Truyện ngắn tác giả trẻ Hoàng Thị Trúc Ly ở An Giang

Vanvn- Hoàng Thị Trúc Ly sinh năm 1989, Hội viên Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật An Giang, là tác giả nữ triển vọng và ẩn chứa nhiều nội lực.

Chị đã xuất bản tập bút ký “Hành trình của dấu giày” (Nxb Văn hóa Văn nghệ, 2018) và tập truyện ngắn “Những đêm trong rừng” (Nxb Quân đội Nhân dân, 2020). Đồng thời, đoạt một số giải thưởng ở Cuộc thi Truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long năm 2019 và gần nhất là giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2020.

Truyện ngắn Hoàng Thị Trúc Ly đi vào miền nội cảm, chú trọng khai thác tâm tư và những góc khuất bên trong nhân vật. Chị sở hữu vốn từ đẹp, phong phú. Bằng lối diễn đạt tinh tế, đầy chiều sâu. Trúc Ly là một cây bút chăm đọc, chăm đi và viết. Chùm truyện ngắn đã thể hiện được cá tính, dấu ấn riêng và những hứa hẹn bứt phá chờ đợi tác giả ở phía trước…

NGUYỄN ĐỨC PHÚ THỌ giới thiệu

Tác giả trẻ Hoàng Thị Trúc Ly

Người mang thánh giá

 

Đêm tháng sáu. Đất trời sau vần vũ trở nên thanh thản hơn. Gió thổi nhẹ trên những tàu chuối già. Nhang khói đã lịm từ chiều hôm vẫn thảng hoặc sực nồng ngang mũi. Tôi khẽ rùng mình, chả biết tại gió, tại mùi nhang hay vì đêm trăng sáng quắc.

Tôi không nhớ đã mình quẩn trong ngôi từ đường và khu vườn này bao nhiêu lần từ lúc bước vào ngõ cho đến bây giờ, khi quyết định xin ngủ lại. Một quyết định thật điên rồ. Tôi không hối hận, nhưng vẫn chất vấn bản thân tại sao lại đến đây.

Thực ra tôi đã trả lời những câu hỏi này khi lúc chiều bước qua cánh cổng, gặp người phụ nữ vận bộ bà ba màu nâu đất đang cai quản ngôi từ đường. Bà là con cháu đời thứ ba của gia chủ. Tôi trả lời mà không dám nhìn thẳng vào đôi mắt người đối diện. Gương mặt ấy làm tôi rụt rè, xấu hổ. Vốn dĩ quyết định này là sự đối mặt mà tôi phải dùng tất cả dũng khí đã chuẩn bị bao năm nay.

– Cô giáo, bao giờ cô dắt học trò đến thắp hương?

– Có lẽ là gần ngày hai mươi bảy tháng bảy cô ạ. Bữa đó trường cháu sẽ tổ chức chuyến du khảo về nguồn.
Người phụ nữ ngoài sáu mươi nhìn tôi nhiệt thành. Với bà, việc này vẫn diễn ra đều đặn trong năm. Trong khi bà lau chùi, nắng rớt những tia óng ánh vào hiên, sàn nhà bóng lên màu của thứ gỗ được chăm chút, chà sát mỗi ngày. Quanh quẩn một chút, tôi lấy cây chổi đi ra vườn. Trời đã vào mùa mưa dầm. Lá rụng xếp lớp hong dưới ánh nắng hiếm hoi cong lên lấm chấm hạt bụi đất. Tôi quét vun thành từng đống châm lửa đốt. Những chiếc lá còn âm ẩm của kì mưa dài gặp lửa tỏa khói u ám. Tôi ho sặc sụa chạy lùi lại đến khi chạm khu mộ. Những cụm bông trang nở hoa đỏ vây quanh tạo thành vòng chắn đang nhòa đi màu khói. Khói làm khu vườn âm u giữa bầu trời nắng. Toàn thân tôi bất động, các ngón tay tê tê, giật nhẹ. Cái tên và khuôn hình mờ nhòe trên phần mộ đá bàng bạc trong làn khói không vì thế làm vơi đi nỗi hãi hùng bất chợt dâng lên. Bát nhang cuối mộ tung tóe tàn tro, phần que cháy dở nằm ngang dọc rớt bên ngoài. Có lẽ, chúng là tàn dư từ những trận mưa gió triền miên mấy ngày qua.

– Cô giáo thông cảm nghen, hổm rày mưa quá, đám thanh niên tình nguyện ở xã đến thắp hương…

Giọng nói từ phía sau lưng khiến tôi giật mình. Bà bước lên trước tôi, trao nắm hương đã đốt sẵn rồi tiến lại nhặt những que cháy dở đã tắt và chân nhang bị rớt ra ngoài. Vài bụi cỏ và dương xỉ gặp những trận mưa dai dẳng lún phún xanh. Bỗng chốc, tôi thấy chân tay thừa thãi, vội cắm hương khắp khu mộ trong khi bà dùng giẻ lau phần bia đá. Tấm bia được chạm khắc đơn giản, vài chỗ đã mòn phai, rêu xanh, rêu đen xóa mờ mặt chữ. Nó đã ngót nghét trên dưới bốn mươi năm. Thời gian có xóa nhòa được mọi thứ, có làm lành được những vết thương hay thời gian hóa thành lưỡi dao nhọn găm thật sâu vào lòng người đang sống? Chỉ khuôn mặt của người thiên cổ vẫn hiền hòa, thanh xuân như thế. Mái tóc thiếu nữ đen nhánh chấm vai, đôi mắt to tròn cương nghị, chiếc áo bà ba ngả màu cỏ úa ôm sát phần vai và ngực. Đôi mắt trỏ ánh nhìn xuyên thẳng vào tôi. Cảm giác ấy luôn thường trực khi tôi nằm trên bộ ngựa, khi quét nhà hay ngồi ở bậc cửa…

Chiều nổi gió mạnh, tôi thắp nhang, phụ người đàn bà đem cơm cúng. Mắt tôi chỉ dám nhìn ngang, hoặc cúi gằm xuống đất khi tiến sát bàn thờ.

Tiếng chuông gọi kinh chiều từ ngôi nhà thờ phía bên kia sông đổ từng hồi buồn thảm. Trời chuyển cơn. Gió lật phật trên những tàu chuối. Mây đen kịt nền trời. Hơi nước từ sông bốc lên rợn lạnh. Sông Cái Tàu đoạn này thu hẹp hai bên trước khi gặp gỡ dòng sông Tiền mênh mông nước. Tôi men theo bờ. Đi một đoạn nữa sẽ về đến ngôi nhà thờ bên kia sông, nơi tôi sống suốt thời thơ ấu. Quê hương trong định nghĩa là nơi sinh ra và lớn lên, nếu thật là vậy, đây không phải quê tôi. Tôi được dì phước kể. Ngày tôi sắp chào đời, một chiếc xe ngựa chạy từ phía thị trấn về phía tháp chuông trong tiếng rên chuyển dạ của người đàn bà. Đứa trẻ sơ sinh là tôi được giao lại cho một nữ tu sĩ trong ngôi giáo đường. Từ đó, suốt những tháng năm tuổi thơ, tôi lẽo đẽo bên dì phước. Bốn giờ nhà thờ đổ chuông nguyện kinh, tôi lật đật chuẩn bị giúp lễ sáng cho linh mục. Quét dọn nhà thờ, sáng đi học văn hóa, chiều học giáo lí rồi tối lại nguyện kinh. Suốt những năm tháng tuổi thơ, tôi được dạy rằng Thiên Chúa là cha, còn Đức Maria là mẹ. Ngày đi học, những đứa trẻ trong xóm luôn bật khanh khách cười, nhạo báng tôi. Tôi về ấm ức khóc, dụi đầu vào lòng dì phước. Người vuốt đôi bầu má còn ươn ướt đỏ của tôi, bảo rằng chỉ vì không phải là người công giáo nên chúng bạn không hiểu được. Dù mang tiếng là đứa bé bị bỏ lại, nhưng tôi lại là đứa trẻ hạnh phúc. Ngoài Thiên Chúa, Đức Mẹ, cha linh mục, dì phước, tôi còn có ba nuôi – một cảnh sát có ngôi nhà với giàn hoa ti gôn cách nhà thờ một quãng, sau lần vào đây, thấy tôi dễ thương nên nhận đỡ đầu. Mỗi năm, vào dịp lễ Phục sinh và Giáng sinh, lần nào ông cũng tặng tôi rất nhiều quà. Dù một năm chỉ gặp vài lần, nhưng tôi rất yêu ông, cảm giác đầm ấm, gần gũi yêu thương gắn kết. Ba nuôi luôn nhìn tôi bằng đôi mắt phảng phất màu mây. Trong mơ hồ, lòng tôi run rẩy khi ánh mắt ấy trìu mến nhìn, tay giơ lên vuốt những sợi tóc mai của mình.

Đây là lần thứ hai tôi đến, à không, là trở về vùng đất cù lao này. Năm đầu tiên trở thành cô giáo, lúc đang đứng lớp, dì phước lại trường xin cho tôi nghỉ, bắt xe đò xuôi về. Cả một đoạn đường dài, người đưa vai cho tôi dựa vào ngủ, trong khi tay vẫn không ngừng lần hạt. Xe qua chiếc phà lớn nối đôi bờ sông Hậu, người nâng khuôn mặt tôi lên, một tay đỡ cây thập giá tôi đang đeo ở cổ. Đã hơn hai mươi năm, đó là dịp hiếm hoi ma sơ của tôi đi xa mà không trong chiếc áo chùng đen từ cổ đến chân, mái đầu không trùm kín một chiếc khăn rộng. Áo sơ mi xanh da trời, quần tây đen hơi thụng lộ rõ vẻ tiều tụy, hao mòn, mái đầu pha màu khói xám. Tôi thương người biết bao khi nhận ra dì già đi nhiều. Đôi mắt trũng sâu, mí mắt với những nếp nhăn xếp chồng. Đôi môi tai tái từ lâu mấp máy mấy bận, chắc là có điều gì hệ trọng lắm.

– Con gái, mỗi người sống trên cuộc đời, Chúa đều trao ban một cây thập tự. Con hãy nhớ, thập tự trên vai càng nặng nề, nếu vượt qua được thì vinh quang nước trời càng rộng mở. Con hãy tín thác vào Ngài.

Tôi cúi xuống, rờ cây thánh giá trước ngực, mơ hồ nhận ra một biến cố khủng khiếp nào đó sắp đè đôi vai mình. Liệu tôi có vác đi được đến cuối đường? Qua cửa kính xe, khung cảnh trôi vùn vụt, hai bên đường cây cối ngả theo chiều gió. Tháng sáu năm đó, trời đang có bão, dù không mưa cũng phủ màu mây đùng đục. Nước sông Hậu dềnh sóng, đập mạnh bên thành phà. Tôi nắm chặt cây thập tự, miệng lẩm nhẩm: “Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa”.

Tiếng chuông đằm mình xuống lòng sông tan vào tiếng sóng làm tôi trở về thực tại. Tôi bước giật lại. Ngôi nhà bên kia bờ sông vẫn không thay đổi nhiều, giàn hoa ti gôn đã lòa xòa phủ kín đôi bờ giậu phơi. Mái ngói âm dương nhuốm màu tê tái. Những con người và cả hồn ma trong ngôi nhà ấy, một cách tự nhiên đau đớn trong tôi. Cảm tưởng, máu huyết đang rừng rực chảy, nóng hổi khắp da thịt dù gió từ mặt sông mỗi lúc thêm nhiều.

Chỉ cần qua một lần đò, tôi sẽ trở về nhà. So với việc ngủ lại ngôi từ đường này, đoạn thập giá nào khó vượt qua hơn?

Tôi biết mình đang vác thánh giá nặng từ lần đầu qua xứ cù lao này. Và tự nhủ, để thánh giá nhẹ nhàng đi, tôi sẽ tập quên và từ bỏ. Tôi cố để bản thân như ngày còn dụi đầu vào ngực dì phước. Cảm giác bị trêu chọc không cha mẹ ngày bé so với hiện tại, nhẹ nhõm hơn nhiều. Ngày lớn, đôi lúc tôi thấy mình bất hạnh vì là trẻ mồ côi. Tôi nào biết điều đó lại là niềm mơ ước tựa phép màu muốn hoán đổi trong tôi hôm nay. Thật may, bờ vai tôi đã đủ dài, đủ rộng.

Tôi bước vào ngôi từ đường khi người đàn bà đang ngồi gõ mõ. Bà bận bộ bà ba màu xanh xám, tóc búi thấp sau đầu. Tôi quỳ gối, ngồi trên hai chân chắp tay phía sau lưng bà, dáng vẻ ngượng ngập làm theo những động tác cúi đầu vái lạy. Người xứ này phần lớn theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Sau giờ tụng niệm lúc ăn cơm tối, bà nhìn tôi đầy bao dung, bảo tôi không phải người đồng đạo, không cần làm theo bà. Tôi khẽ gật đầu, một cách tự nhiên nhất quay sang hỏi thăm về người phụ nữ được thờ trong ngôi từ đường.

– Họ đồn nhau, cô Sáu Hồng linh lắm nên về báo thù. Cô giáo học nhiều, nghĩ thử, cô Sáu Hồng là một nữ anh hùng, ai đời báo thù kiểu tiểu nhơn vậy, đúng hông cô giáo?

Tôi gật đầu nuốt trọn miếng cơm chẳng may bị nghẹn, đưa tay vuốt cổ, đập ngực liên hồi. Cảm giác ánh mắt trên bàn thờ vẫn đang đăm đăm nhìn mình như chờ đợi câu trả lời. Tôi bỏ dở chén đũa, chạy vội ra chiếc bộ ngựa ngoài hàng ba, ngồi uống nước. Bà đã chuẩn bị gối mền cho tôi từ chiều, nhưng tôi biết, mình chỉ dám ngủ ở hàng ba. Mặc cho gió và mùa này mưa đến thất thường, mặc cho bà nhất mực không đồng ý. Ai đời, cô giáo đến thắp hương cho cô Sáu Hồng, có lòng muốn ở lại tìm hiểu mà ngủ ở ngoài sao đặng?

Tôi là vị khách không mời mà đến. Ít nhất nằm ngoài này, tôi có thể tránh ánh mắt trên bàn thờ lúc nào cũng đăm đăm nhìn tôi. Tưởng như thấu cả tâm can vì một bên mày trên gương mặt khẽ nhướng. Càng về tối, ánh mắt ấy càng bám chặt lấy tôi. Đêm rằm. Trăng rờ rỡ. Bụi dạ lí trước hàng ba đã bắt đầu tỏa hương. Những chùm hoa trắng bé nhỏ, gầy manh trút sạch tinh huyết vào màn đêm mỗi lúc thêm nồng. Hương thoảng, dịu nhẹ tan vào sương đêm. Trong nhà, đèn leo lét vài hột sáng trên bàn thờ. Tiếng sột soạt trở mình, tiếng ho khẽ của người đàn bà vẻ như đang chìm vào giấc ngủ. Tôi trở dậy, khoác thêm chiếc áo len mỏng bước xuống bậc tam cấp. Bụi dạ lí đang nhao theo hướng gió, phe phẩy hương ngào ngạt. Tôi rón rén chọn một cành nhiều chùm bông ngắt cắm vào bình hoa trước khung hình cô gái trẻ. Ánh mắt trong ảo ảnh sáng tối phóng tia nhìn mãnh liệt đến tôi. Một lần nữa, tôi lao thẳng ra ngoài như chạy trốn.

Đêm đồng nội thật khác. Đại ngàn trong thẳm sâu kí ức của tôi là tiếng chuông vọng vào vách núi, là tiếng rầm rập của xe ngựa khua trên đá sỏi. Còn nhớ, lần đến ngôi nhà có giàn hoa ti gôn bên kia sông cùng dì phước, không gian cũng không lắng trầm đến vậy. Cũng có thể vì đêm ấy có quá nhiều người cùng canh thức. Đêm ấy, quá đỗi bất ngờ, hoang mang. Đêm ấy, lần đầu tôi biết rõ về cội nguồn của mình để tự nguyện quấn lên mình vành khăn trắng. Còn đêm nay, trong căn nhà vốn thâm lặng này, chỉ riêng tôi không ngủ, riêng tôi học cách đối diện, dù rằng mọi thứ đã dần chìm vào quên lãng. Thánh giá này vốn dĩ Chúa đã trao ban từ ngày tôi còn chưa tượng hình hay nằm đâu đó ở ngón chân của má, ở ngón tay của ba. Tôi đang vác nó đi trên đoạn nhiều bùn lầy, chúng có thể nhấn tôi lún sâu xuống thăm thẳm nếu tôi không biết cách vác tử tế. Đơn giản, vì nó rất khó nhọc. Tôi trở lại bộ ngựa, ngồi xếp bằng chân, một tay nắm cây thập tự trước ngực, một tay lần chuỗi mân côi. Mặt quay ra khoảng sân ngập ngụa trăng. Làng quê yên ả đến cô tịch. Năm mươi tràng hạt được lần xong, tôi tựa lưng vào cánh cửa đã khép nửa, thư thả duỗi thẳng chân, mắt nhắm hờ tiếp tục đọc thầm những câu kinh tôi thuộc mong tìm giấc ngủ đến. Chắc vì lạ chỗ, tôi đã đọc đi đọc lại rất nhiều câu nguyện mà vẫn chẳng thể chợp mắt. Tiếng dế rả rích. Tiếng ếch nhái nhảy lõm bõm. Sau những trận mưa, chúng thường lộng hành như thế. Dường như cố tình không để yên cho vị khách lạ.

Một trận gió mạnh thổi ngang xổ tung chân mùng đã được tấn cẩn thận dưới chiếc chiếu trúc. Có vẻ trời đang chuyển giông. Vài hạt mưa lác đác xuyên vào thềm. Sực nhớ bó nhang tôi để quên ngoài khu mộ. Chập tối, sau giờ cơm, tôi đã đánh liều ra thắp thêm nhang cho ấm. Trăng mờ như sương. Khu vườn gió quật thốc liên hồi. Mùi chuối già hương chín bói vẫn không át được mùi nhang sực ngay vào mũi. Tôi dợm chân, vấp té nhào xuống gốc chuối. Con chim cú mèo trỏ hai mắt xanh lét hốt hoảng vỗ cánh từ bụi chuối bay đi. Tôi vùng dậy, cúi rạp đầu chạy ngược lại. Mùi nhang đuổi phía sau lưng. Tôi ôm gối chạy vào giường, kéo mền đắp qua mặt.

– Ngoài kia giông, cô cho cháu ngủ chung với.

Bà trở dậy, vấn lại mái đầu, ngáp dài, chép miệng, xỏ dép bước ra cài cẩn thận chốt cửa. Gió thổi mạnh, cánh cửa bị xô ra đập vào liên hồi. Tiếng dép di chuyển đến bàn thờ, tiếng bật tách của hột quẹt, mùi nhang nhanh chóng chui vào mũi tôi. Độ vài khắc, tiếng dép di chuyển đến gần chiếc giường. Dây võng cạ vào cột nhà ray nghiến như tiếng của sợi dây thừng xiết chặt cổ người. Tôi hé mền, thấy bà đang đòng đưa trên võng. Người già thường khó ngủ. Tiếng chuông từ ngôi đình đâu đây lại đổ. Ngay sau đó là một tràng sấm nổ đì đoàng kèm tia chớp như luồng điện cắt rạch ngang trên nóc nhà. Tất cả hùng hổ đe dọa, dọn dẫn cho cơn mưa nặng hạt đã phát đi hơi nước lạnh vào gió. Tiếng bà hòa vào tiếng mưa dồn dập trút xuống.

– Ngày mai cúng kì yên đình thần Hội An, cô giáo ở lại nghe hát bội, mốt hãy về. Cô Sáu Hồng bị bắt cũng vào đêm hôm nẳm. Mới đó, hơn bốn mươi năm rồi.

Tôi nằm yên, không trả lời. Tiếng bà thập thõm trong tiếng mưa. Câu chuyện kéo tôi bềnh bồng trên mây, đầu óc xoay xoay nhẹ, hút sâu về một không gian khác…

***

Tiếng trống đập dồn, ánh nến rực rỡ. Khoảng giữa những trụ cột gỗ tròn, to, bóng nhẵn, đoàn hát bội đang chờ sẵn. Trang phục sặc sỡ, lấp lánh đủ sắc. Đào, kép trát phấn son như mặt tượng sáp. Áo bào, lông vũ đính đầy kim sa. Phía chính điện, trên gian thờ, la liệt các mâm trầu cau, ngũ quả, xôi gà, bánh mứt. Lễ túc yết vừa xong, trống đánh báo đến lễ xây chầu và hát bội. Trước chính điện, gian võ ca đã được bài trí như sân khấu. Diễn viên và nhạc công đều hóa trang, trống mõ dựng sát góc cột. Một ông cụ bạc râu, đội khăn đóng, áo dài thâm đen bước lên trước điện, tay cầm cành dương nhúng vào tô nước ông đang cầm bên tay trái, vẩy ra xung quanh, tiếng sang sảng: Nhất sái thiên thanh/ Nhị sái địa linh/ Tam sái nhơn trường sanh/ Tứ sái quỷ diệt hình. Người người vây quanh, cung kính chắp tay vái lạy, đồng lòng dâng lời khấn vái. Ông chánh bái đọc dứt bốn câu, tiến đến cầm dùi đánh ba hồi trống, xong kéo dài khẩu lệnh: “Ca công tiếp giá”. Ngay tức khắc, trống mõ của đoàn hát bội rộ lên, chương trình bắt đầu. Tôi đứng nép vào cánh cửa, trố mắt ra xem hát. Trước nay trong nhà thờ, tôi mới chỉ xem các nghi lễ rửa chân, đóng đinh hay phục dựng vườn địa đàng, Chúa Giê su được sinh ra trong hang đá.

Lễ kì yên diễn tuồng thực như khi xem hát cải lương trên ti vi. Giữa gian võ ca, đào chánh vào vai Bà Trưng quyết lòng thề nguyền cưỡi voi ra trận, trả thù nước, nợ nhà. Đôi mắt đào chánh được tô vẽ sắc sảo, rực lửa hận thù. Phía sau áo mão gắn cờ lệnh nền phi long, tay cô đào cầm cây thương đảo, xoay điêu luyện… Bỗng chó sủa rầm rộ, một phát súng rồi hai, ba phát dội vào trong đình. Người người nhốn nháo, đổ xô ra ngoài. Trước cổng đình, lính tráng vây tứ phía.

“Sáu Hồng! Con ông Bảy Đê nè!”.

Dưới gốc cây sa la, một cô gái nhỏ nhắn đang giãy giụa giữa những vòng dây thừng cuốn chặt, miệng đã bị bịt giẻ. Lính giơ súng ngăn đám đông xôn xao tiến tới gần. Tiếng xì xầm, rỉ tai nhau sau tiếng quát nạt ra lệnh giải tán của tên cảnh sát đang giơ điếu xì gà quơ quơ ngang miệng, ngón út tay trái hắn cụt lủn sát mu bàn tay. Chúng xô cô gái té nhào xuống, dùng đòn gánh thọc theo vòng dây thừng trên thân người rồi hai tên lính đưa vai vào gánh hai đầu. Trọng lượng cơ thể cô gái treo trên từng đoạn thừng thít mạnh vào da thịt. Khúc hông, ngay chỗ xẻ của tà áo, hở ra phần da cấn mạnh che lút đoạn thừng vòng qua tưởng có thể cắt ngang thân người.

Tên cảnh sát đưa điếu xì gà lên miệng rít bằng bàn tay cụt mất ngón út, ngạo nghễ như để thị uy.
“Rốt cuộc, cũng bắt được mày. Sao. Bất ngờ đúng không Sáu Hồng. Mày nhận nhiệm vụ thủ tiêu tao mà. Đồ khốn!”.

Hắn vừa nói vừa dí đầu thuốc lá còn đang đỏ lửa vào má cô gái. Da mặt thiếu nữ đôi mươi non tơ gặp lửa đỏ vồng lên, bén ngọt khen khét cháy trước kẻ đang cúi gằm mặt trợn trừng nhìn cô gái bằng đôi mắt toàn lòng trắng.

Sáng hôm sau, tên cảnh sát chín ngón dẫn theo cả đám lính kiểng, dân vệ, mũ áo, súng ống chỉnh tề áp giải người nữ tù đi thị uy khắp xã. Đến chợ Cái Tàu Thượng, chúng phát loa tung tin Sáu Hồng đã đầu hàng, khai báo. Ai nấy đổ xô thu dọn hàng hóa để tránh mặt, tỏ rõ vẻ lo lắng, sợ hãi. Những chiếc nón lá được kéo thụp xuống che kín mặt. Người đi chợ sà vào sạp mua mớ rau, con cá không đợi nhận tiền thừa, vội vã đi như chạy ra phía đường lớn. Tụi con nít khóc thét, ném lại củ khoai đang cầm trên tay, tìm nơi trốn. Rau rớt vãi giữa đường. Cá lóc ngóc dưới vũng nước vừa đổ té ra. Cô gái thấy người dân nháo nhào chạy trốn, buông lời dõng dạc trấn an. Lúc này người ta mới dám ngẩng đầu lên để ngó rõ người tử tù. Khuôn mặt cô chằng chịt những vết cháy đen đang ứa nước vàng. Hai cặp mí phù, tím mọng cụp xuống, ti hí tưởng như không còn con ngươi thay cho cái dáng thướt tha trong bộ bà ba và đôi mắt to, lanh lợi ngày nào cắp thúng đi rải truyền đơn khắp chợ. Mái tóc đen óng mượt đôi mươi phơi nhuộm màu máu, bết lại giữa trưa hè. Đầu ngón tay, ngón chân run rẩy trong gông cùm lúc chạm đất, sau những đòn kẹp điện và tuốt móng. Tiếng xì xào, ồn ã mỗi lúc thêm đầy y như đêm cô bị trói dưới gốc cây vô ưu.

Tên cảnh sát chĩa súng bắn chỉ thiên để ra oai rồi lệnh dẫn giải nữ tù về đồn.

Gần một tuần sau, bổn cũ tiếp tục được soạn lại vào giữa trưa. Nhưng lần này, vừa qua khỏi chợ, Sáu Hồng khụy xuống, bất tỉnh. Dưới bộ bà ba không còn xác định được màu, là một thân thể tưởng như đứt lìa từng đoạn. Phần cổ, nơi tay, chỗ bụng, trên ngực, dưới đùi, toạc những đường dao rạch và vết tàn thuốc. Cô nằm đó không thể cựa mình mặc lửa trên trời dội xuống hút nốt chút sức tàn. Một dòng máu rỉ ra nơi mép đã rộp lên bong thành mảng. Tên cảnh sát ngửa cổ tọng nước vào miệng rồi phun phè vào mặt nữ tù. Không ăn thua, hắn lấy báng súng lật qua lật lại. Phạm nhân vẫn bất động, hắn túm tóc, kéo xềnh xệch cô xuống hầm cá tra bên đường.

“Khai mau! Đồ chó!”.

Sau tiếng quát. Hắn nhấn đầu cô chúi xuống mặt nước.
Đã vào mùa mưa, nước trong hầm ngập lún. Lũ cá tra bạo dạn nghe động thấy mùi máu quẫy đạp kéo đến rỉa. Sặc sụa thứ mùi tanh tởm, ô uế của nước tiểu và phân người tù đọng hết năm này sang năm khác. Hôm ấy, nhiều người tan chợ về chứng kiến đều nổi gai ốc, lắc đầu chua xót.
“Đả đảo đế quốc Mĩ và tay sai!”.

Tựa như tàn tro chỉ đợi để bùng lên cháy lần cuối, tiếng hô dù yếu ớt nhưng dõng dạc vang lên lúc cô được lôi lên bờ.

“Để xem mày còn già họng được nữa không!”.

Tên cảnh sát bóp mạnh khuôn hàm người tù, hai hàm răng nghiến chặt, hắn thọc lưỡi dao vào mép cô riết mạnh..

Cặp mắt người tù như hai cục máu dán chặt vào khuôn mặt hắn. Trong cơn cuồng nộ, lưỡi dao của hắn nhằm tới mắt trái rồi mắt phải cô gái. Con dao sắc ngọt trên tay xoay xoay. Mắt long lên sòng sọc, hắn xé tung hàng cúc áo. Hai bên ngực của nữ tù vẫn khẽ khàng nhô lên theo nhịp rời rạc của trái tim…

Sau vài giây chết khiếp, chưa bao giờ người dân quanh chợ lại phải thầm thốt lên tiếng chửi rủa như thế vào đúng ngày rằm. Những chiếc nón lá trên đầu ngả xuống tay, họ cúi đầu trước thi thể không còn nguyên vẹn của người nữ tù…

***

Gió vù vù thổi trên những tàu chuối trong vườn. Đang hòa vào sương khói trước hàng bông trang không phải cô Sáu Hồng, mà là người đàn ông bước ra từ tấm hình đặt trên quan tài khi lần đầu tôi về xứ cù lao quấn trên đầu mảnh khăn trắng. Đó là ba tôi, tên cảnh sát chín ngón trong câu chuyện người đàn bà giữ từ đường đã kể. Ông mất vì rớt xuống hầm cá tra sau nhà. Đâu ai có thể tước đoạt được quyền làm cha của một kẻ giết người phải không con? Ổng chính là ba ruột con đó. Mẹ con là người tình của ổng, vì sợ ghen tuông nên ổng mới bày đặt ra chuyện nhận con làm con nuôi. Tâm nguyện cuối cùng của ổng trước khi chết là muốn con nhận ổng là cha ruột và thay ổng thi thoảng về ngôi từ đường xin cô Sáu Hồng xá tội để linh hồn siêu thoát. Giọng dì phước lần cùng tôi về làm ma cho ông rồi sang thắp hương cho cô Sáu Hồng thập thõm lẫn trong tiếng mưa. Đùng! Một tiếng đánh lớn của sấm, sét. Chớp lóe vào chỗ tôi nằm. Cánh cửa sổ tung rung lắc. Tôi vùng dậy, lao ra ngoài cổng. Mưa tát mạnh vào mặt. Theo hướng bờ sông, tôi khụy xuống bãi cỏ. Những tia sáng rạch trên mái ngói âm dương. Chưa bao giờ tôi muốn về nhà như lúc này. Chưa bao giờ tôi muốn ngồi trước mộ ba tôi như lúc này. Tôi nắm chặt cây thập tự lạnh ngắt trước ngực, cảm thấy đôi vai nhẹ tênh mặc cho mưa vẫn đang trút xuống liên hồi.

Tranh của họa sĩ Lê Thừa Khiển

Hai nửa một người

 

Cổng nhà bao phủ dây leo chằng chịt. Những búi tóc tiên xanh mướt, xòe hoa đỏ trong nắng sớm cuốn quanh hàng rào lưới mắt cáo. Ngồi trên xe lăn, ông mỉm cười khi thấy bà xuất hiện với bộ quần áo nâu khoẻ khoắn. Đôi chân bà vẫn còn hơi khập khiễng. Nó bị đau từ tháng trước trong chuyến tìm kiếm hài cốt đồng đội. Chuyến đi cùng đoàn có một cựu binh đi tìm hài cốt em gái. Hai anh em cùng thoát ly theo cách mạng. Cô em không may trúng đạn và hi sinh. Người anh bó xác em vào mảnh cao su đem chôn gần gốc một thân cây, riêng kỉ vật chiếc khăn quấn cổ bằng vải kate của cô, anh cột quàng vào một nhánh cây. Giờ đây tìm lại nơi chốn cũ, người cựu binh già không làm sao định hình được vị trí của nấm mồ dù đã khoanh vùng, đào xới nhiều thửa đất. Chỉ đến khi người chủ của mảnh rẫy xuất hiện và kể, ngày xưa khi phát cây, ông có thấy một khoảng đất lùm lùm ở phía bên trái cách chỗ đào khoảng một trăm mét, có thể ngôi mộ ở vị trí ấy chăng? Khi mọi người đào lên, quả nhiên tìm được hài cốt…

Khoảng sân đã ngập nắng từ bao giờ. Những đóa tóc tiên vươn đài kiêu sa khoe sắc. Mỗi chiếc lá xanh như hai hàng mi dài cong của người thiếu nữ đẹp. Hết mưa, nắng lên, tóc tiên thêm mướt mát, khoe sức sống căng đầy. Mà không chỉ có tóc tiên, những giò lan ở phía trái hiên nhà cũng đang đua nở. Phải, mấy chục loại lan…

“Loại hoa này, nó có sức sống mãnh liệt” – câu nói ngập ngừng khi ánh mắt ông dừng lại ở những giò lan. Trận mưa đêm qua khiến tấm lưới che bị lệch. Vài nhánh lan muốn bật hết rễ ra khỏi chậu.

Tiếng nước đổ từ hòn non bộ đặt ở góc phòng khách vọng lại khiến không gian trở nên xa xôi.

“Lần này chúng ta sẽ tìm được Bắc Lan”. – Giọng bà chắc nịch.

“Nhưng mà theo miêu tả, vóc người, chiếc sơ mi sọc xanh rộng thùng thình dài đến nửa bốn cái túi trước và sau đùi, chiếc quần kaki được gấp mấy lần gấu. Tóc hớt như cái gáo dừa chụp lên đầu. Khuôn mặt xương nhỏ, cằm móm xọm… thấy hổng giống” – Ông đẩy chiếc xe lăn đến cạnh bà giọng ngập ngừng.

“Đồng đội tử trận chúng ta còn tìm được hài cốt, Bắc Lan còn sống, chẳng lý gì…” – giọng bà hơi sẵng. Trong đầu bà lấp loáng gương mặt của Bắc Lan.

Ông im lặng. Khi bà kéo cánh cổng, những giọt nước và vài cánh hoa tàn rụng xuống. Bà bước ra, phía sau, ánh mắt ông nhìn hút theo bóng bà cho đến khi khuất hẳn sau khúc quẹo.

Lúc bà đến chân núi thì cũng đã chiều. Nghe nói núi Bà linh thiêng nên khắp nơi người người đổ về khấn viếng. Dọc từ chân lên đỉnh, khói nhang nghi ngút từ các chùa, miếu tỏa ra. Bà dừng lại trước một tảng đá, mắt nhìn ra xa để định hình. Chỗ kia từng là công trường nơi ông, bà và Bắc Lan chiến đấu… Vùng này bà khá thông thuộc. Nơi đây, vào cuối những năm sáu mươi có một công trường đã tồn tại với nhiệm vụ sản xuất các loại vũ khí cho chiến trường. Công trường 27… cái công trường đã vùi lấp đi không biết bao nhiêu những thanh xuân của những cô gái xinh đẹp, trong đó có cô bạn thân thiết Bắc Lan của bà. Bắc Lan, cứ mỗi lần cái tên ấy trở về, là lại khiến tim bà nhói lên một cái.

***

Trời đã sang đông. Đang mùa khô nên không phải xắn quần, lội nước. Nhưng bù lại, đêm đông rừng núi, rét run lên bần bật. Gió bấc thổi tạt qua mặt khiến lòng các cô gái trẻ nao nao. Thêm một xuân thì gửi lại gió núi biên cương. Công việc nhiều lên tỉ lệ thuận với những trận càn quét liên tục của địch. Tiền tuyến cần được tiếp tế lương thực và vũ khí khẩn trương hơn. Công việc bận rộn khiến người ta không còn tâm tưởng để buồn, để nhớ. Cốt sao, làm được nhiều mìn, lựu đạn để tải ra chiến trường. Giang để ý, tối qua khi vừa đi ngang vồ đá, Lan đã ngừng lại vài phút. Nàng xoa xoa mặt tảng đá trắng tinh, nhưng không phải để ngồi nghỉ mà làm điểm tựa. Vì Lan chỉ khẽ chống tay xuống và mắt lại hướng về chỗ khác. Lan đang nghĩ gì? Từ hướng mắt của Lan, chẳng có gì ngoài những bụi hoa trinh nữ nằm la liệt say ngủ và một cây gáo chễm chệ như vị chúa sơn lâm.

Giang không nói chỉ kéo Lan đứng dậy để theo cho kịp đoàn. Giang giận Lan. Giận từ ngày Lan lặng lẽ chia tay Sơn không một lý do, không một lời giải thích, và bây giờ càng giận khi Lan hầu như không muốn chia sẻ điều gì dù đôi mắt trĩu bầu tâm sự.

“Nhỏ này, mày đi đứng vậy hả? Hồn để đâu rồi?” – Lan lên giọng khi đỡ Giang ngồi xuống.

“Để tao lấy miếng “chất trắng” sức là mai hết hà” – Giang lôi ở lận lưng ra một cái gói nhỏ.

“Sao mày giục nó đi? Lấy gì tao sức chân?” – Giang trợn mắt quát khi Lan giằng lấy và vứt nó ra xa.

“Từ mai, tao cấm mày, cấm các chị em dùng cái thứ ma quái này”.

“Tại sao?”

“Không tại sao. Mày chỉ nên ghi nhớ, nó mãi mãi chỉ là thứ giết người! Có những cái chết mà không cần máu chảy, đạn rơi mày biết không?”

Giang cứ ngớ ra khi thấy Lan vừa hoảng hốt lại giận dữ thù hận rồi chạy đi trong nước mắt. Cái “chất trắng” này, chính Lan đã từng quý như vị thuốc, chính nó giúp những vết ghẻ lở triền miên trên thân thể Lan biến mất. Cả công trường, ai không biết Lan đã trị bao nhiêu vết lở loét trên da chỉ nhờ vào “chất trắng” ấy…

Kí ức như ngọn khói quẩn lúc nào cũng cay trong lòng, bà khẽ thở ra, ngước nhìn lên ngôi nhà phía trên đỉnh núi ước lượng cự ly, nặng nhọc chống cây gậy đứng dậy.

***

Một ngôi nhà nhỏ, khoảng sân rậm rịt cỏ màn trầu ken dày chỉ chừa một lối đi rải sỏi. Những lá màn trầu vươn dài đang vớt vát vài giọt nắng cuối ngày. Hiên nhà xào xạc gió, giò lan hồ điệp khẽ đung đưa. Trên một cánh lan trắng muốt, chú ong vàng đang xòe cánh, sáu cái chân bé xíu nhún nhảy dò tìm, cái đầu nhỏ khẽ chúi xuống. Cành hồ điệp mảnh dẻ, đơn độc, chới với cố nương theo làn gió chiều bất ngờ thốc vào mái hiên. Vài giò lan già lụi đã bắt đầu đâm cây non. Một, hai, đúng qua hết đốt thứ ba, chỗ cành lan còn dấu cắt sắc lẻm, cành lan hồ điệp mới đang nhú ra những cánh hoa tinh khôi. Giữa mênh mông và vòi vọi của cây cối, núi đồi, ngôi nhà lưng chừng khiến người ta nghĩ về những nhân vật mai danh ẩn tích để “giữ mình” trong lịch sử hay những hiệp khách giang hồ lẫy lừng trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung.

Có lẽ vậy nên ai cũng rướn mắt kiếm tìm chủ nhân của ngôi nhà. Người ta rỉ tai nhau, đó là một người chạy xe ôm đưa rước học sinh dưới phố có khuôn mặt sạm đen và chiếc cằm móm xọm với những nếp da nhăn nheo chảy xệ xuống cổ, hay bận chiếc áo sơ mi rộng thình và chiếc quần túi hộp. Nghe đâu, đó là một cựu binh, chắc vì nhớ rừng núi nên trồng lan hồ điệp. Mà quý trẻ con lắm, thường dạy chúng đàn. Đêm nào người cựu binh đó ở nhà, thể nào cũng được nghe tiếng Mandolin từ đỉnh núi vọng lại.

Chuông chùa gọi sương chiều về gần hơn. Cỏ màn trầu mọc thành từng bụi lớn. Nhiều bụi lá màn trầu dập nát đang khô lại và lá non đang nhú lên. Bà nhớ đến suối tóc mướt đen của cô bạn Bắc Lan từng tự hào quảng cáo về loại dầu gội “made in quê nhà”. Nhớ đến những buổi ra suối tắm chung, chiếc áo ướt bám chặt da thịt lồ lộ những đường cong. Hai đứa nghịch ngợm, đọ nhau xem “của ai” đầy hơn. Nhớ cành lan hồ điệp hồi sinh bất ngờ trong đêm bà một mình ra suối giặt mảnh vải mùng, cả hai ôm chặt nhau nức nở.

Từ đỉnh núi thoai thoải, cảnh vật được thâu vào tầm mắt.

Người đàn bà bao năm ở lưng chừng núi, đã bao lần ngửa mặt lên ngọn núi này? Liệu đó có phải là Bắc Lan không?

Trời tối hẳn. Từ trên cao lộng gió, nhìn xuyên vào khung cửa sổ của ngôi nhà thấp có những giò lan hồ điệp, bà giật thót khi thấy một người đang ngắm mình trong gương: Áo bà ba quần lãnh bóng, cổ quấn khăn rằn. Đôi bàn tay gầy với các ngón dài hết vuốt rồi lại miết nhè nhẹ vào mấy sợi tóc rối cứng đơ. Trong ánh đèn lờ mờ, vẫn đôi tay gầy đang giơ chiếc áo lót ra ướm vào khuôn ngực. Hết màu này đến màu khác.

Bà ôm ngực, thở dồn dập trộn giữa vui mừng và xót xa. Trấn tĩnh một chút, bà vội vã tiến lại.

Sau tiếng gõ cửa, có tiếng dép lẹt quẹt. Một người phụ nữ hiện ra. Bắc Lan phải không?

Bắc Lan!

***

Cô tên Bắc Lan. Cái tên đẹp và lạ. Mẹ nói khi ba đi tập kết không may bị thương nặng phải xuất ngũ đã mang theo về một giò lan hồ điệp. Đó là kỉ niệm nơi núi rừng phương Bắc của ba. Ở rừng phương Nam, lan hồ điệp rất hiếm. Năm sau cô ra đời, ba đặt tên cho cô là Bắc Lan. Ba hi vọng sau này con gái ba sẽ xinh đẹp và có sức sống mạnh mẽ như loài hoa ấy.

Đêm sâu. Trong tiếng vọng của đại ngàn, trăng cứ đổ tràn xuống cây, xuống suối. Tiếng nước chảy thánh thót đều đều xuống tảng đá trắng phản lại màu trăng vàng. Lẩn trong tàn cây, đom đóm phát sáng lập lòe. Bóng trăng xiên qua kẽ lá để lại những vệt sáng nhiều hình thù trên mặt đất. Nơi thân cây gáo già, một trái tim nho nhỏ nằm giữa hai dòng chữ tên hai người. Cô thấy lòng mình nhói đau khi đưa tay khẽ chạm vào. Giọt nước mắt tràn ra khóe mi. Cô ngước lên vòm gáo trong ánh sáng vằng vặc của trời đêm. Những bông gáo xòe râu tua tua khẽ rớt vài sợi tơ óng và chút phấn vàng rải trên lá cỏ. Gió đêm đưa hương gáo phảng phất qua mặt người. “Em gội đầu bằng gì mà tóc thơm và mượt quá chừng?”. Tiếng Sơn thoảng đâu đây. “Cỏ màn trầu. Từ hồi nhỏ, má đã nấu nước cỏ màn trầu cho em gội đầu. Ở quê mình nhiều lắm. Trong rừng cũng nhiều, nhưng giờ bom và chất trắng rải xuống nên cỏ cây nào cũng trụi lủi”.

“Sau này hòa bình, anh sẽ trồng một vườn cỏ màn trầu để dành cho em gội đầu.”

“Lúc ấy, không còn bom đạn, tự màn trầu sẽ mọc thôi. Đất phù sa quê mình, cây cỏ nào mà không ưa đâu anh.”

Cô khẽ thở dài. Dòng sông Hậu hiền hòa như đang chảy qua mặt. Con sông bên lở, bên bồi đã nuôi lớn cả một vùng quê. Con sông đã chứng kiến hai đứa trẻ tắm sông lớn lên bên nhau từng ngày. Rồi vào một buổi chiều, tại khúc Cồn Tiên chúng đã trao nhau nụ hôn đầu đời mát ngọt và dịu dàng như con nước…

Vài cánh chim giật mình vỗ cánh bay, dù đêm nay không một tiếng súng, tiếng đạn bom nào rơi xuống. Rừng đêm sương mỗi lúc một nhiều, cái lạnh khiến con người khát khao biết bao hơi ấm. Trăng lờ mờ rọi xiên vách núi in hình thù của một bóng đen cô độc. Lạ thay, đêm trăng tròn mà lại có mảnh lưỡi liềm cong cong đổ vào vách đá, cái vòng cung không đứng yên mà di chuyển mềm mại, đều đều. Ở đó, có những thanh âm của yêu thương đang ru màn đêm huyền hoặc.

Cô gục đầu vào vách núi trơ cứng còn hơi lạnh của sương đêm. Nước suối chảy róc rách, cô vục mặt vào nguồn nước rồi ngẩng mặt lên trời, hét một tiếng thất thanh. Cũng giây phút ấy, đôi mắt cô bắt gặp một cành lan giữa hai khe đá. Vài sợi rễ bám hờ vào vách đá nhưng những cánh hoa trắng kiều diễm vẫn khẽ đung đưa. Phía dưới, một quả bom to nằm chễm chệ, nó nghênh chiến với cô hay đang cười giễu cợt cô? Trái bom vẫn nằm im lìm vẻ đắc ý. Cơn thịnh nộ bốc lên tới đầu, cô lao lán lấy cưa và lao vào quả bom bất chấp nguy hiểm. Mùi thuốc nổ TNT tỏa ra từ quả bom vừa được “phẫu thuật” tháo ngòi nổ làm Lan càng điên tiết. Cái “chất trắng” có mùi kẹo thơm lừng, đượm ngọt kia lại không phải để con người thưởng thức mà là để giết người. Cái hương ấy, mới hôm nào cô còn nghịch ngợm đưa lưỡi ra nếm thử. Đúng là độc ác và lừa bịp. Hương thơm dụ dỗ người ta để khi đụng vào tận miệng mới thấy đắng nghét, mới biết bản chất thật của một thứ quả mà chúng sinh ra không để nuôi sống người.

“Hắt… xì, hắt… xì, hắt… xì”

“Lan! Mày tránh ra mau, mặt mày đỏ ửng lên rồi kìa”- Giang xuất hiện từ lúc nào, vừa hắt hơi liên tục, vừa kéo cô bạn đứng lên. Những quả bom rơi lệch nên bị gọi là bom lép. Thế nhưng, nó vẫn nguy hiểm như thường nếu chưa được tháo đầu ngòi. Từ quả bom lép ấy, công trường đã chế tạo ra bao nhiêu mìn, lựu đạn phục vụ cho cuộc chiến…

Mày bắt đầu thay đổi từ đêm ấy. Bà khẽ thở dài nắm tay bạn. Tao cũng lờ mờ đoán ra lí do. Chỉ tội cho Sơn. Sơn không hiểu…

***

Cô trở nên trầm lắng và sống khép kín. Ngay cả Giang – cô bạn thân nhất, Lan cũng kiệm lời. Mấy lần, Sơn nhờ Giang hẹn cô ra vồ đá đêm nào nhưng đợi mãi, có khi gà gáy sáng vẫn không thấy bóng dáng người yêu. Ngay cả khi giáp mặt, ánh mắt cô cũng quá đỗi xa xôi.

Đêm nay, công trường giao lưu văn nghệ với đơn vị bộ đội chủ lực. Lan từ chối các tiết mục mọi người yêu cầu cô song ca với Sơn. Nàng kết thúc đêm văn nghệ bằng tiếng đàn Mandolin. Chưa bao giờ, ngón đàn của nàng đong đầy tâm trạng mà lại trong trẻo đến thế. Những ngón tay gầy, thon dài uyển chuyển. Âm thanh du dương, khi dồn dập, lúc rền rĩ, mềm mại mà dứt khoát, thiết tha và quyết liệt, nghe thì êm ái mà lại như chứa đầy bão giông. Không khí trùng xuống, ngưng đọng đến nghẹt thở. Ruột gan ai nấy héo úa, thôi tiếng nói cười, đùa giỡn. Mọi người hiểu cô mà lại dường như không hiểu gì. Vẫn biết một Lan đầy nội tâm và cũng không thiếu sôi nổi, nhưng sự hào hứng vẫn nguyên vẹn mà tâm hồn thì nặng trĩu hơn bao giờ. Từng âm thanh như thả vào lòng người nghe cả một khối sầu. Tiếng đàn đêm này, Lan tặng cho đồng đội hay ru chính lòng mình? Chỉ biết rằng khoảnh khắc này cô không bao giờ quên được, có lẽ cả Giang và Sơn cũng như thế.

Giò lan hồ điệp mà Lan vô tình phát hiện trong hang sâu đã trổ hoa. Nhưng cánh lan mới khoe sắc được một ngày, đêm sau một quả bom làm đá rơi, rớt gãy ngang cành. Lan đánh về trồng gần công trường. Sáng nay, một cành hoa nhỏ bắt đầu nhú lên từ ngay chỗ đốt bị gãy. Sự hồi sinh kỳ diệu. Cứ thế, Bắc Lan chạy đi khoe đồng đội. Lâu lắm rồi, mọi người mới thấy cô vui như vậy. Cô rủ Giang trải tấm cao su xuống đất ngủ cho mát, vừa nghe mùi đất, hương thảo mộc vây quanh. Công trường được bao phủ giữa bao la núi rừng, giữa những cánh lan trắng đến hoang hoải và thơ mộng dù vẫn rền tiếng bom đạn, nồng mùi thuốc súng.

Giang thức dậy khi trở mình thấy bên dưới ươn ướt. Cô ra khe suối nhuốm vàng trăng để giặt quần, tranh thủ màn đêm để phơi những mảnh vải mùng đã đổ màu ngà vàng. Hai đứa đều được phát vải trắng cùng một lúc nhưng chỉ vài tháng dùng, khi cùng đem phơi, của Lan vẫn còn rất trắng. Mà… phải lâu lắm, hai cô không cùng ngồi giặt chúng ở con suối này, và cũng lâu lắm, Giang không thấy…

“Lan! Lan! Mày thức dậy mau, tao có chuyện muốn hỏi!”

“Mày điên hả? Nửa đêm, hỏi han gì?” – Vừa dụi mắt, Lan vừa đi như chạy theo sức kéo xềnh xệch của Giang ra bờ suối.

“Tao đã nghi ngờ từ mấy tháng nay, sao mày không phải dùng chúng? Tao với mày có cùng ngày mà, nếu chậm trễ cũng đâu thể cả nửa năm nay rồi.” – Giang chỉ những mảnh vải xé tưa đang phất phơ trên tảng đá.

“Tao… tao bị mất kinh từ bảy tháng nay”.

“Mày đi ăn sương với thằng nào?”

“Nếu có thai, thì cái bụng tao phải to ra chứ, bảy tháng rồi còn gì?”

Lan bắt đầu nức nở, những giọt nước mắt ấm ức cứ thế tràn ra. Vai cô rung bật lên từng hồi. Sự dồn nén bấy lâu giờ hóa thành những tiếng nấc, tiếng gào xé cả màn đêm, đổ tràn vào dòng suối. Giang nhào đến ôm chặt Lan, vỗ vỗ phía sau lưng. Cả hai cùng khóc.

Hai người đàn bà im lặng. Hình như, họ đang cùng nghĩ đến một người.

Ngày ấy, mày đã cố tình lánh mặt Sơn, mày muốn nhường anh ấy cho tao. Giọng bà Giang chùng xuống.

Không phải tao nhường. Chiến tranh biến tao thành thứ không phải đàn bà… Hà cớ gì… Bà Lan dừng câu nói lại giữa chừng chuyển sang hỏi thăm bạn:  Thế cuộc sống của mày và ông Sơn thế nào?

Ổn. Ổng cũng đang rất ngóng chuyến đi này của tao. Mai tao và mày cùng về dưới nhé. – Bà Giang khẽ siết chặt tay bạn. Bất giác, cả hai cùng nhìn ra ngoài cửa sổ.

Bên ngoài, giò lan hồ điệp vẫn khiêm nhường vươn một thân mảnh dẻ ra đón ánh trăng, những cánh hoa trắng đến lóa mắt, dịu dàng không lẫn giữa bao nhiêu màu lan.

Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng

Những đêm trong rừng

 

Đêm nay là đêm thứ ba trong rừng, ánh trăng treo trên ngọn cây, xiên trên những dây choại, rọi qua kẽ lá, sóng sánh trên những chiếc quạt mật cật rồi chiếu mờ ảo xuống mặt đất. Niên nhìn lên vòm trời cao xa. Đêm nay là đêm thứ ba anh ở trong khu rừng nguyên sinh này. Thời gian trôi qua từng tích tắc. Nếu không có tiếng chim dáo dác bay về tổ, tiếng côn trùng rả rích, nỉ non, Niên sẽ không biết một ngày đã trôi qua. Một ngày trôi qua trong sợ hãi của nhiều người, lo lắng của nhiều người, tuyệt vọng của nhiều người…

Trăng muôn đời vẫn đẹp. Cánh rừng bao quanh anh cũng thật đẹp, còn đẹp hơn ánh trăng kia. Hay ánh trăng làm cánh rừng trở nên huyền hoặc như thế. Thói đời “gần thường xa thương”, con người ít khi biết trân quý những thứ gần gụi với mình. Nghĩ vậy, Niên thấy thương cánh rừng quá.

Niên nