cuốn gói khỏi nhà ông bà Liên Hương, nhưng không, nửa năm trời đã trôi qua mà Hà hấp vẫn ung dung yên vị ở đấy, chả điều tiếng gì! Thế mới biết, ở đời đôi khi cũng phụ thuộc vào cái câu tùy duyên, chả biết đâu mà lần.

***

Bà Hương bị một cơn nhồi máu não rồi liệt nửa người và phải nằm yên một chỗ từ hơn năm trước. Cái cơ thể vốn đã gầy guộc của bà sau cơn bệnh giờ teo tóp hết cả lại, chả biết có còn nổi được ba chục ký. Miệng lưỡi bà cũng ngọng ríu lại, nói ú a ú ớ chả ai hiểu câu gì ngoài ông Liên. Tuy vậy bà Hương lại hay nói, suốt ngày cứ vắng bóng người bên cạnh là bà lại kêu ầm lên nghe khùng khục như tiếng một loại động vật hoang dã nào đó. Từ khi lâm bệnh, bà Hương chỉ có nằm thù lù một đống ra đấy. Năm chừng mười họa thì Hà hấp mới xốc nách bà ôm lên cho ngồi cái xe lăn rồi đẩy ra đường dạo vài vòng. Bà Hương bị tai biến nhưng trí não vẫn còn nhận biết được. Ngồi xe lăn đi trên đường gặp ai quen là bà lại kêu toáng lên những tiếng u ơ ra vẻ mừng rỡ. Nhưng điều đó lại làm Hà bực mình, vì thế mà cũng ít khi Hà cho bà Hương ra đường, trừ lúc ông Liên phải giục. Và thường những khi đó Hà đều thực hiện một cách miễn cưỡng.

Ông Liên tuổi ngoài bảy mươi nhưng trông dáng vẻ còn khá phong độ, thân hình vẫn còn khá đầy đặn, gân guốc. Thường ngày ông vẫn diện bộ quần áo thun thể thao rồi cưỡi con xe Dream liên doanh đi ra sân trụ sở ủy ban để đánh cầu lông với mấy ông bà hưu trí. Trước giờ ngoài cái sự hà tiện, riết róng cố hữu ra thì ông Liên còn có tiếng là người sống cẩn thận và nguyên tắc. Tháng đôi ba lần họp chi bộ, họp hội nọ ban kia ông đều có mặt. Cuộc họp nào ông cũng hăng hái phát biểu, nêu ý kiến quán triệt chủ trương đường lối y như dạo ông còn đương chức chủ tịch. Không ai tranh cãi được với những lý lẽ, lập luận mà ông đã nêu ra. Vì thế lâu dần thành ra các cuộc họp có mặt ông đều trở nên nhàm chán. Từ ngày có Hà hấp tới làm giúp việc, chăm sóc bà Hương và cả cơm nước giặt cả cho mình, ông Liên trông càng thêm khỏe khoắn, nhuận sắc hơn ra. Chiếc xe Dream tậu từ dạo ông còn làm chủ tịch xã từ lâu nay luôn được đắm chiếu che bụi sạch bong ít khi đụng đến, vậy mà giờ người ta cứ thấy ông Liên thường xuyên chạy vè vè suốt ngày. Hết họp hành, chợ búa, thể dục thể thao… ông còn tham gia giao lưu thơ ca hò vè với câu lạc bộ thơ Hải Đăng với các tao nhân mặc khách ở trong huyện. Ở nhà hàng ngày thường chỉ có bà Hương và Hà hấp và cánh cổng thì lúc nào cũng cứ đóng im ỉm cả ngày. Những lúc như thế chả ai biết Hà hấp cùng với bà Hương làm gì trong nhà, chỉ thấy không gian lúc ấy nó yên ắng khác hẳn những lúc ông Liên ở nhà. Thậm chí đôi lúc người ta còn nghe thấy giọng Hà hấp hát ông ổng bài hát “Teen vọng cổ” mà cô này rất ưa thích.

***

Bẵng đi một thời gian chả còn ai nhắc chuyện Hà hấp với nhà ông bà Liên Hương nữa. Có vẻ như mọi người đã quen hẳn với việc đó nên không còn ai để ý săm soi thắc mắc gì nữa.

Chuyện sẽ tiếp tục êm thấm như vậy nếu như một ngày người làng không thấy cô con gái út của ông bà Liên Hương đột ngột từ Hà Nội đánh xe về với vẻ mặt tức giận. Rồi chỉ chừng ba mươi phút sau thì Hà hấp bị ông Vinh công an xóm túm tóc lôi ra khỏi nhà áp giải lên ủy ban xã cùng với túi đồ dùng cá nhân. Hà hấp ôm cái túi vừa đi vừa khóc tức tưởi trước bao ánh mắt ngỡ ngàng của mọi người trong làng khi đó đang đứng xúm xít hóng về phía cổng nhà ông Liên.

Nguyên do của sự việc sau đó ngay lập tức đã được thông tin rõ ràng và rộng rãi ra khắp cả làng. Đó là cô con gái út nhà ông bà Liên Hương sau một lần về thăm mẹ đã bí mật gắn một cái camera giám sát vào trong phòng bà Hương mà không hề ai hay biết, kể cả ông Liên. Chỉ mỗi cái cục đen đen bé tý như chiếc khuy áo khoác, thế mà cô kia ngồi tận trên Hà Nội mở máy điện thoại ra cái là thấy rõ ngay nhất cử nhất động của bà mẹ ở nhà ra sao. Đen cho Hà hấp là cô ta chả hề biết được thời đại bây giờ khoa học công nghệ nó lại vi diệu, tài tình đến thế. Vậy là trong một lần đè bà Hương ra để nhét vào mồm hai viên seduxen cho bà này ngủ tít mít, thế nhưng không hiểu sao khi ấy bà Hương lại phản ứng dữ dội bằng cách cứ ngậm chặt miệng lại. Hà hấp điên tiết vung tay tát bôm bốp vào mặt bà Hương khiến bà ý chỉ còn biết kêu ư ử đau đớn rồi ngoan ngoãn há miệng ra uống thuốc. Tất nhiên hành động ấy của Hà hấp bị cô út ở tận thủ đô bắt quả tang qua cái camera. Và ngay lập tức cô này phóng xe về nhà. Cái camera được mở ra và phát lại hình ảnh trên cái màn hình ti vi 48 in kê giữa nhà trước sự chứng kiến của đầy đủ các ban bệ lãnh đạo trong thôn.

***

Hà hấp bị giam ở ủy ban xã một ngày, sau đó phải nộp phạt cảnh cáo bằng một tạ thóc rồi được tha cho về. Kể từ hôm ấy không thấy Hà hấp lảng vảng ra đường nữa. Đám ô sin thì dường như cũng chột dạ sau sự việc ấy nên cũng ít tụ tập tán chuyện ở quán bà Vân điếc như thường khi nữa. Mỗi sáng họ vẫn ra quán bà Vân nhưng chỉ loáng thoáng chào hỏi nhau dăm ba câu rồi người nào người nấy lại tất tả đi về nơi làm việc của mình. Cũng từ hôm ấy người ta lại thấy ông Liên chăm đẩy xe lăn cho bà Hương đi ra đường hơn, và lần nào ông cũng dừng chỗ quán bà Vân để cho một bà ngọng và một bà điếc đối thoại với nhau một lúc.

Bẵng đi đến gần tháng, một hôm bỗng Hà hấp lại lù lù xuất hiện trước cửa quán bà Vân trong bộ dạng bơ phờ mệt mỏi. Nước da xanh mái và mớ tóc vốn đã bù xù của Hà hấp trông càng tăng thêm vẻ bệ rạc. Đám ô sin thấy Hà thì xán lại hỏi han, mỗi người một câu xoắn xuýt làm Hà hấp cuống lên chả biết đường nào mà trả lời. Riêng bà Vân điếc thì ngồi ngẩn nhìn chằm chặp vào Hà hấp với ánh mắt vẻ như kinh ngạc, tựa lần đầu tiên thấy một người lạ từ đâu lai vãng tới. Rồi bà Vân đột nhiên đứng vụt dậy bước đến bên Hà hấp rồi đưa tay vén tóc cô ta lên nhìn săm soi bên nọ bên kia. Sau đó bà Vân nhổ toẹt miếng trầu đỏ lòm đang nhai trong miệng ra rồi thủng thẳng nói:

– Ui giời, chửa mẹ nó ra rồi!

Cả Hà hấp và đám ô sin đều trố mắt nhìn bà Vân như nhìn một con quái vật vừa từ đâu rơi uỵch xuống cái làng này. Hà hấp há hốc mồm miệng, mặt cắt không còn giọt máu và hai tay đột nhiên vô thức đưa lên tự sờ vào bụng mình.

– Bà bảo cái gì cơ, chửa á?

Hà hấp miệng lắp bắp hỏi lại nhưng bà Vân điếc không nghe thấy nên vẫn tỉnh bơ không trả lời. Bà ô sin béo mập người miền trung sấn sổ bước đến vạch luôn cổ áo Hà hấp ra nhìn ngó rồi cũng tru tréo lên:

– Vơ trời!… Gân xanh nổi đầy, vú căng thây nẩy như ri còn chả chửa thì chi nựa!

Cả đám ô sin và bà Vân điếc đều bất chợt lặng thinh. Tất cả mọi ánh mắt đều dán vào người Hà hấp làm cho ả càng thêm mất bình tĩnh. Một lát, mụ ô sin tóc xoăn ăn mặc đỏm dáng chợt rú lên cười ngặt nghẽo phá tan cái không khí u ám trầm lắng đang bao phủ:

– Há há… Anh Liên già trông cứ tưởng hết đát, thế mà vẫn còn phong độ gớm nhỉ!

Hòa theo tiếng cười của mụ tóc xoăn, ngoại trừ bà Vân điếc tất cả đều cùng cười ồ lên tán thưởng. Hà hấp đứng ngẩn ra trong giây lát rồi bất chợt bưng mặt khóc tu tu. Tất cả lại nín lặng nhìn ả khóc, và khi mọi người còn chưa biết xử trí ra sao thì Hà hấp đã guồng chân chạy biến đi. Tiếng khóc của Hà hấp cứ thế vang lên nghe đầy vẻ ai oán, tức tưởi kéo dài theo về phía ngôi nhà của mẹ con ả ở cuối làng.

***

Tròn một năm sau đó, cũng ở trước cửa cái quán tre lá bán tạp hóa của bà Vân điếc, vẫn cái đám ô sin làng ấy đứng tụ tập buôn chuyện rôm rả. Nhưng đột nhiên tất cả im bặt khi thấy ông Liên ở phía xa xa đi tới. Trên tay ông Liên bế xốc bên hông một thằng cu con đang cười toe toét. Lẽo đẽo phía sau là Hà hấp đẩy xe lăn cho bà Hương chầm chậm cùng đi tới. Vừa nhác trông thấy bà Vân điếc từ xa, bà Hương lại kêu rú lên những tiếng ú ơ đầy phấn khích.

Tranh của họa sĩ Thành Chương

TRĂNG KHUYA

 

Bến sông dưới trăng khuya thanh lặng và tĩnh mịch giống khung cảnh ở một nơi hoang sơ nào đó chứ không phải ở ngay cạnh một cái làng luôn sầm uất, nhộn nhịp. Dưới ánh trăng, mặt sông lăn tăn ánh lên những vệt sáng lấp lánh như dát bạc. Nước thủy triều duềnh lên bến từng vạt nước mát rượi cùng những tiếng vỗ ì oạp  vào cầu bến.

Con đường nhỏ rải đá dăm dẫn từ làng ra tới bến sông chỉ độ dăm chục bước chân, khấp khểnh toàn những ổ gà, ổ voi nên rất khó đi. Nhà Ngần nằm cuối làng sát với bến sông nên ngày nào cũng như ngày nào cô đều phải mấy lượt qua lại trên quãng đường ấy để ra bến giặt giũ và xách nước về đun nấu. Tuy vậy, hằng đêm Ngần cũng vẫn ra bến vào những lúc khuya khoắt khi cả làng đã chìm vào giấc ngủ sau một ngày náo nhiệt. Lúc ấy, Ngần ra bến chỉ để ngồi trên cái bậc đá sần sẹo và tư lự nhìn vào khoảng không trước mặt như một kẻ vô hồn. Cũng có đêm, sau một hồi ngồi lặng lẽ trên bờ, Ngần nhảy ào xuống sông rồi cứ thế vẫy vùng, quẫy đạp trong dòng nước cho tới lúc thấy người lạnh ngắt rồi mới lên bờ đi về.

Nhà chỉ có hai vợ chồng nhưng Ngần bận rộn chả khác gì đang nuôi con mọn, bởi Thi chồng Ngần không may bị tai nạn nằm liệt giường đã hơn năm nay. Hàng ngày, ngoài việc chăm sóc nâng giấc cho chồng thời gian còn lại cũng như bao người phụ nữ khác ở cái làng Gò này, Ngần cũng phải tất bật với chuyện vườn tược đồng áng. Ngần lấy chồng khi vừa mới bắt đầu bước sang tuổi mười chín. Học xong phổ thông, Ngần muốn thoát ly ra thành phố để học tiếp nhưng hoàn cảnh gia đình không cho phép nên đành phải ở nhà đỡ đần cha mẹ việc cấy cày, gặt hái. Nhà Ngần thuộc diện nghèo nhất nhì trong làng. Bố Ngần là công nhân khai thác mỏ bị nhiễm độc chì nên phải về nghỉ mất sức vì vậy mà đau ốm quanh năm. Ngần là con gái lớn trong nhà, dưới cô còn ba đứa em đang tuổi ăn tuổi học nên kinh tế gia đình luôn khó khăn thiếu thốn. Trong  hoàn cảnh như vậy, Ngần đành phải xếp ước mơ riêng tư của mình lại để gánh vác việc nhà. Tưởng là vậy, nhưng chỉ nghỉ học ở nhà chưa đầy một năm Ngần đã đi lấy chồng. Nhà chồng Ngần là một gia đình khá giả ở cùng làng. Thấy Ngần là đứa vừa kháu vừa đảm so với những đứa con gái khác trong làng nên họ quyết tâm đến hỏi cưới cho con trai. Bố mẹ Ngần thấy vậy mừng rỡ ra mặt. Dù gì con mình được gả vào cái nhà có của ăn của để, sau thể nào nó chả được ấm thân. Là bố mẹ Ngần nghĩ thế, chứ Ngần vì chưa muốn lấy chồng nên cô không đồng ý. Nhưng rồi trước sức ép và những lý lẽ của bố mẹ, cô đành dằn lòng chấp nhận. Đám cưới của Ngần được tổ chức một cách gấp rút và chóng vánh, từ lúc hỏi đến lúc cưới chỉ vỏn vẹn trong một tuần lễ. Một đám cưới rình rang nhất làng diễn ra khiến cho ai ai cũng phải cất tiếng khen nắc nỏm. Nào là Ngần như chuột sa chĩnh gạo. Nào là nhà Ngần phải có phúc lắm nên mới được làm thông gia với một nhà gia thế, khá giả như vậy chứ. Thoạt đầu Ngần thấy hơi khó chịu với những lời đàm tiếu ì xèo ấy, nhưng sau rồi cuộc sống mới ở nhà chồng nhanh chóng cuốn đi và cô cũng không còn để ý đến điều đó nữa.

***

Cưới nhau xong ít ngày vợ chồng Ngần được bố mẹ chồng cho ra ở riêng và dựng cho ngôi nhà ở ngay trên mảnh đất nơi cuối làng mà họ đã mua sẵn từ lâu. Ngôi nhà ba gian mái bằng có thêm một cái gác xép nữa đối với người ở làng này là đã cao sang lắm rồi, nhiều người mơ mà chẳng được. Bố mẹ Ngần được thể càng thêm nở mặt nở mày với xóm giềng. Riêng Ngần chẳng cho đó là điều gì vẻ vang to tát, thậm chí đôi lúc cô nghĩ chẳng thà mình lấy người chồng ở một gia đình bình thường có khi lại bớt áp lực.

Hai vợ chồng son ra ở riêng tưởng thế là rảnh rang thoải mái, nhưng suốt ngày Ngần phải tối tai tối mắt với bao nhiêu công việc. Ngoài nửa mẫu ruộng được bố mẹ chồng chia cho thì còn có một khoảnh vườn khá rộng ở ngay cạnh nhà để trồng dâu nuôi tằm nữa. Cứ thế từ sáng đến tối Ngần luôn chân luôn tay không lúc nào được ngơi nghỉ. Ngược lại, Thi chồng Ngần chỉ chơi bời lêu lổng chả làm lụng gì. Cả ngày chẳng mấy khi Thi có mặt ở nhà, chỉ chăm chăm tụ tập cùng đám bạn chuyên đi chọi gà và chơi phỏm ở ngoài thị trấn. Điều này trước khi cưới cả Ngần và bố mẹ cô đều biết. Mà không, cả cái làng Gò này trước giờ đều biết Thi là một kẻ chuyên ăn chơi trác táng, sống dựa vào bố mẹ. Khi đó bố mẹ Ngần cứ khuyên nhủ rằng, nó tuổi thanh niên nên còn mải chơi, nhưng lấy vợ vào rồi sẽ thay đổi, sẽ tu tỉnh lại thôi. Với lại bố mẹ nó giàu nứt đố đổ vách, chơi thế chứ chơi nữa thì cũng chẳng suy suyển được cái cơ ngơi kếch sù ấy. Vậy mà cưới nhau đến cả năm trời Thi vẫn chứng nào tật ấy. Có đôi ba lần Ngần đem chuyện này nói với bố mẹ chồng nhưng rồi ông bà đều gạt đi. Thậm chí mẹ chồng Ngần còn lấy chuyện đó ra giảng giải: “Nó là đàn ông đàn ang thì cái việc giao lưu tiếp xúc bên ngoài là đương nhiên. Mình là đàn bà thì phải biết lo thu quén cho êm đẹp cửa nhà chứ đừng có mà hơi một tý lại cáo kiện như thế!” Vậy là từ đấy dù chồng có xảy ra chuyện gì thì Ngần cũng tuyệt không nói năng gì nữa. Cô cứ thế âm thầm chịu đựng một cách nhẫn nhục. Ngần tự nhủ, thôi thì mình cũng cố nín nhịn mà sống rồi may đâu tới lúc chồng nghĩ lại.

Nhưng cái mong ước giản dị ấy của Ngần đã không kịp diễn ra. Chỉ ít lâu sau đó, sau một cuộc rượu chè bù khú với đám bạn, Thi đi xe máy về nhà trong tình trạng say xỉn và đâm cả xe lẫn người vào thành cầu ngay lối vào làng. Thi được đưa ngay ra bệnh viện Việt Đức để chữa trị. Tiếp đó là mấy tháng trời Ngần và hai bên họ hàng đi lại ăn chực nằm chờ để chăm sóc nhưng cuối cùng Thi vẫn bị bệnh viện trả về vì chấn thương não quá nặng không còn khả năng phục hồi. Ngần  ngậm ngùi, tận tâm chăm sóc với ý nghĩ rằng Thi sẽ chẳng còn sống được bao lâu nữa. Thời gian cứ trôi đi. Một tháng, hai tháng… Thi vẫn cứ nằm yên đó thở đều đều trong khi chỉ có thể ăn bằng ống xông qua lỗ mũi còn đại tiểu tiện thì cứ thế tự do ra giường chiếu.

Đôi bên gia đình qua lại chăm bẵm mãi rồi cũng đến lúc chán nản, cuối cùng chỉ còn lại mình Ngần đơn thân vận động với việc chăm sóc chồng. Từ việc tắm rửa vệ sinh cho tới chuyện sớm khuya nâng giấc cho Thi chỉ trơ ra có mình Ngần xoay xở. Đã thế suốt ngày Ngần luôn bị bà mẹ chồng để ý xét nét đủ điều. Mới chỉ ngót năm mươi tuổi nên bà vẫn còn nhanh nhẹn hoạt bát, nên dù không ở cùng nhà nhưng hầu như ngày nào bà cũng đáo qua mấy lượt để kiểm tra xem Ngần làm những gì, có chăm chút cho con bà tử tế không? Ngần vốn đã quá mệt mỏi với cái cuộc sống mà cô đang phải chịu đựng như lại càng thêm áp lực. Những cái lườm nguýt thường xuyên của bà làm Ngần luôn giật mình thon thót. Cô thấy đầu óc mình căng ra như dây đàn và tưởng như nó có thể đứt phựt bất cứ lúc nào. Cứ nhác thấy bóng bà mẹ chồng sang tới đầu ngõ là Ngần lại theo phản xạ co rúm người lại. Lúc ấy, dù là đang làm việc gì thì Ngần vội bỏ đấy chạy ngay lại bên giường rồi vờ săn sóc cho Thi. Ngày mấy lượt như thế khiến nhiều lúc Ngần thấy mình như kẻ đang sống dưới địa ngục.

Khoảng thời gian trong ngày Ngần cảm thấy thoải mái dễ chịu nhất là vào lúc trời đêm khuya khoắt. Khi chỉ còn mình Ngần với không gian tĩnh lặng, không còn bị tác động bởi ngoại cảnh. Lúc ấy Ngần mới thấy mình thật sự được thoát khỏi cái gông cùm vô hình lúc nào cũng như muốn siết chặt lấy mình. Ngần cảm nhận sự tự do ấy bằng cách thoải mái làm những gì mình muốn. Và thường vào cái giờ khắc khuya khoắt ấy cô chạy thẳng ra bến sông rồi nhào xuống dòng nước mát rượi mà vẫy vùng quẫy đạp trong đó.

Đêm nay cũng vậy, ngâm mình dưới nước cả hồi lâu rồi mà Ngần vẫn chưa muốn lên bờ. Vầng trăng hạ tuần chiếu ánh sáng xuống mặt sông luênh loang từng vệt lân tinh lấp lóa. Trời cuối hè không nóng lắm nhưng Ngần thấy trong người bức bối khó chịu. Ngần nhoài người bơi từ bến ra giữa dòng rồi lại quay trở vào. Dòng nước mát lạnh như ôm lấy cái cơ thể đàn bà hừng hực sức sống  mà vuốt ve vỗ về. Ngần thả lỏng người, khẽ nhắm hờ mắt lại để tận hưởng cái cảm giác đê mê, man dại ấy.

Đang say sưa quẫy đạp trong dòng nước, bất chợt Ngần bị một đôi tay ôm chặt lấy ngang người. Ngần mở choàng mắt định thần lại xem chuyện gì xảy ra thì đã thấy mình đang nằm gọn trong vòng tay một người đàn ông. Ngần bàng hoàng, miệng ú ớ chưa kịp phản ứng  thì khuôn mặt người đàn ông đã lập tức áp sát vào mình.

– Ai đấy? Buông tôi ra…

Ngần thổn thức lên tiếng nhưng giọng nói của cô khá yếu ớt, nó chỉ như một tiếng thì thầm khẽ thoảng bên tai và nhanh chóng hòa vào trong gió. Rồi Ngần cảm nhận được hơi thở nóng hổi và đôi môi mềm mại lướt đi trên từng vùng da thịt nơi ngực nơi cổ mình, sau đó dừng lại trên đôi môi khô khát của Ngần rồi cứ thế dính chặt lấy không rời. Trong đầu Ngần chợt hiện lên hình ảnh của Thi, đã hơn nửa năm kể từ khi Thi bị tai nạn, Ngần cũng không còn có được những phút giây ân ái với chồng, và đôi lúc tưởng như nỗi khao khát sinh lý bình thường ấy làm Ngần muốn phát điên. Vậy mà lúc này đây khi nó đang có cơ hội được giải tỏa thì Ngần chợt sững lại. Ngần biết như thế này là có tội với Thi, là không giữ đúng phẩm hạnh của một người con gái đã có chồng. Ngần khẽ cựa quậy muốn đẩy người đàn ông đang ôm siết mình ra nhưng cái cơ thể đàn bà của cô đã mềm nhũn ra không còn sức sống. Rồi chỉ sau một cái khuấy nước, Ngần đã được người đàn ông kia dìu vào bến sông. Cô lả đi trong cơn hoan lạc tự nhiên của con người.

***

Ngần bắt đầu thấy lo sợ khi tới vòng kinh nguyệt mà mình vẫn sạch sẽ. Cảm giác hồi hộp xen lẫn hoang mang bao trùm lên những suy nghĩ của Ngần làm cô như nghẹt thở. Với một động tác tự nhiên, Ngần đưa tay sờ lên bụng mình và cảm nhận từ nơi đó một mầm sống đang le lói. Ngần rùng mình, sợ hãi đưa mắt nhìn vào góc phòng, nơi đó Thi vẫn nằm bất động, cả thân hình cứ ngay đơ ra như một khúc gỗ. Ngần biết mình đã mang tội với Thi. Cho dù Ngần lấy Thi không phải vì tình yêu nhưng khi đã lấy nhau rồi  thì Ngần nghĩ mình cũng phải làm tròn bổn phận của một người vợ. Vậy mà bây giờ… Ngần thấy tự giận chính bản thân mình. Chỉ một phút không làm chủ được cảm xúc mà giờ nên cơ sự này. Nếu điều này là sự thật và chuyện vỡ lở ra thì không biết rồi nó sẽ khủng khiếp đến mức nào!

Qua tháng thứ hai kể từ cái đêm trăng suông oan nghiệt ngoài bến sông, Ngần chắc chắn mình đã mang thai. Nỗi phấp phỏng lo sợ cũng theo đó mà lớn dần lên và giày vò Ngần mỗi ngày. Ngần sợ  ánh mắt đầy vẻ dò xét của mẹ chồng mỗi khi nhìn mình. Sợ cả tiếng thở khò khè đều đều của chồng vang trong đêm. Sợ lúc nhỡ đâu bất ngờ Thi có thể tỉnh lại… Ngần biết cứ thế này rồi đến lúc không thể giấu diếm được nữa. Ý nghĩ phải phá bỏ cái thai chợt lóe lên trong đầu Ngần nhưng ngay lập tức nó bị dập tắt. Ngần không có đủ sự tàn nhẫn để có thể giết chết đứa con của mình khi nó đang còn là một phôi thai bé nhỏ. Nhưng nếu như giữ nó lại thì rồi sự thể sẽ ra sao? Chỉ cần hình dung ra tới lúc mọi người biết rằng đứa con mà Ngần sinh ra không phải của Thi là cô lại rùng mình sợ hãi. Những suy nghĩ dằn vặt ấy làm Ngần mất ăn mất ngủ. Cô cố nghĩ ra cách đối phó với tình huống oái oăm mà mình đang gặp phải nhưng càng nghĩ lại càng thấy bế tắc. Ngần quá hiểu, ở cái ngôi làng quanh năm người ta chỉ biết có quanh quẩn từ đầu làng đến cuối làng thế này thì bất cứ một chuyện gì dù lớn nhỏ cũng sẽ thành chủ đề cho người ta đàm tiếu trong một thời gian dài sau đó. Và Ngần biết những gì mình phải chịu đựng sẽ là thế nào. Khi đó chắc chỉ còn cách bỏ đi biệt xứ khỏi cái làng này mới được yên thân. Vậy nhưng nếu cô ra đi thì bố mẹ và các em sẽ đối mặt ra sao với cái tiếng tăm có một đứa con hủ hóa ngoại tình? Còn Thi nữa? Ngần không nỡ bỏ đi trong lúc anh ta cần có người chăm lo, săn sóc. Ngần cứ suy nghĩ dằn vặt như vậy và cô thấy mình như muốn phát điên.

Chìm đắm trong mớ suy nghĩ bức bách ấy rồi một lần trong đầu Ngần cũng chợt lóe ra một ý tưởng và cô quyết định sáng tạo ra một màn kịch. Vừa thấy bóng mẹ chồng loáng thoáng sang tới đầu ngõ, Ngần vội lao ra khép hờ cánh cửa nhà lại và leo tót lên giường chui vào trong cánh màn nơi Thi đang nằm. Ngần nhanh chóng lột hết quần áo của mình và của chồng ra, sau đó cô nằm xuống bên cạnh ôm siết lấy cái thân xác vô hồn của Thi. Nghe tiếng lạch cạch phía cửa, Ngần biết bà mẹ chồng đã đứng thập thò ở đó, cô bèn hé miệng phát ra những tiếng rên rỉ oằn oại làm ra vẻ như mình đang trong cuộc ân ái với chồng. Bà mẹ chồng đứng ngó nghiêng một lát thấy rõ những gì đang diễn ra sau cánh màn, bà khẽ hắng giọng động chân, động tay báo hiệu sự có mặt của mình. Ngần nghe tiếng nhưng vẫn tảng lờ như không hay biết, cô cứ ôm chặt lấy Thi và giả bộ rên lên to hơn. Bà mẹ chồng không nhịn được nữa bèn đẩy mạnh cửa và dậm chân thật mạnh xuống sàn nhà rồi nói như quát:

– Thân xác nó đã như thế mà chị cũng còn không tha à? Rõ là cái loại đàn bà hư thân mất nết.

Tới lúc này Ngần mới buông chồng ra. Cô ngồi dậy cố làm ra vẻ ngượng ngùng, xấu hổ, kéo tấm chăn đắp lên cho Thi và vơ lấy mớ áo xống mặc vào người. Ngần kín đáo quan sát thái độ của mẹ chồng. Thấy vẻ bực bội, hằn học đang hiện rõ trên khuôn mặt của bà ấy thì cô khẽ thở phào vì nghĩ rằng màn kịch mình vừa diễn đã khá suôn sẻ. Bà mẹ chồng liếc mắt lườm một cái rõ dài rồi dẩu môi ra nói mát mẻ:

– Tôi biết chị đang còn son trẻ, tuổi xuân còn đang đòi hỏi… Nhưng con tôi nó đã ra thế này rồi thì chị cũng phải biết thương hại nó.

– Vâng… Con biết rồi ạ…

Ngần cúi mặt nói lí nhí ra vẻ biết lỗi dù trong lòng lúc này đang mừng khấp khởi vì đã đánh lừa được bà mẹ chồng.

– Biết rồi… biết rồi… Biết rồi mà còn như con hổ đói ấy. Nó mà có làm sao thì cô cứ liệu hồn với tôi.

Bà mẹ chồng ngấm nguýt một lúc rồi ngúng ngẩy đi về, cũng chẳng thèm để ý xem thằng con trai mình hôm nay đã được ăn được uống gì chưa. Còn Ngần thì ngồi thở phào với vở kịch mình vừa là đạo diễn vừa là diễn viên đã ít nhiều đánh lừa được bà mẹ chồng.

***

Sang tháng sau, bụng của Ngần nhô lên lùm lùm, gân xanh ở cổ cũng nổi rõ từng đám như bện thừng. Đến nước này chẳng còn giấu được ai, và Ngần cũng không có ý định giấu diếm gì nữa, ngược lại cô muốn công khai cái bụng bầu của mình ra với bàn dân thiên hạ. Gặp ai Ngần cũng cố tình phưỡn cái bụng ra cho họ thấy và khi được hỏi thăm đến, cô liền khoe ra với vẻ đầy tự hào rằng, đấy là trời thương mà ban lộc cho vợ chồng cô. Làng xóm bắt đầu có những lời xì xào bàn tán. Người thì tỏ ra mừng cho gia đình nhà bố mẹ chồng Ngần, họ bảo: Ừ thôi thì tắt hương còn khói, nhà ấy như thế là vẫn còn phúc. Kẻ lại trề môi buông một câu lửng lơ: Chắc gì, khéo nhà ấy lại nuôi con tu hú, chứ cái thằng Thi cứ nằm đuỗn ra như khúc gỗ ấy còn làm ăn được gì… Tất cả những lời đàm tiếu cuối cùng đều đến tai bà mẹ chồng Ngần. Ban đầu bà tỉnh bơ vênh mặt lên chửi đổng: Tiên sư quân thối mồm, nó có chui gầm giường nhà con tao không mà nó biết là con tu hú!

Miệng thì nói vậy nhưng trong bụng bà  lại cồn lên hàng đống nghi hoặc. Mỗi lần sáp mặt là bà quét cái ánh mắt sắc lạnh như một tia sét cứa thẳng vào người Ngần mà săm soi. Ánh mắt ấy như muốn xuyên thủng lớp áo đi vào tận bên trong bụng Ngần như muốn để xem đứa bé có phải đúng là dòng giống của nhà bà hay không.

– Này, tôi nói cho chị biết! Nếu nó không phải là máu mủ nhà tôi thì liệu mà bỏ đi nhá, chứ để đến lúc cháy nhà ra mặt chuột thì đừng bảo tôi ác.

Là một lần bà mẹ chồng chỉ tay, nghiến răng nói thẳng với Ngần như vậy. Ngần biết bà ấy nói thế để nắn gân mình thôi nhưng cũng thấy chột dạ, bởi chẳng có gì đảm bảo rằng rồi một lúc nào đó, bằng một cách nào đó mà mọi người sẽ biết sự thật. Điều ấy có thể lắm chứ, thời bây giờ việc người ta đi xét nghiệm ADN để xác định huyết thống chả khó khăn gì. Ngần biết mình không thể bỏ đứa con đi như lời bà mẹ chồng, bởi bản năng tự nhiên của người mẹ không cho phép cô làm điều đó. Hơn nữa, nếu như cô đi phá thai thì chẳng hóa ra là lạy ông tôi ở bụi này, là tự thừa nhận mình ngoại tình hay sao? Nhưng nếu giữ đứa con lại thì chẳng biết làm thế nào để bảo đảm rằng điều bí mật của Ngần sẽ không bị phát giác. Ngần bắt đầu thấy lo sợ đến mất ăn mất ngủ, khiến người cô cứ dần héo quắt đi như một cây sậy.

Khi Ngần mang thai đến tháng thứ bảy cũng là lúc Thi từ giã cõi đời. Sau gần một năm trời phải sống trong tình trạng thực vật, cơ thể của Thi không tiếp tục tồn tại được nữa. Cái chết của Thi làm Ngần nửa mừng nửa lo. Dù điều đó được xem như sự giải thoát cho cả Thi và Ngần nhưng tự đáy lòng cô vẫn thấy xiết bao thương cảm. Kiếp người mong manh, ngắn ngủi mà con người ta chẳng biết quý trọng những tháng ngày đang sống. Giờ Thi không còn, dù cũng có đau buồn như những người phụ nữ chết chồng khác, nhưng Ngần thấy có chút hy vọng về tương lai của mình. Hy vọng chuyện cái thai không phải con của Thi sẽ không bị phát hiện, bởi khi Thi không còn nữa thì cũng chẳng ai muốn bới chuyện ra làm gì.

Vậy nhưng Ngần đã mừng hụt. Ngay sau hôm đám tang của Thi, lúc tiễn chân một người họ hàng là bác sĩ ở một bệnh viện lớn về lại thành phố, bà mẹ chồng Ngần lựa lúc có cả mặt cô đứng đó rồi bất ngờ ướm hỏi  như cốt để cô nghe thấy:

– Này chú Vũ, cho chị hỏi cái việc đi xét nghiệm để biết dòng giống nhà mình ấy có khó lắm không?

Ông chú bác sĩ thoáng đưa mắt nhìn lướt nhanh về Ngần, khe khẽ gật đầu:

– Vâng, đơn giản thôi chị ạ! Nhưng…

– Ừ, thế thì được rồi. Vài tháng nữa là chị phải nhờ đến chú đấy!

Ngần chợt giật thót người. Cô thấy mặt mày xây xẩm, một cảm giác choáng váng ập đến làm rụng rời tay chân. Vậy là bà ấy đã quyết tâm rạch ròi đến cùng chuyện này ư? Nếu thế thì Ngần không còn đất sống ở cái làng này nữa rồi!

Phải lập tức rời khỏi nơi này. Ý nghĩ ấy như một mệnh lệnh trong đầu Ngần. Thi không còn. Không còn lý do gì để Ngần phải băn khoăn cấn cá nữa. Giờ thì Ngần đã có thể thanh thản dứt áo ra đi được rồi. Và đích đến của cô sẽ là một khu công nghiệp lớn ở phía nam, nơi có vài ba đứa bạn học đang làm việc ở đó.

Không chần chừ thêm nữa, ngay trong đêm đó Ngần âm thầm thu xếp hành lý, lẳng lặng rời khỏi ngôi nhà mà cô từng suốt mấy năm trời gắn bó.

***

Trăng hạ tuần nhô lên khỏi rặng duối, tỏa chiếu cái thứ ánh sáng mờ ảo, huyễn hoặc lên khắp mặt sông. Ngần lầm lũi bước đi trên con đường dẫn ra bến sông. Chợt Ngần dừng lại, ngoảnh mặt nhìn về phía sau, nơi đó là ngôi làng nằm trầm mặc dưới ánh trăng, là căn nhà nơi cô và Thi đã chung sống những ngày tháng vợ chồng. Một thoáng bùi ngùi chợt dâng lên xâm chiếm lấy tâm hồn Ngần nhưng ngay sau đó cô lại tiếp tục dấn bước. Nơi đó, phía bên kia bờ sông là con đường lớn tấp nập dẫn ra thị trấn, vậy nên chỉ cần lội qua sông sang bờ bên kia, từ đó Ngần có thể bắt xe đi về phương nam.

Nhà văn Trần Hồng Giang giao lưu với thầy cô giáo và học sinh

Ngần gồng người nâng va-li hành lý đặt lên đầu rồi ướm chân lội xuống bến sông. Cái bụng chửa lặc lè làm những bước đi của Ngần trở nên khó nhọc khi cô dò dẫm bước xuống từng bậc đá dẫn xuống mép nước. Ngần nín thở khỏa bàn chân xuống dòng nước lạnh ngắt làm cho ánh trăng trên sông chợt tan ra luênh loang. Nhưng cũng ngay lúc ấy, từ phía sau bụi duối có một bóng người bước ra, tiến sát đến bên Ngần. Theo phản xạ tự nhiên, Ngần giật mình quay lại và ngỡ ngàng nhận ra bà mẹ chồng đang đứng sừng sững sau lưng mình. Ngần choáng váng đứng chết trân tại chỗ, miệng cứng lại không nói lên lời.

Bà mẹ chồng thản nhiên đứng nhìn Ngần không ra vẻ trách cứ, bực bội nhưng cũng không có gì là vồ vập, điều đó càng làm Ngần thêm lúng túng, bối rối.

– Mẹ… Sao mẹ lại ở đây?…

Ngần luống cuống thả bịch cái va-li đang đội trên đầu xuống bậc đá bến sông và cất tiếng hỏi ngập ngừng. Bà mẹ chồng không trả lời Ngần mà đứng chống nạnh hất hàm hỏi lại với một giọng đầy trịch thượng:

– Chị định đi đâu?

– Con… là con… định… định về bên nhà bố mẹ con… – Ngần cuống quýt che giấu chuyện mình đang định bỏ đi.

– Về bên ấy mà sao lại đi lối này?

– … là vì… con…

Ngần ấp úng không biết phải thanh minh thế nào. Ngần cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay nắm vào nhau vặn vẹo một cách khổ sở. Riêng bà mẹ chồng vẫn tỉnh bơ, chẳng thèm để ý đến điệu bộ lúng túng của Ngần:

– Thôi, đi về nhà đi!

Ngần gần như co dúm người lại. Nhưng bất chợt Ngần thấy trong mình như có một sự hối thúc, rằng cần phải làm một điều gì đó cho rõ ràng dứt khoát với nhà chồng, để dứt áo ra đi. Ngần lấy hết can đảm ngước lên nói với bà mẹ chồng:

– Vợ chồng con đã chẳng may giữa đường đứt gánh… Vậy nên… con xin phép mẹ, cho con được đi khỏi nhà mình…

Tưởng rằng sau câu nói đó của Ngần thì bà mẹ chồng sẽ nổi đóa lên. Nhưng  thái độ của bà ta vẫn rất điềm tĩnh:

– Chị không phải đi đâu nữa cả! Nó sẽ là cháu tôi!

Ngần giật thót mình, tuy nhiên cô vẫn cố trấn tĩnh và làm bộ như mình chưa nghe rõ bà ta nói gì:

– Mẹ bảo sao cơ ạ?

– Còn sao nữa! Dù con của chị có là máu mủ nhà ai đi nữa thì nó cũng sẽ là con cháu nhà tôi, nghe chưa?

Ngần choáng váng, cảm giác như là một mũi kim vừa xuyên vào trúng tử huyệt của mình. Vậy là bà ấy đã biết sự thật rồi ư? Nếu vậy thì sao bà ấy lại xử sự như vậy? Lẽ nào bà ta muốn Ngần trở về rồi cứ thế hành hạ, dày vò suốt đời? Không, nếu vậy thì thà chết Ngần cũng sẽ nhất quyết không quay trở lại. Như có thêm được sức mạnh, Ngần đứng thẳng người đối diện với bà mẹ chồng và cất giọng rành rọt:

– Mẹ… là mẹ đã biết hết rồi phải không ạ?

– Hừm, thế chị tưởng tôi quê mùa đần độn lắm hả? Ngay từ khi biết chị có mang là tôi đã phải tìm hiểu xem một người bị chấn thương tủy và sống thực vật như thằng Thi thì còn có thể có con hay không.

Ngần mở trừng mắt nhìn mẹ chồng như nhìn một vị quan tòa đang đọc lời kết tội:

– Vậy sao… mẹ còn định nhờ chú Vũ đi làm xét nghiệm…?

– Là tôi thử xem chị phản ứng thế nào thôi.

– Mẹ… Thế thì mẹ còn giữ con lại làm gì nữa? Mẹ tha cho con… Mẹ để cho con đi đi… Con không còn mặt mũi nào ở lại nhà mình nữa đâu mẹ ơi…

Ngần bật khóc tức tưởi. Trong đêm khuya, tiếng khóc của cô não nuột, ai oán khiến cả khúc sông như nhuốm một vẻ u linh, ớn lạnh. Bất chợt, bà mẹ chồng bước sát đến bên, rồi vòng tay ôm lấy đôi vai đang rung lên bần bật của Ngần và vẫn với cái giọng nhấm nhẳng, bà bảo:

– Sao mà phải khóc? Ông trời đã sắp đặt thế rồi thì mình cũng chẳng nên cưỡng lại làm gì. Giờ chị toan cất bước tha phương như thế rồi thì ai biết dở hay thế nào! Thân gái dặm trường, bụng mang dạ chửa thế này, chị tưởng đơn giản lắm đấy phỏng? Rồi chị cũng phải nghĩ cho bố mẹ chị, cho cả tôi nữa chứ! Không lẽ để cả cái làng này nó ỉa vào mặt chúng tôi? Bởi vậy, chẳng còn cách nào khác nữa. Con chị đẻ ra nó sẽ là cháu tôi và việc này cấm chỉ không được để ai biết, kể cả  bố mẹ chị ở bên nhà, hiểu chưa?

Bà cứ nói một tràng dài như thế, nhưng Ngần nghe không bỏ sót câu nào. Cô hơi có chút ngờ vực về độ chân thực trong những lời bà vừa nói, không dám tin rằng đó là sự thật. Ngần hoang mang, phân tâm trước tình huống buộc phải lựa chọn. Cô thổn thức hỏi lại trong sự nghi hoặc:

– Mẹ,… có thật là… mẹ sẽ coi nó là cháu của mẹ không?

– Ở đời chẳng ai vui vẻ gì khi con cháu mình lại là con tu hú, nhưng sự thể đã thế này thì thôi cũng đành, như các cụ đã dạy: Cá vào ao ta thì ta được… chứ biết làm sao!

Bà mẹ chồng vừa nói vừa buông một tiếng thở dài tưởng như có thể rút hết gan ruột ra. Ngần khuỵu chân ngồi xệp luôn xuống bậc đá bến sông, rồi cứ thế quàng tay ôm lấy chân mẹ chồng khóc tấm tức. Trăng khuya vẫn dan dãi trải trên bến sông, phủ những ánh vàng mướt mát lên dáng hình hai người đàn bà một già một trẻ nhìn giống như vầng hào quang tỏa ra từ hai pho tượng thần nữ. Trời đêm tĩnh lặng, gió đồng chiêm thảng hoặc thổi từng cơn làm cho mặt sông chợt lúc lại lăn tăn xao động. Bất chợt từ phía xa xa có một ánh đèn le lói hiện ra, tiến dần lại. Khi nhận ra ánh đèn đó của một người câu ếch đêm, bà mẹ chồng liền vội cầm tay Ngần kéo cô đứng lên:

– Thôi nào đi về, kẻo người ta thấy rồi mai lại ầm ĩ cả làng lên bây giờ!

TRẦN HỒNG GIANG

CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC NAM ĐỊNH:

>> Nhà văn Chu Văn: Rắn rỏi cùng “Bão biển”

>> Thơ Phạm Trọng Thanh: Cười cho thế thái nhân tình tốt tươi

>> Điệu hồn của “Giấc hoa”

>> “Cho tôi ly nữa”… chân dung tinh thần tự họa của Nguyễn Bính

>> Truyện ngắn Phạm Trường Thi: Sự thật về bức tranh & Bờ nhân gian

>> Á Nam Trần Tuấn Khải, anh Khóa với những vần thơ nước non!

>> Thơ Trần Hồng Giang: Ký ức rêu phong nhưng chẳng dễ phai mờ!

>> Truyện ngắn Mai Tiến Nghị: Mặt trời chói lóa & Mùa cua rận

>> Thơ Nguyễn Thế Kiên: Từ cay đắng mẹ – mà nên đất này

>> Nhà thơ Trần Tế Xương – Một nhân cách văn hóa

>> Thơ Trần Văn Lợi: Bến quê buộc mảnh trăng vàng chơi vơi

>> Nhà thơ Đoàn Văn Cừ: Từ chợ quê đến… vợ quê

>> Truyện ngắn Lê Hà Ngân: Bão tơ hồng & Giấc xuân

>> Nhà văn Y Ban bàn về chuyện nói bậy của quê mình

>> Bà chúa Cột Cờ – Truyện ký của Phạm Trọng Thanh

>> Nguyễn Bính – lạc chốn thị thành

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *