Truyện ngắn tác giả trẻ Trác Diễm ở Quảng Bình

Vanvn- Trác Diễm sinh năm 1988, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Bình, bắt đầu sáng tác từ năm 2014 cho đến nay.

Tác giả trẻ Trác Diễm

Là cây bút văn xuôi giàu nội lực, Trác Diễm đã xuất bản nhiều tập sách: Tiểu thuyết Hồn lau trắng – NXB Thuận Hóa 2014; tiểu thuyết Tiếng vong ma coong – NXB Văn Học 2015; tiểu thuyết Đất khát – NXB Quân Đội Nhân Dân 2017; tuyển tập truyện ngắn Người đàn bà vẽ hoàng hôn – NXB Hà Nội 2017; tuyển tập truyện ngắn Cây đời – NXB Thanh Niên 2020. Chị nhận được Giải tác giả trẻ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Giải nhì Văn học Lưu Trọng Lư lần thứ V.

Ngòi bút của Trác Diễm khám phá nhiều mặt của đời sống. Viết về đề tài nào, người đọc cũng cảm tưởng như chị đang viết về mình, đắm đuối và thân thuộc. Văn xuôi của chị hướng phần nhiều đến tình yêu và thân phận. Ngôn ngữ giản dị, chân thành nhưng nồng nàn, da diết. Đặc biệt, chị sinh ra và lớn lên ở vùng đất có bề dày văn hóa, nên đọc văn chị, người đọc còn có thể hiểu hơn về phong tục tập quán và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

HOÀNG THỤY ANH giới thiệu

 

ĐƯỜNG QUA TUYẾN LỬA

 

– Bà ơi, cháu Lư đây!

Như một dòng chú thích để đánh dấu cho sự hiện diện của chiếc ba lô mà cô vừa quăng lên chõng.Vội vàng móc chiếc Canon 7.1 bên hông Lư phóng ngay lên đồi, mặc mưa phùn buổi sáng đậu thành từng đám trắng xóa lên vai và lên những cọng tóc mai ở hai bên thái dương.

– Ôi, mèn ơi! Lư kêu lên khi nhìn thảm trắng tơi tớp rụng dưới chân mình. Cô ngẩng đầu nhìn tán cây sưa, những bông hoa dịu dàng tinh khiết vẫn đang thi nhau rơi dưới cơn gió chớm mùa tháng ba âm lịch.

– Ta đã không kịp về đón mùa hoa sưa bung nở giống như nàng Bân cũng chẳng đan kịp áo rét cho chồng. Nắng lên rồi! Lư rơm rớm nước mắt nhìn vạt nắng lan nhẹ trong mưa mù nhuộm những chùm hoa trắng muốt như bông tuyết còn sót lại trên cao và không khỏi nuối tiếc trước vẻ đẹp tinh khiết vừa tàn phai.

Cô lững thửng đi xuống đồi, một nỗi mất mát mơ hồ xa xôi nào đó chợt dâng lên bao trùm lấy tâm hồn cô. Có lẽ nó ám ảnh từ câu chuyện cuộc đời của ngoại.

***

– Sang tháng tư rồi, còn đâu hoa sưa nữa hả cháu. Chúng nhanh nở và nhanh tàn lắm, chỉ cần một cơn mưa phùn là rụng hết.

– Hoa Sưa hay là Xưa hả ngoại?

Thực ra tên gốc của loài hoa trắng muốt này là sưa nhưng những người yêu quý hoa thường coi đây là những bông hoa “ Xưa” vì hoa này thường gắn với những kỷ niệm đẹp và cũ kỷ nên được gọi là “Xưa” cho thêm phần ý nghĩa đó cháu.

– Hèn gì bà đặt cho mẹ cháu cái tên Trịnh Thu Xưa, ban đầu cháu chưa hiểu nên nghe cứ lạ lạ bà ạ.

– Ừ. Mẹ cháu là bông hoa “Xưa”. Ngoại vừa nói vừa lom khom kéo cái ba lô trên chõng định đưa vào nhà cất nhưng cánh tay bà chẳng đủ sức để nhấc nó lên.

– Chi mà nặng trịch như đá rứa hả Lư?

– Dạ, là sách vở và quần áo cho những ngày đi thực tế đó ngoại.

– Cháu định đi vùng nào?

– Dạ, lên đường 20 ngoại ạ. Chiều nay cháu sẽ sang mượn con “ Cúp cà tàng” của anh Huy bỏ không trong kho “khám bệnh” cho nó chút là có thể chạy ngon. Anh Huy bây giờ khoái đi xe SH nên chẳng đoái hoài gì đến nó nữa. Mà ngoại ơi, Cúp 81 bây giờ là mốt là của hiếm đấy. Cháu mê nó lắm, chiều nay phải nài nỉ anh Huy để lại cho cháu mới được.

– Ừ…nó bỏ không thì chắc sẽ để lại cho thôi. Rứa cháu lên đây đã nói cho bố mẹ biết chưa? Mỗi lần nghe tin cháu đi lên khu vực Trường Sơn là bố mẹ cháu lo sốt vó và trách ngoại sao không ngăn cản cháu lại.

Lư mỉm cười nhẩn nha chiếc lá sung chan chát trong miệng thầm nghĩ: Bà không thể biết được cái cảm giác chạy xe uốn lượn dưới mép núi đá vôi của đường Trường Sơn thú vị đến thế nào đâu. Hai bên những cung đường bạt ngàn hoa sim và hoa mua tím ngắt, những ngọn măng le cong vít cần câu và sương mù bồng bềnh như mây dưới thung lũng. Vẳng từ bên kia mái rừng là những tiếng kêu khẹc khẹc của loài linh trưởng và tiếng hót của muôn loài chim nghe thật thích tai biết bao. Nói không ngoa, một lần Lư đã từng chứng kiến bầy chó của trạm kiểm lâm đuổi rượt lũ khỉ chạy tao tác trên đường mòn khi chúng kéo nhau đến phá phách những vạt ngô non. Mùa này đấy! Ôi nhắc đến Trường Sơn, nghĩ đến trảng rừng sim mua lòng Lư lại cảm thấy nôn nao.

***

Dòng Son xanh ngắt một màu phẳng lặng, nhà thờ đổ bóng in xuống mặt nước, năn lác dập dìu. Đôi, ba chiếc thuyền máy vừa chạy qua xô những con sóng ì oạp vỗ vào khoảng bê tông đã tróc lên từng đám. Đây là bến trung chuyển Khương Hà năm xưa- nơi hàng nghìn người làm nhiệm vụ bốc vác hàng lên các bến bãi, cùng nhiều đơn vị thanh niên xung phong và cầu đường. Vùng đất mang tính đụng đầu lịch sử nên không một ngày nào vắng tiếng gầm rít của các loại máy bay và tiếng nổ tàn bạo của bom đạn giặc Mỹ. Nhưng bây giờ trước mặt Lư khi nhìn về phía tây, phía những ngọn đồi trập trùng sắc tím. Lòng Lư dâng lên một niềm xúc động khó tả khi nghĩ tới nơi mình đang đứng cũng chính là nơi mà nhà thơ Phạm Tiến Duật đã từng vút lên những vần thơ sau mà này luôn nằm trong hành trang của bộ đội.

“..Đường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn Đông với Trường Sơn Tây   

Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa khí trời cũng khác

Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh

Từ nơi em gửi đến nơi anh

Những đoàn quân trùng trùng ra trận

Như tình yêu nối lời vô tận…”

Lư bấm một vài kiểu ảnh lưu lại, sau đó tiếp tục chạy xe dọc con đường ven sông Son qua bến phà Xuân Sơn, theo đường Hồ Chí Minh mở rộng rẽ vào tuyến đường mòn Hồ Chí Minh nhánh Tây để đến Ngầm Trạ Ang- Ngã ba gặp nhau giữa hai tuyến đường mòn Hồ Chí Minh nhánh Đông và Hồ chí Minh nhánh Tây. Chạy xe trên con đường mòn, một bên là vách núi một bên là vực thẳm, Lư nhìn xuống lòng suối bắt đầu bước vào mùa khô trơ ra những  phiến đá màu nâu sạm. Cả một vùng bươm bướm trắng bay rập rờn. Nhìn cảnh này Lư nhớ lại mỗi khi cô hát bài Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây đến cái đoạn: Còn em thương bên Tây anh mùa đông/ nước khe cạn bướm bay lèn đá/ biết rằng anh say miền đất lạ…Bà thường thở dài thốt lên: Ôi dào, không lãng mạn đẹp đẽ như rứa mô con. Nếu thấy cảnh đó lúc chập tối thì cầm chắc cái đói vì không có nước nấu cơm. Cả chục cây số vuông quanh đó không thể có nguồn nước. Do công việc liên tục và vất vả, lại ở giữa rừng sâu, hơn nữa hồi đó đơn vị phát quân trang như nam giới nên các chị em trong đội thanh niên xung phong của ngoại cứ quần cộc áo may ô đi làm cho tiện. Bị muỗi, ruồi vàng, sên vắt cắn, sinh hoạt giữa rừng thiêng nước độc, bom đạn, hóa chất độc hại của địch rãi xuống thường xuyên nên bệnh tật cứ đeo bám đầy người nhất là hắc lào, ghẻ lở…

Bà với mấy chị em cứ cuối buổi chiều quây một tấm bạt rồi quay người vào đống lửa mà hơ người cho khô, cho đỡ bệnh ngoài da. Nhiều cô gái trẻ măng lúc mới xung phong vào mặt trận mở đường này tóc tai dài xanh mướt mà chỉ sau một thời gian ngắn tóc bị rụng dần, trơ ra từng mãng da đầu, biết vậy nên mỗi lần cánh lái xe từ Nghệ An hành quân vào miền Tây Quảng Bình đều chứa lên xe vài thùng phuy nước,vài bó sả, mấy chùm bồ kết, mấy quả chanh… cho chị em gội đầu. Những món quà tuy đơn sơ giản dị nhưng vô cùng quý giá bởi chứa đựng những tình cảm của đồng chí đồng đội dành cho nhau. Rồi ngoại đọc một bài thơ, giọng tựa như có hơi sương, như là nước mắt, khẽ khàng như những bông sưa rụng trên đồi.

Lũ chúng em đi thanh niên xung phong

Không tìm chồng- đi mở đường đánh giặc

Thương người xưa qua suối đầy nước mắt

…Bom giặc đánh ngày, bom giặc đánh đêm

Biết suối rụng tóc nhiều, chúng em vẫn ở

Thương anh xe vượt đêm đêm

Qua đoạn suối này anh lại thương em

Đêm thông đường rừng nhiều sương muối

Mấy trận bom vùi tóc em phải gội…

***

Xe càng vào sâu, rừng đại ngàn Trường Sơn càng rợp bóng che phủ. Con đường gập ghềnh uốn khúc tạo nên những cú xốc mạnh như trời giáng khiến cả thân hình của Lư cứ nhảy lên xồng xọc, đôi lúc gây cảm giác chóng mặt buồn nôn. Lư tấp xe vào lề đường lúi cúi kéo vạt áo lau lại cặp kính mắt, thầm nghĩ: Mình đã đi quá sâu rồi! Và đến khi ngẩng lên thì một cảm xúc vỡ òa  sau đó lặng người đi. Trước mắt Lư là cả một rừng cây săng lẻ cao vút mấy chục mét dang rộng cánh tay chào đón cô. Những bóng nắng tròn xinh như trứng vịt lọt qua tán lá vung vãi xuống mặt đất điểm tô cho vẻ đẹp diễm kiều ma mị của khu rừng. Cứ thế, một không gian đẹp đến ngỡ ngàng mở ra trước mắt Lư chẳng cần mỹ lệ trau chuốt, chẳng cần sắp đặt tinh tế, rừng săng lẻ mộc mạc đơn thuần xạc xào trút lá vàng khô. Lư ngây ngất cùng du khúc của rừng và ngắm những cụm hoa tím nhỏ đẹp lãng mạn như đang ở trời tây. Chiếc máy nhỏ trên tay cô không ngừng vang lên những âm thanh tách tách. Đi đến mỏi chân Lư dừng lại dưới một gốc cây săng lẻ cổ thụ xem lại mấy bức ảnh rồi thiếp đi từ lúc nào.

Trong giấc ngủ mê man giữa rừng những câu chuyện không đầu không cuối cứ bùng bùng bên tai:

– Sao vườn nhà mình nhiều cây cổ thụ thế hở ngoại?

– Ừ, làng ta là làng cửa ngõ mặt trận do đó mỗi tấc đất, mỗi mảnh vườn đều trở thành bãi tập kết hàng hóa, vũ khí chi viện cho chiến trường Miền Nam, thành những cơ sở hậu cần của quân đội, những bãi dấu xe, che pháo, che những đoàn quân vào mặt trận. Riêng nhà mình đã hiến cả nhà cả vườn cho binh trạm giao liên làm kho. Cuối mùa khô năm 1969-1970 cả vùng rừng núi đá vôi Kẻ Bàng mênh mông bạt ngàn dưới chân Trường Sơn hùng vĩ đã bị bom đạn và lửa na pan của kẻ thù truốt sạch trơ trụi. Lèn đá tan nát. Cả tuyến đường 20 bừng lên như một con rồng phun lửa, bụi bay ngút trời. Hai dòng người song nhau luân chuyển ngược xuôi trên con đường ấy. Hàng vạn tấn hàng hóa, hàng vạn lượt quân đi vào chiến trường và hàng ngàn thương binh và bệnh binh chuyển về hậu cứ. Nhà mình đã đón biết bao lượt quân đi và quân đến ghé lại. Mỗi cây có mặt trong mảnh vườn này là khắc dấu bao kỷ niệm. Cây bằng lăng này là do bộ đội Tính quê Thanh Hóa trồng, những cây săng lẻ kia là của tốp lính Hà Nam, còn cây sưa này là…Giọng ngoại như nghẹn lại…bà rưng rưng đưa tay vuốt ve lên những vết chặt nham nhở của thân cây như vuốt ve vết thương trên ngực của Trịnh Hùng- Người đàn ông mà ngoại yêu tha thiết hồi còn trẻ quê ở Tiền Hải -Thái Bình.

Biết nhà ngoại có cây sưa cổ thụ có giá trị lên đến tiền tỉ nên bọn trộm ngày đêm không ngừng rình rập ở khu vườn hòng đốn hạ nó. Ngoại phát giác được liền báo cho bố mẹ Lư biết và ngay tuần sau một bờ tường rào kiên cố được bao bọc xung quanh khu vườn. Cả ngoại và Lư đều không thích bờ rào bê tông cứng nhắc ấy nhưng cũng buộc phải làm thế để bảo vệ cây sưa kỷ niệm.

Từ ngày cây sưa bị cốt chặt nham nhở sức khỏe của bà cũng yếu dần đi, có lẽ càng đến về già bà càng cảm thấy cô đơn và những yêu thương xưa cũ thi nhau kéo về bóp chặt lấy vòm ngực xẹp lép của bà với những cơn ho rút ruột trong đêm. Từng mảnh ký hiện lên cứ như thực như mơ.

– Hoa sưa trắng trong và tinh khiết như tâm hồn của em vậy Liêu ạ. Anh nhặt được cây con này ở rừng Trường Sơn sau một trận bom xới. Em dẫn anh ra vườn trồng nó nhé để đánh dấu tình yêu của anh và em.

Liêu xúc động rửa lại vết thương trên ngực Trịnh Hùng rồi dìu anh ra vườn. Sợ anh đi xa nữa sẽ mệt nên Liêu chỉ cho Trịnh Hùng một khoảnh đất gần ngay chỗ cây bằng lăng của những tốp lính trồng trước đó.

– Anh không thích trồng ở đó, em sẽ lẫn lộn với cây của những chàng trai khác rồi quên mất anh thì sao. Dẫn anh ra phía sau đồi kia đi.

Liêu mỉm cười véo vào má Trịnh Hùng rồi úp mặt vào ngực anh nũng nịu:   Làm sao mà em quên anh được chứ.

Hùng nhăn nhó kêu lên: Á đau!

– Ôi em xin lỗi, Liêu rời khỏi vòm ngực anh, mắt rưng rưng vuốt ve những vết thương.

Hùng đưa tay khẽ lau những giọt nước mắt trên má Liêu rồi kéo người yêu bé nhỏ vào lòng thủ thỉ: Anh đùa chút thôi, em đừng khóc nhé.

Họ yêu nhau say đắm ngay chỗ cây sưa vừa mới được trồng và tối đó Trịnh Hùng chia tay Liêu về lại binh trạm. Có ai ngờ đây cũng là lần cuối cùng mà họ được ở bên nhau.

Bà trở mình trên chiếc chõng tre mơn man gió chiều. “ Quên không hỏi con Lư lên Trường Sơn mấy ngày về nữa”  Bà ho kéo nực từng đợt.

Đời người sắp nhòa vào ánh tà dương mà ký ức vẫn như tươi rói, vón cục lại như máu có thể vuốt ve và sờ nắn được.

***

Những âm thanh vang rền ngoài kia đã đánh thức Lư dậy. Chiều rồi ư? Lư thảng thốt nhìn ngắm khu rừng nhạt nhòa trong thứ ánh sáng ma mị bí ẩn. Cô chạy một mạch ra khỏi khu rừng và như có ai xui khiến cô lao ra đường dang tay chắn ngang đoàn xe đang đi tới.

Một người đàn ông đầu bạc mặc bộ quần áo lính đã cũ ngồi trên ca bin ló đầu ra hỏi: Có việc gì thế hả cháu gái?

Cô liếc nhìn đoàn người ngồi trong xe đa phần họ cũng đều mang những bộ quần áo lính đã bạc màu và có thêm những người đàn bà ăn mặc bình thường khác, mắt họ đỏ hoe, tóc tai rối bời có lẽ họ đã trải qua một chặng đường khá xa để tới đây.

– Dạ cho cháu hỏi đây có phải đoàn xe của Hội Cựu chiến binh đi tìm mộ liệt sĩ không ạ?

Ừ đúng rồi cháu.

Dạ, may quá cho cháu theo với có được không ạ? cháu đi tìm ông ngoại cháu, ông ngoại cháu cũng hy sinh ở cánh rừng Trường Sơn này.

Ông cháu quê ở đâu?

Dạ quê ở Tiền Hải- Thái Bình.

Ồ thế thì trên xe cũng có người đồng hương với ông cháu đây này.

Dạ, cảm ơn các bác, các cô chú. Xin hãy đợi cháu ít phút để cháu vào gửi xe.

– Để anh giúp cho. Một thanh niên dáng hình cao lớn nhảy xuống và giúp cô đưa xe vào trạm kiểm lâm ngay đấy.

***

Lư ngồi cạnh chàng trai đã giúp cô gửi xe, anh không dám nhìn thẳng vào mặt cô để hỏi chuyện mà thỉnh thoảng chỉ liếc vào gương chiếu hậu, có nét gì đó  thật bâng khuâng khó tả.

Quả thực, mới đầu khi vừa trông thấy cô như con chim nhỏ chạy ra chắn ngang đường trái tim chàng trai bỗng dưng đập dồn. Như một luồng điện xẹt ngang anh nhận ra sức mạnh tiềm ẩn trong con người của cô gái và cả nét đối lập mỏng manh qua dáng hình, qua đôi mắt thảng thốt. Nó tạo ấn tượng trong anh mạnh đến mức anh cảm thấy cơ thể mình run lên như gặp khí trời lạ ở vùng Trường Sơn này.

–  Anh cũng quê Thái Bình à? Anh đi tìm ai thế? Lư quay sang anh hỏi.

– Ừm, anh là bộ đội ở Thái Bình, anh đi tìm ông chú bà con xa trong họ của anh hy sinh ở trong này. Bà cô của anh lớn tuổi rồi nên mới nhờ anh theo đoàn đi tìm giúp. Đáng lẽ ra anh đã đi tìm lâu rồi nhưng vì công việc nên cứ lần nữa mãi đến hôm nay mới cắt được phép. Còn em đang học hay đã đi làm rồi?

– Em là sinh viên năm cuối khoa báo chí. Em có một tháng để đi thực tế làm đề tài tốt nghiệp.

– Thế à.

Vậy rồi thôi, họ im lặng ngồi bên nhau cho đến khi xe dừng lại ở một mái đá bên cánh rừng Trường Sơn. Bên trái là một vực thẳm, đoàn người lần lượt xuống xe và lần theo sự chỉ dẫn của một cựu chiến binh lớn tuổi nhất. Lư thầm nghĩ, liệu mấy chục năm rồi, trí nhớ có còn minh mẫn để đưa đường dẫn lối? Nhưng cô đã sai, ký ức của những người lính đã một thời chinh chiến vào sinh ra tử ở mặt đường này không bao giờ phai nhạt, dù rừng núi, đất đai có bị mưa lũ sói mòn, thời gian cây cối phủ xanh rợn ngợp. Họ vẫn nhận ra dấu tích bên mái đá này là cây dâu da rừng cao vút, quả vàng mọng chi chít xum xuê từ thân kéo dài tận gốc. Lư gần như reo lên khi vừa đi xuống vực.

– Khoan, để cô khấn xin đã rồi hái. Một người đàn bà áo đen tiến lại gần và chiếu ánh nhìn rất sâu vào mặt Lư rồi đưa tay ấn những điểm huyệt trên đầu. Bà lẩm nhẩm nói những câu gì đó như là thần chú. Thắp nhang khấn vái xong, đoàn người tiến hành đào xới. Mấy chục phút sau họ đào được dưới gốc cây dâu da một bộ hài cốt liệt sĩ, tất cả đều đã bị hóa thành mùn đen chỉ còn lại một vài mẩu xương nhỏ và chiếc kẹp ba lá đã hoen gỉ.

Lư nhớ có một lần đi lên đường Hai Mươi để lấy tư liệu sống từ các cựu chiến binh khi họ về thăm lại chiến trường xưa. Lư không tin lắm vào chuyện lên đồng hay ma cỏ nhưng khi cô vừa thử khấn thì một nữ thanh niên xung phong quê Thanh Hóa hy sinh trên tuyến đường này đã nhập vào cô hơn hai giờ đồng hồ. Hôm đó cô đã kể lại rất rành mạch những trận đánh và còn chỉ cho mọi người biết nơi hy sinh của cô y tá này. Chính lý do đó mà bố mẹ cô rất lo ngại mỗi lần nghe tin cô đi lên Trường Sơn. Nhưng Lư thì không sợ điều đó cô thấy đây là một điều may mắn, không phải ai cũng được những người lính xin mượn thể xác để đi làm những điều ân nghĩa hôm nay. Bây giờ dưới vực sâu Lư đang khấn, cô nguyện cầu ở đâu đó dưới cánh rừng Trường Sơn trùng điệp này linh hồn của ông ngoại sẽ nhập vào trong thể xác cô mà dẫn lối. Lư nhắm mắt một hồi lâu, những giọt mồ hôi lấm tấm mướt ra trên trán và một bàn tay vững chải khẽ đặt lên vai cô: Em mệt à?

Lư mở mắt, Phú Thái- chàng trai bộ đội Thái Bình đứng trước mặt cô với vẻ quan tâm lo lắng.

– Em không sao, chỉ hơi mệt chút thôi anh ạ.

– Để anh dìu em lên trên kia đường nhé!?

– Dạ vâng.

Từ trên mặt đường nhìn xuống nơi những cựu chiến binh và các thân nhân của liệt sĩ đang gói ghém hài cốt vào một cái tiểu được phủ vải đỏ, một đàn bướm trắng bay từ dưới vực lên, lượn vòng xung quanh cô, quanh anh lính quê Thái Bình rồi bay đến chỗ của một cựu chiến binh cụt chân đang ngồi nghỉ bên tảng đá. Người cựu binh đưa máy ảnh lên định chụp một con bướm đang đậu trên một cành khô nhưng chưa kịp chụp thì nó lại bay sang đậu ở bên một tảng đá khác. Vài lần như vậy, cựu chiến binh thốt lên: Có phải đồng đội của tôi thì xin dừng lại cho tôi chụp một kiểu ảnh kỷ niệm. Tôi cũng muốn đi xuống dưới đó lắm nhưng ngặt nổi chân cẳng thế này không đi được. Ngay tắp lự con bướm trắng bay đến đậu lên mỏm cụt của người cựu binh. Không kìm được sự xúc động ông òa khóc to thành tiếng. Con bướm chuyển lên đậu giữa lòng bàn tay ông  một lúc rồi bay đi.

Mắt Lư đỏ hoe, vòm họng đắng ngắt: Ngoại ơi bây giờ ngoại đang ở đâu?

Cô xúc động thật nhiều, nhớ lại có lần nghe bà nói: Tính nết cháu thật giống ông ngoại, hào hoa và lãng tử còn cháu thì lãng mạn đến dại khờ.

Ngày xưa khi bà xung phong lên tuyến đường 20 làm đường và đã gặp ông trong một đêm biểu diễn văn nghệ ở binh trạm, ông ngoại là một cây văn nghệ hát hay đàn giỏi, đặc biệt mỗi lần tiếng sáo của ông cất lên là cả núi rừng như lặng đi, đám con trai con gái không ai bảo ai cũng ngầm đưa mắt tình tự, có nhiều đôi lần lượt rời bỏ chỗ ngồi đi ra suối. Họ hiểu rằng trên mặt trận này, lằn ranh giữa sự sống và cái chết vô cùng mong manh và được sống ngày nào là họ sống thật ý nghĩa ngày đó.

Mẹ Lư chính là kết quả tình yêu của ông và bà sau cái đêm ở vườn đồi ấy.Chỉ một lần thôi và ông vĩnh viễn nằm lại với núi rừng Trường Sơn. Mấy bận bà đi tìm ông nhưng đều không có kết quả, đất đá núi đồi đã vùi lấp ông ở nơi nào không lần ra được nữa và khi biết mình có thai, ngoại xin trở về trạm giao liên ngay tại nhà mình làm công việc chặt lá cây, tre, gỗ về thưng che các chỗ hở ngăn chặn lũ chuột để bảo vệ quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm…cho đến ngày sinh ra mẹ Lư.

***

Lư đang mơ màng với những mảnh vụn ký ức của ngoại thì tiếng sáo cao vút cất lên cắt đứt dòng suy nghĩ của cô.

“Gặp em trên cao lộng gió. Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ. Em đứng bên đường như quê hương vai áo bạc quàng súng trường. Đoàn quân vẫn đi vội vã. Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa…

Ôi, bác thổi sáo hay quá.

– Đây là cây sáo của một đồng đội tôi đã hy sinh, chúng tôi đều là những người lính văn nghệ nên rất hiểu nhau và thương nhau như anh em ruột thịt. Không biết bây giờ cậu đang nằm ở đâu giữa rừng cây, sông suối phẳng lặng này? Trịnh Hùng ơi…tôi đang thổi cái bài mà cậu thích thổi nhất đấy.

–  Kìa bác! bác vừa nhắc đến… người đồng đội cũ hy sinh của bác là Trịnh Hùng sao? Đó là ông ngoại cháu…Lư sà đến bên người cựu chiến binh và nắm chặt lấy cây sáo. Một nỗi xúc động trào dâng đến nghẹt thở, khiến cô không thể nói thêm được lời nào nữa.

Cháu gì ơi…mau xuống đây đi.

Lư lao tuột xuống con dốc phủ đầy lá và gai gốc, người đàn bà áo đen đưa cho cô một lọ belexilin có ghi tên tuổi và địa chỉ đầy đủ của người nằm ở dưới đó và nói sẽ đưa hài cốt đi thẳng về quê hương chứ không ghé ngang ghé dọc ở đâu hết.

– Ngoại ơi…Lư bốc một nắm mùn đất đưa lên ngang mặt, nước mắt lã chả rớt xuống những ngón tay run rẩy.

Phú Thái quỳ xuống bên cạnh Lư cũng xúc động không kém: Cô ơi, cháu đã tìm thấy chú rồi, cháu sẽ đưa chú về đoàn tụ với gia đình với quê hương Tiền Hải…

Lư quay sang nhìn Phú Thái, trong niềm xúc động không thể kìm nén họ ôm chặt nhau cười trong nước mắt.

– Anh sẽ đón ngoại và em ở Thái Bình. Một ngày nào đó…

Lư gật đầu. Rừng Trường Sơn ào ào lá đổ…

Khúc du mùa đang ngân.

            Quảng Bình, 7.4.2017

Tranh của họa sĩ Thành Chương

ROA LỮ GIÀNG ƠI

 

Thung lũng Ma Coong nằm sâu trong vùng Thượng Trạch. Như những thôn bản sống ở miền núi, phần lớn dân bản sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, chủ yếu là săn bắt, hái lượm. Mỗi độ xuân về, cứ đúng vào ngày rằm tháng giêng âm lịch là họ lại tổ chức lễ hội “Đập trống”. Đó là một lễ hội mang tính ngưỡng phồn thực nhằm tạ ơn trời đất, tạ ơn các đấng thần linh đã mang đến cho họ một cuộc sống khỏe mạnh, con cháu đầy đàn, một năm mùa màng thành công không bị các loài quỷ dữ phá phách, quấy nhiễu. Lễ hội đập trống thường diễn ra rất linh đình, náo nhiệt. Và sự hưng phấn, hoan lạc của loài người đạt đến đỉnh cao là giây phút chiếc trống bị đập thủng. Sau đó, từng đôi …từng đôi trai gái mất hút vào rừng để tận hưởng một đêm ân ái mặn nồng. Một đêm không giận hờn, ghen tuông mà chỉ có những ngọt ngào, đam mê và say đắm.

Đinh Lan đã nhiều lần nghe bố cô kể về vùng đất này nhưng ngặt vì những năm đó cô còn bận học nên chưa có cơ hội để đi. Mãi đến năm ra trường Đinh Lan mới có dịp đặt chân tới vùng đất hằng mơ ước.

Đúng là Ma Coong thật! Có gì đó vừa rùng rợn hấp dẫn, vừa đam mê và đầy sợ hãi. Nó cứ hút cô như một thứ bùa mê không tháo gỡ được. Càng ở lâu, càng tiếp xúc Đinh Lan lại càng khao khát được luồn sâu vào tận cùng hang hóc để khám phá, tìm hiểu. Cái nghề Việt Nam học xem ra rất hợp với một con người đầy cá tính như cô. Thích đi nhiều, khám phá nhiều về những vùng đất hoang sơ, bí ẩn… Nó thực sự đưa đến cho cô một cảm giác rất lạ, khó giải thích. Và cô gọi Ma coong là “ Thung lũng của sự bồn chồn”

Lễ hội năm nay cô lại đến, cũng mang theo một tâm trạng đầy vui sướng, lo âu và thấp thỏm. Mùi rừng rú thật kích thích và có tính chất gây nghiện với vô số những quả quen quả lạ chín nẫu hòa quyện vào nhau tạo thành luồng, thành khối di chuyển trong gió. Đinh Lan nghếch mũi ngửi, vô tình mắt chạm phải vầng trăng nhờ nhợ trôi trên đầu. Thứ ánh sáng ma quái hắt xuống mặt đất lỗ chỗ trắng đen từng đám khiến cô rùng mình.

Đinh Lan chuyển ba lô qua vai kia nhằm làm giảm nhẹ cho chiếc chân phải bị thương do bất cẩn trong lúc đi đường. Con suối nhỏ sùi lên trắng đục như sữa ngấm vào vết thương lạnh buốt. Những ngọn đồi bát úp chập chờn hiện ra trước mặt. Đinh Lan cố gắng trườn qua những dãy đồi, chân mỏi rã rời và dáng đi trở nên xiêu vẹo. Lẽ loi ở ngọn đồi phía bên kia là ngôi nhà sàn của vị pháp sư Đinh Mờng. Đã hơn mười năm nay lão không hề bước ra khỏi nhà và cũng chẳng buồn nói chuyện với ai. Quanh năm suốt tháng lão cứ ru rú ngồi trong xó bếp ngậm cái tẩu đen dài, bóng loáng, hút thuốc rê xì xèo. Ai cho gì thì lão ăn nấy. Nói chung lão chẳng buồn quan tâm đến thế sự bên ngoài. Nhưng mọi người lại cần đến lão vì lão có khả năng chữa bệnh bằng phép thổi kết hợp với niệm thần chú đại tài.

Thực tình, Đinh Lan rất muốn ghé vô thăm lão nhưng có một điều mà đến tận bây giờ cô không thể lí giải được. Căn nhà của lão…Ôi, phải xua đi thôi vì nghĩ đến đây Đinh Lan chẳng dám nghĩ tiếp nữa.

Không ngờ cây cầu gỗ sồi bắc qua đoạn suối AKy mấy ngày nay mưa lớn bị sụt lỡ, buộc phải đi đường vòng nên Đinh Lan tới bản bị muộn. Nhìn bóng mình ẩn hiện theo bóng trăng, chập chờn trong tàng lá rồi đôi khi cứ tự hù dọa mình. Đinh Lan mím chặt môi. Những tưởng tượng của ban ngày không giống như ban đêm. Ban đêm, khu rừng im ắng thật ma quái rùng rợn, bao trùm đầy bí mật. Từ vách núi, một vài bóng chim Chơrao bay vút qua thả lại giữa thinh không những âm thanh lạc lõng như tiếng nói của loài người từ muôn kỷ trước. Tiếng trống bùng…bùng từ xa dội lại. Đinh Lan mừng rơn vì biết sắp tới bãi đất trống giữa bản. Đúng rồi, họ đang còn dựng lều, treo trống để chuẩn bị phục vụ cho đêm hội sắp tới.

Từ xa, cả một vùng ánh sáng xa xỉ được bung ra từ chiếc đèn neon treo lủng lẳng trên cành cây Đinh lăng cổ thụ, cao vút cùng với chiếc trống đại. Đinh Lan vùng chạy tới chỗ ánh sáng nhưng càng cố chạy khoảng cách cứ như giãn ra và xa ngái thêm. Bóng trắng trước mắt lại chập chờn lên xuống và nhòe đi như ảo giác. Cuống họng nóng ran kèm theo hơi thở dồn dập, đứt quãng… Bàn tay ai đó đã đoạt lấy chiếc bình oxi ra khỏi mũi cô rồi nhấn chìm cô xuống một cái hố sâu đen ngòm, bưng bít những lau lách. Một nỗi sợ hãi mau chóng dồn lên đè dí, bóp nghẹn rồi áp đảo nhịp tim cô một cách thô thiển với sức mạnh đầy uy nghi và tự mãn của nó. Ngoài trời, mưa bụi bay lất phất. Gió rền rĩ lướt trên đầu như lưỡi quỷ liếm qua mặt. Và trong phút chốc bóng tối phủ rạp như một con ma rà khi đụn mây đen kéo đến. Đinh Lan vươn bàn tay lên kêu cứu trong tuyệt vọng. Cô lịm dần đi và người bắt đầu run run cơn sốt.

Song, trước khi trời sáng mùi thuốc rê khê nồng, mùi gừng tươi đốt cháy trong lò  củi đã đánh thức Đinh Lan ra khỏi giấc mê man.

– Hây dà! Đêm qua mi lại bị rớt xuống cái huyệt hoang ở đầu rừng Hốc Đựng. Năm ngoái mi cũng bị rớt xuống đó mà không nhớ à? Già Y Nhoong bưng đến cho cô một chén nước Khúc khắc màu nâu sóng sánh, vị ngọt lớm nhưng mau chóng hồi phục sức khỏe – tên thuốc Nam còn gọi là Thổ phục linh.

Đinh Lan sửng sốt nhìn già Y Nhoong giọng vẫn còn run: Huyệt hoang ư? Nhưng sao già phát hiện ra con?

– Không phải tao. Đêm đó nếu mọi người không đổ xô đi tìm con nai- vật lễ tế Giàng bị sổng chạy thì cũng không ai phát hiện ra mi ở dưới hố. Chính thằng Đinh Vư đã cõng mi đến nhà tao.

Mắt Đinh Lan ướt nước. Đây là lần thứ hai Đinh Vư đã cứu cô nếu không thì…Đinh Lan chợt nghĩ thương bố. Tại sao cô không biết trân trọng bản thân chứ? Cô lúc nào cũng khiến cho bố phải lo lắng và sợ hãi về những điều không may sẽ xãy ra với cô. Nhất là mỗi lần cô thông báo đi xa, mà ngặt nơi đó điện thoại lại luôn nằm ngoài vùng phủ sóng.

***

– Già có nhận ra ai đây không? Đinh Lan mở ba lô lấy tấm hình đưa cho già Y Nhoong xem.

– Hây dà! Mi chụp tau khi mô rứa? Già Y Nhoong vui sướng cười típ mắt, để lộ những chiếc răng đen thưa thớt.

– Anh Đinh Vư còn có ở đây không già?

– Đinh Vư mang bánh Tapeng Aray sang cho lão Đinh Mờng rồi. Đó là một chàng trai cực kỳ tốt, chỉ tiếc là…Già Y Nhoong buông lửng câu chuyện và đến bên chiếc hòm cũ kĩ cất giấu tấm hình như một vật báu.

– Tiếc điều gì hở già? Đinh Lan thực sự tò mò.

– Chuyện dài dòng lắm, từ từ rồi tau sẽ kể cho mi nghe sau.

– Vậy bây giờ già hãy cùng con đến nhà của Đinh Mờng được không?

Già Y Nhoong liếc vào cánh tay của Đinh Lan đang tấy sưng lên và có dấu hiệu lở loét, nói:

– Ừ, cũng nên đến nhà Đinh Mờng mà xin thuốc xức vào. Lưỡi cày rỉ sét rất dễ bị nhiễm trùng đấy.

Vậy là lần thứ hai Đinh Lan ở lại nhà của Đinh Mờng để chữa trị vết thương.

Căn nhà u uất và lạnh lẽo đến rợn người. Lão Đinh Mờng ngồi ở dưới bếp mắt nhìn mọi thứ xung quanh với ánh nhìn tư lự, không biểu lộ một cảm xúc gì. Đinh Lan nằm trên tấm phản với vết thương đã được đắp lá thuốc. Băng vải quấn quanh cánh tay ẩm ướt bốc lên một mùi hôi khinh khỉnh. Cô không ngờ vết thương lại diễn ra nghiêm trọng đến như vậy. Giọng hát “sâu nặng, trầm đục, hoang hoải, liêu trai, xước xát loài cỏ dại” của Khánh Ly phát ra từ chiếc điên thoại di động càng khiến ngày dài lê thê  “ Vềđây đứng ngồi, đường xa quá ngại, để lòng theo chút nắng bên ngoài, người đâu mất người, đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây. Chiều hôm thức dậy, ngồi ômtóc dài, chập chờn lau trắng trong tay...” Bên ngoài những bông hoa ALoang Ma Kẹo đỏ rực như những đốm lửa điểm xuyết trên nền lá xanh của cánh rừng Hốc Đựng. Màu đỏ lập lòe của tấm bùa bay phất phơ trên cánh cửa buồng gian trái khi có gió lùa qua. Nhìn một lúc, Đinh Lan cảm thấy hai mí mắt nặng chịch như bị ai đó khâu díp lại. Cơn sốt lại tiếp tục hành hạ cô sang đến ngày thứ hai…mê man.

– Hãy trả con cho tôi! Trả con lại cho tôi! Người đàn bà tóc tai rũ rượi hét lên và dơ cánh tay gầy trơ xương ra phía trước.

– Ta sẽ bóp chết các người…mau trả con cho tôi…trả con cho tôi! Giọng nói hối thúc pha lẫn sự căm phẫn.

Đinh Lan ú… ớ muốn mở miệng kêu lên: Đừng giết! Đừng giết! Tôi không bắt con của bà.

– Không…Chính mi ! Chính mi…! Người đàn bà không chịu buông tha vẫn tiếp tục tấn về phía cô. Càng đến gần gương mặt người đàn bà lại càng trở nên biến dạng, đôi mắt trắng dã và từ nơi khóe miệng hai chiếc răng nanh bỗng lòi ra, ghé sát mặt cô tạo nên sự chết khiếp tột độ.

– Không…không! Phải tìm cách giải thoát cho mình! Ý nghĩ tỉnh táo trong đầu đã nói cho Đinh Lan biết một điều rằng cô đang bị một âm lực theo sát và áp đảo mọi hành động phản kháng. Cô muốn ngồi bật dậy, muốn được hét lên và muốn đưa tay ra chụp lấy chén nước bên cạnh uống cho thõa cơn khát… nhưng toàn thân cô đã bị thít chặt trong một cuộn dây thừng lớn không thể cựa quậy. Bỗng một giọt nước rơi vào má, Đinh Lan cảm thấy toàn thân nhẹ bẫng. Có một cái gì đó nhầy nhụa, ướt át chạy dọc theo cánh tay rồi quét ngược dần lên ngực, lên cổ làm dịu đi mọi cơn đau nhức đang bò lên khắp cơ thể. Lúc này đầu óc Đinh Lan chưa thực sự tỉnh hẳn. Cứ u mê và đầy tăm tối. Cô không nghĩ được gì cả ngoài một mớ câu hỏi bùng nhùng. Tại sao cô cứ luôn nghĩ về Đinh Vư ? Và cái sự nghĩ đó theo thời gian đã hình thành nên một nỗi nhớ mơ hồ, xa lắc. Nó theo cô vào trong cả giấc mơ và rồi kéo bật cô dậy để bước đi. Đi về vùng đất mà đối với cô còn quá xa lạ, chưa hề rõ ràng về bất cứ một điều gì. Liệu có phải cô đã yêu Đinh Vư rồi không? Mà điều này xuất phát từ trái tim thực sự hay là cô đã bị hắn bỏ bùa yêu thuốc lú? Người dân tộc họ có thể làm vậy lắm. Còn nữa, những hồn vía ẩn hiện trong cái cột nhà gỗ lim? Rồi có gì bí mật bên trong căn buồng yểm lá bùa màu đỏ?

Tất cả mọi ý nghĩ đó đã bị cô vo tròn ném qua cửa sổ. Bởi đầu óc cô bây giờ căng thẳng quá. Cô không muốn nghĩ ngợi điều gì nữa. Đinh Lan nằm im, nhắm mắt tận hưởng sự vuốt ve mềm mại của làn gió núi. Nó dìu cô đắm chìm vào trong một cõi tê mê và lơ lửng. Bỗng một cú đâm thọc rát buốt xé rách cơ thể khiến cô mở bừng to mắt và kêu thét lên. Người đàn bà biến mất trong cột nhà gỗ lim và trước mắt Đinh Lan, không, trên người Đinh Lan là một thân hình vạm vỡ với những cơ bắp cuồn cuộn, hai cánh tay rịn ướt mồ hôi. Đinh Vư đăm đắm nhìn cô với đôi mắt đầy bí ẩn.

– Em đã ngủ suốt 2 ngày hai đêm! Đinh Vư run rẫy ôm chặt lấy cô rồi mê đắm hôn lên môi cô. Đinh Lan òa khóc khi cảm nhận cái vật ấm nóng vẫn còn cài im bên trong cơ thể mình.

Bên ngoài những hồi trống bùng…bùng thúc dục vang lên cùng hòa nhịp với điệu nhảy Chum xiêng, thậm thịch, ngã nghiêng từ phía cánh rừng Hốc Đựng dội lại. Rồi những tiếng la hét đầy sung sướng, hoan lạc khi mà trống thủng. Roa lữ Giàng ơi! Roa lữ Giàng ơi!( Sướng quá trời ơi! Thích quá trời ơi!) Trống thủng rồi…! Trống đã thủng rồi!

Đinh Lan ngước nhìn Đinh Vư. Ở anh có một vẻ gì đó thật hấp dẫn và lôi cuốn đến kì lạ. Cô định hỏi anh một vài chuyện nhưng lần nào Đinh Vư cũng khép chặt môi cô bằng những nụ hôn mỗi khi cô định mở miệng.

– Một năm qua anh đã giả điên để không phải vướng vào tục “ nối dây”. Vì anh không thể yêu một người con gái nào khác ngoài em. Đinh Vư thì thầm vào tai cô.

– Anh Đinh Vư! Cô khẽ kêu lên và ghì chặt lấy anh, một cách bạo liệt, như bị thôi thúc không kìm được.

Mờ sáng hôm sau, khi những tiếng gà rừng gáy sáng bên đồi. Đinh Lan cũng vừa thức giấc. Cô quay sang ngắm kĩ gương mặt vuông vức, quyến rũ của Đinh Vư và Đinh Vư cũng để yên đầu cô trên cánh tay của mình. Trời sáng dần. Những tiếng nói lao xao trên khắp các nẻo đường, từng đôi trai gái bịn rịn rời nhau đầy lưu luyến và hẹn mùa này sang năm lại về chung vui lễ hội. Đinh Lan đi bước lại gần cửa sổ mở ba lô lấy tấm hình trao cho Đinh Vư. Bỗng một luồng gió lạnh thộc vào người khiến cô rùng mình. Và bên kia “Sạt!” một tiếng- Cánh cửa buồng gian trái bật mở. Đinh Lan liếc nhìn vào bên trong, dưới ánh sáng ban ngày cô nhìn thấy rõ ràng có một xác chết được đặt bên trên nắp quan tài. Khắc năm 1986! Như vậy xác chết này đã tồn tại được 26 năm. Nhưng mái tóc người chết vẫn nguyên màu đen mượt, tay chân đã khô quắt teo tóp lại như được tẩm một thứ hóa chất kì lạ, không hề có dấu hiệu phân hủy.

Đinh Lan cứng đờ người và gáy tóc dựng đứng lên. Cô không còn tâm trí nào để đáp lại những câu hỏi của Đinh Vư nữa nên cứ nói năng lộn xộn.

– Em sẽ trở lại đây chứ?

– Anh muốn thế?

– Ừ, muốn!

– Thật kinh hoàng!

Đinh Lan mang ba lô chạy như bay ra khỏi căn nhà đầy ma ám. Đinh Vư định đuổi theo nhưng từ trong xó bếp Đinh Mờng lao vụt ra như một con chim két, mặt mày lão xám ngắt:

– Thằng điên, mau cài then buồng lại !

Từ trên đồi Mụp Cụp, già Y Nhoong lật đật trượt xuống, đôi vú lòng thòng chảy xệ xuống thắt lưng, lúc la lúc lắc.

– Hây da! Đợi tao hỏi chút… Mi chạy chi như ma đuổi rứa? Khéo lại rơi xuống vũng huyệt hoang đó.

– Đúng rồi! Huyệt hoang? Họ định chôn ai ở đó? Đinh Lan quay ngoắt lại nhìn già Y Nhoong. Sắc mặt tái xanh nhợt nhạt.

Già Y Nhoong cầm con rựa phứt đám lau rụng tơi tả xuống huyệt, chỉ tay nói:

– Chỗ này cách đây hai mươi mấy năm con Y Tha đẻ con không may bị băng huyết rồi chết. Họ định chôn luôn cả đứa con gái của Y Tha theo mẹ. Nhưng Thượng úy Đinh Hùng đã nhảy xuống huyệt cướp con bé mang về dưới xuôi. Cũng từ đó hồn của con ma mẹ luôn hiện về bắt vạ những người dân thôn bản nên lão Đinh Mờng đã đào xác đưa con gái lão về nhà. Lúc ấy mọi người mới tá hỏa ra xác chết đó vẫn còn nguyên như người sống đang nằm ngủ. Bây giờ vũng huyệt thả hoang, lau lách mọc um tùm, che khuất. Người nào đi không quen đường là bị rớt xuống huyệt gãy hết tay chân. Biết rứa, nhưng chẳng ai dám lấp vũng huyệt đó đi. Sợ vạ lây…Lời già Y Nhoong nhập nhoằng cùng với giọng nói thâm trầm văng vẳng bên tai.

“ Đinh Lan à! Từ nhỏ con đã tỏ ra rất thích bông lau cho nên bố thường treo ngược từng chùm trên đỉnh màn cho con ngắm. Lau trắng rũ bờm xuống phất phơ như đuôi ngựa khiến con cười tít mắt. Vì thế, khi làm giấy khai sinh cho con, bố quyết định lật ngược chữ Lau thành chữ Lan.”

– Bố! Bố ơi! Đinh Lan thảng thốt kêu lên rồi bật người ngồi dậy. Ngoài trời mưa bụi bay, lá vàng đổ tơi tớp. Những hạt nước li ti xiên qua khung cửa rồi đậu lên trên những sợi bạc hiu hắt bất định. Đinh Lan ứa nước mắt: Nó là hoa lau hay chỉ là cái bóng mờ nhòe, phôi pha của một loài hoa tiền kiếp?

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên phát ra từ quán cà phê đầu góc phố lại khiến cô càng thêm nhớ quay quắt một người. “ …Về đây xếp lại, ngày trong nếp ngày, vội vàng thêm những lúc yêu người, cuồng phong mỏi cánh, về bên núi đợi. Ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay…”

Cô khoác thêm cho mình một chiếc áo lạnh trước khi ra ngoài…

Quảng Bình, 30.7.2015

Tranh của họa sĩ Nguyễn Quang Thiều

NƯỚC MẮT PHƯỢNG HOÀNG

 

“ Trong truyền thuyết phượng hoàng là sứ giả hạnh phúc của thế gian mỗi cách năm trăm năm, phượng hoàng sẽ mang theo tất cả niềm bất hạnh không vui cùng với hận ân oán của nhân gian, dấn thân vào trong hừng hực liệt hỏa để tự thiêu, lấy sinh mệnh và kết thúc mỹ lệ để đổi lấy sự tường hòa và hạnh phúc của thế nhân. Sau khi thân thể trải qua sự thống khổ cùng cực lớn lao cùng với luân hồi phượng hoàng lại có năng lực niết bàn sống lại, càng trở nên hoàn mỹ hơn, rực rỡ hơn, truyền kỳ hơn”…

Tôi gấp sách và nhấp ngụm cà phê trước khi bắt đầu một ngày mới.

Đám lá mục ẩm ướt dưới chân dính bệt vào nhau bởi mưa dầm dề cả nửa tháng, đám lá mọi ngày trời nắng chỉ cần sơ ý để tàn thuốc rụng xuống là bùng cháy dữ dội. Tôi và chị vườn đã khiếp hồn với sự cố đó hồi đầu tháng tư năm ngoái khi lên thăm vùng đồi này, tay nhiếp ảnh mặt mày xám ngoét chẳng thể ngờ đốm đỏ từ tay anh ta vừa quẳng xuống ngay lập tức biến thành con sâu lửa ngốn nhanh vào đám lá khô và được gió thổi bốc lên cao, lửa hừng hực réo rắt, hô hoán người giúp cũng không cách gì dập nổi dù đồi nằm gần ngay cạnh hồ nước. Chỉ trong thoáng chốc mà hơn một héc ta keo tràm đã bị lửa thiêu trụi. Thật tai hại quá!

Chị vườn nhìn đám keo tràm mới vươn xanh, cười nói: Năm nay tay nhiếp kia không đi theo em nữa à?

– Tay ấy vừa “ mua dây buộc mình” rồi chị ạ. Đang ở nhà tập làm đứa học trò ngoan của cô giáo. Thật buồn cười nhớ lại cái đôi mắt liêng liếc của hắn thăm dò thái độ của vợ khi mở ba lô lôi cái máy ảnh. Thoạt nhìn dáng người tựa nghiêng bên cửa, hơi thở dài hơn 1mm và nặng hơn 1g so với thường ngày thoát ra từ cái mũi thanh thanh xinh xắn ấy đã khiến hắn rụt lại “Thôi chị đi một mình vậy”. “Ok”. Tôi nháy mắt trêu chọc hắn. 45 phút vượt qua những đường cong quyến rũ của cung đường thông vi vút, tôi đã có mặt tại vùng đồi này.

Chị vườn dẫn tôi tới hồ nước. Mặt nước là là những đụn sương từ trong núi ùn ra, vẻ xanh biếc phẳng lặng của mặt hồ như mảnh gương soi màu thạch. Yên bình đến thế là cùng. Bỗng con chồn núi từ bụi rậm phóng ra như một chiếc tàu ngầm xé tan mặt nước hình rẻ quạt.

Chị vườn nhặt một viên sỏi ném về hướng đảo nhỏ giữa hồ, nói: Chỗ kia là nơi cò hay về đậu trắng lóa. Những buổi chiều khi mặt trời lui dần về phía đằng núi kia, mặt nước khúc xạ ánh sáng lấp lánh như lông vũ phượng hoàng. Em biết không, hồ nước này có hình chim phượng đấy, đêm trăng trên mặt hồ có bầy tiên nữ lã lướt.

– Chị lại xem phim cổ trang Trung Quốc đấy à?

– Không, là nhà sư nói.

Chị vườn nheo mắt nhìn ra xa hồ: Cách đây 25 năm khi một nhà sư già vô tình đi ngang qua đây, ông đứng nhìn một lúc rồi bảo: Thế đất thế núi ở đây hình rồng, phần đuôi nằm ở khu chợ, phần đầu kê hướng Đông của xóm năm bên dưới, đó là những vùng đất sát chủ, không tốt. Còn dải đất nhà chị thuộc vào mình rồng nên rất thiêng, rất thịnh vượng. Coi ngó một lúc nhà sư có ý định mua quả đồi nhà chị để xây chùa nhưng anh nhà chị không chịu, kể cả dân Tây về đây cũng gạ gẫm đòi mua mở du lịch.

Tôi ngắm nhìn hồ nước và dãy núi. Đứng ở một mô đất cao nhất nhìn bao quát, uốn lượn hai bên núi là hai cánh chim xanh biếc, còn giữa là mình xanh lấp lánh ánh bạc, mỏ chim chầu lên một ngọn đồi khác. Còn chỗ tôi và chị vườn đang đứng, điểm xuyết những cụm hoa loang loang đa sắc chính là đuôi của con chim phượng hoàng.

– Nay với em đúng là có duyên thật, mà em thuê đất lâu dài đây chỉ với ý định trồng hoa thôi sao?

– Dạ, em rất thích nơi này và muốn biến nó thành một vùng đồi thật thơ mộng, sau đó làm gì thì hẵng tính.

– Em đúng là dân văn chương, được bao nhiêu vứt vào đó rồi có kham nổi không hay rồi lại bỏ cuộc thì tội em quá. Anh chị đào hố định bỏ xuống đây mấy trăm gốc ổi, mỗi năm thu hoạch cũng được mấy chục triệu.

Chị vườn cười chất phác vừa đi vừa tránh giẫm lên những khóm cải và tần ô mà tôi nhờ chị rắc xuống cách mấy ngày trước đó.

Chị vườn dẫn tôi thăm đồi một lúc rồi đi xuống nhà, tôi tiếp tục đi vòng lên những trảng đồi cao hơn và nhìn xuống những mái nhà lô xô ngói nâu ảm đạm. Chợt thèm một điều gì đó ấm áp hơn. Mùi khói hoặc một tảng nắng chẳng hạn.Tôi suy nghĩ điên tàng đến mức thèm bắt những sợi khói quấn quanh cổ và thèm cầm một tảng nắng vàng giòn lên miệng cắn. Vừa đi vừa suy nghĩ mông lung tôi chợt bắt gặp một mùi hương quen thuộc, mùi gì nhỉ? Thế đấy, có những thứ quen thuộc đến mức nhiều khi ám ảnh ta đến mù mờ và không sao lôi nó ra được khỏi ký ức để vực dậy. Ô kìa, có những sợi khói thật và những nhịp khua đều vang lên sao cũng quen thuộc quá.

Tôi đi dần xuống chỗ có những lọn khói bốc lên cao, xuyên qua mái ngói nâu… Bỏng ngô! Tôi kêu lên như vừa túm được vạt ký ức xa xưa mà dựng dậy. Cạnh bếp, tôi ngắm kỹ gương mặt của bà cụ, hai sợi lông mày nhíu lại và vầng trán xếp lớp cũng không giúp cho tôi nhận ra bà cụ ngay lúc ấy. Phải nhờ khối u nổi cộm trên lưng tôi mới gọi tên cụ Tép! Đúng cụ Tép rồi! Hóa ra cụ lên đây sống sao?

Bà cụ ngừng khua chỗ ngô trên bếp nhíu mắt nhìn tôi, bà không nhận ra đâu vì chúng tôi xa nhau dễ đến hai chục năm rồi. Xúc động tôi vòng tay ôm lấy bà cụ. Ký ức tuổi thơ trượt về trong tôi mồn một, tí tách những hạt bỏng ngô rang cát nở hoa thơm nức.

***

Cây mít nằm mé bên cánh đồng làng, chẳng biết ai trồng từ bao giờ, nhà cụ Tép khi xưa ở đó. Khi ấy lũ trẻ chúng tôi khoảng chừng lên 7 lên 8, còn cụ Tép đã sém 60. Gọi là nhà nhưng thực ra đó là một cái chòi, người làng chỉ tụ tập ở đó để trú mưa hoặc tránh nắng khi đi làm mùa. Cụ Tép sống thui thủi một mình, không con cái không bà con thân thích. Thực ra thì cụ có một đứa con nuôi, nhưng nghe nói người con đó đã bỏ bà cụ để ra đi. “Đó không phải là mẹ đẻ của mi đâu Đam à, mẹ mi ở tận ngoài Bắc cơ, là công nhân vô đây làm đường và đẻ ra mi”. Người đời cũng độc miệng thật. Chỉ vì câu nói đó mà nó bỏ bà cụ để đi tìm mẹ đẻ của mình. Ngày nó bỏ đi bà cụ khóc hết nước mắt, dù gì bà cụ cũng một tay chăm bẵm nó từ khi lọt lòng cho đến khi nó lên chín, bà thương yêu nó chẳng khác gì máu mủ ruột rà của mình. Người con trai ấy đi, một mình cụ sống trong căn nhà hoang hoác đó thật cô đơn lắm, do vậy niềm vui của cụ chính là lũ trẻ chăn bò chúng tôi. Ngoài khối u ở lưng cụ còn bị tật ở chân nên cụ chỉ toàn ngồi làm việc chứ ít khi di chuyển. Có một điều quen thuộc là dù mưa hay nắng dù ốm đau hay khỏe mạnh thì bếp lửa của cụ Tép vẫn luôn đỏ rực. Biết mình không có khả năng để làm đồng như bao người khác nên cụ Tép nhận rang mướn các loại hạt ngũ cốc. Ai thuê gì cụ rang nấy, người trả công bằng ngũ cốc, người thì trả cho cụ vài ba ngàn kiếm bát cơm qua ngày. Mùa đông những người dân trong làng hay mướn cụ rang các loại hạt ngũ cốc để làm thức uống, những loại hạt qua đôi tay nhịp nhàng đều đặn cứ dậy lên vàng rộm, chín đều, chả có mẻ nào sống hay cháy khét. Hết rang hạt lại nướng bánh đa hoặc ngô khoai sắn. Ấm chè xanh đặt bên gốc mít lúc nào cũng được om nóng để phục vụ những người nghiện nước chè đặc. Đĩa lạc rang và dăm ba con cá khô dậy mùi đồng nội. Bình yên qua ngày, vậy mà đùng một cái có dự án mở rộng đường liên thôn liên xóm, mở rộng đường ra đồng để cho những chiếc xe công nông thay xe bò kéo ra đồng thu hoạch mùa, con đường nhắm trúng căn nhà đơn sơ ấy, nhóm người xúm lại cắm cọc và đo đạc. Cụ Tép ẹp người xuống ôm lấy cái bếp được lũ trẻ chúng tôi trét bằng bùn đất, cái bếp hình tròn có cửa thông khí rất tốt theo tôi lúc đó, cụ thứa nước mắt van vỉ: Chỗ đất này tuy không có gốc tích thật, nhưng tôi dựng cái lán kiếm ăn lâu ngày rồi. Xin các ông nhích sang bên trái chút được không? Bên đó đất trống còn nhiều chứ cái lán của tôi ở góc cua này cũng không ảnh hưởng gì đâu.

– Mụ nói nghe hay quá ha, đất này của nhà nước mụ lấn chiếm, mụ không được cản trở chúng tôi làm việc. Gã công an viên béo ục ịch, làn da nâu bóng láng, trợn mắt quát: Tôi đã nói cho mụ dọn đi không biết bao nhiêu lần mà mụ cứ lì lợm giả điếc, bực mình. Cả dự án này chẳng lẽ phải dừng lại vì mụ hay sao?

– Tôi biết các ông làm đúng nhưng dù gì tôi ở đây cũng đã mười mấy năm rồi, quen đất quen người giờ dọn đi chỗ khác thì buồn lắm. Tôi xin các ông hãy cho tôi tạm sống đây đi mà.

– Lâu nay, thôn làng đã quá là ưu ái cho mụ rồi đấy, người nơi đâu dạt tới, được thôn cho mướn đất sống cả mười mấy năm không lấy xu nào, giờ cần đất để làm đường thì thôn lấy lại, có cạn tàu ráo máng với mụ đâu.

Gã vừa nói vừa giật những tấm bạt xanh rách cũ kỹ quẳng thành một đống, những tấm ván cũng được gỡ đi trong chốc lát, từng tấm gianh rớt xuống xiêu vẹo. Nói rồi, lão hô đội giải tỏa tới làm việc.

Lũ trẻ chúng tôi nem nép bên gốc mít quan sát mà không dám tới gần, dân làng nói vô vài câu rồi cũng ngó lơ.

Những túi bóng chăn màn quần áo được vứt ra xa lẫn lộn với những thùng lương khô đựng gạo và hạt ngũ cốc, một chiếc túi bóng quấn kỹ dăm ba đồng bạc lẻ giắt trên mái. “Của gì đáng giá của mụ thì mang ra đi để chúng tôi dọn sạch chỗ này”.

Cụ Tép gào lên: Còn tấm ảnh của con trai tôi, lấy ra cho tôi… hu… hu… Cụ khóc vật vã như ngày đứa con trai nuôi của cụ bỏ nhà đi. Tấm ảnh cháy xém một góc, gương mặt trong ảnh nhàu nhĩ nhưng không làm mất đi vẻ sáng sủa và tinh anh trong đôi mắt của nó.

Đội quân làm đường dùng những chiếc xỉa cào bới đống rác chất lên cao, bọn họ cào đến chỗ chiếc chòi chúng tôi dựng bằng những cọc sắn và lợp mái bằng những thân ngô và lá chuối khô, nơi đó chúng tôi đã có những ngày tháng kiếm sống ngọt ngào. Từ lò bếp của cụ Tép chúng tôi chuyển ra đó cơ man nào là cua đồng, ngô khoai, nướng, bữa tiệc trên lá chuối được diễn ra tưng bừng với trò chơi đám cưới, đám giỗ của bọn con nít thật vui đáo để. Rồi những ngày áp Tết mẹ sai chúng tôi đem những ống đương tươi ra bếp cụ Tép hong khô để về chẻ lạt, rồi từng cuộn lá dong lá chuối hơ qua lửa để chuẩn bị gói bánh Tết, cụ Tép làm chăm chỉ sạch sẽ và cẩn thận, cuộn nào cũng mềm thơm mùi lá. Tôi thích hít hà mùi khói ấy, mùi khói ám ảnh tôi cho đến tận bây giờ. Và tôi càng nhớ da diết hơn mỗi lần từ thành phố trở về quê khi đi qua gốc mít làng, cụ Tép đã đi đâu? Cụ còn sống hay đã chết? Tôi đi trong những buổi chiều mưa bụi, những buổi chiều cuối năm ẩm ướt, cái lạnh se sắt từ đồng thổi vào, đám cỏ ủ rũ, bồ công anh ủ rũ… những âm thanh thét gào đớn đau thoát ra từ những chiếc răng nanh sư tử bất lực trước sự ngạo mạn ngang tàng của gió bứt hết những cánh bồ công anh xoay tít tắp trong vũ khúc quay cuồng. Lạnh, lạnh quá! Nước mắt tôi rỉ ra khi trong ký ức mình chợt vụt lên cái bếp lửa nồng đượm, những bữa cơm độn ngô chan với canh chua cá mà cụ Tép dọn ra ăn cùng bọn trẻ. Hay những đêm 30 chưa đến khắc giao thừa chẳng ai hẹn mà bọn trẻ chúng tôi đều có mặt tại nhà cụ Tép với nào là bánh chưng, bánh tét, sa lam, mứt gừng… chúng tôi trộm mẹ và dối là mẹ bảo mang ra biếu. Khi ấy cụ Tép rất vui và mỉm cười.

– Cụ ơi, chắc bây giờ cụ không còn nhớ cháu nữa đâu? Nhưng cháu sẽ không bao giờ quên được cái chiều cháu bị sẩy chân chúc đầu xuống kênh mương và cụ đã lết nhanh ra cứu cháu. Thú thực cháu rất nhớ cụ nhưng không biết tìm cụ nơi đâu.

Lớn lên học hành và cho đến bây giờ khi gói ghém lại những “vết thương thành thị” trở về quê nhà thì được gặp lại cụ nơi này. Tôi không biết mình sẽ chìm vào suy nghĩ ấy trong bao lâu nếu như không có giọng nói quen thuộc cất lên từ ngoài ngõ: Ăn cơm chiều thôi mẹ. Chị vườn đẩy tấm liếp bưng vào một mẹt cơm nghi ngút khói đặt lên cái ghế nhỏ bên cạnh bếp.

– Mẹ nuôi của chồng chị đấy, bà cụ hiền lành lắm. Chỉ vì mẹ muốn ngồi bếp rang ngũ cốc nên anh nhà chị làm thêm cái nhà nhỏ này cho mẹ.

Ôi đúng là quả đất xoay tròn gặp họa lại có phúc. Năm nhà bị giải tỏa lại là năm con nuôi đã quay về đón cụ.

***

Trở lại đồi mang theo hơi ấm từ gian bếp, tôi ngắm nhìn hồ nước rất lâu “Thuở xưa trong núi có một đôi chim Phượng Hoàng yêu nhau vô cùng thắm thiết, chúng vô cùng hạnh phúc khi trong tổ chúng xuất hiện một đôi trứng hồng, ngày ngày chim phượng hoàng chồng bay đi kiếm mồi còn chim phượng hoàng vợ ở nhà ấp trứng. Một hôm chim phượng hoàng chồng bay đi kiếm mồi thì nhìn thấy một con chim phượng hoàng khác có bộ lông vũ vô cùng kiêu sa lông lẫy, ngay lập tức con chim phượng hoàng chồng si mê con chim phượng hoàng có bộ lông vũ tuyệt đẹp ấy nên không đoái hoài gì đến tổ ấm của mình nữa. Ngày này sang ngày khác chim phượng hoàng vợ nằm trong tổ mong ngóng chim phượng hoàng chồng quay về nhưng con chim phượng hoàng chồng đang bận đi tìm quả ngọt về cho con chim phượng hoàng xinh đẹp . Một ngày kia khi các con bắt đầu cứng cánh và có thể tự lập thì con chim phượng hoàng mẹ bay đi tìm chồng, phượng hoàng vợ bay qua nhiều ngọn núi cao xanh thẳm, vừa bay vừa gọi, hết ngày này sang ngày khác, bay mãi đến kiệt sức thì liền sà xuống một vùng đồi núi hoang vu, lúc này từ trong khóe mắt của con chim phượng hoàng vợ những giọt nước long lanh nhỏ xuống. Chim phượng hoàng vợ chết và những giọt nước mắt biến thành một vùng thủy mặc vô cùng u sầu diễm lệ. Tôi trôi mãi trong miền cổ tích. Chẳng hay chị vườn đứng sau lưng tôi từ khi nào.

– Nghe nói nước mắt của chim phượng hoàng có thể chữa lành mọi vết thương.

– Thật vậy ư? – Tôi cúi xuống vốc một vốc nước trên tay, những giọt nước long lanh luồn qua tay khe khẽ rớt xuống.

Bên mép nước một bông cúc xanh đắng đót nở lạc mùa. Ngày cuối cùng của mùa đông…

TRÁC DIỄM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *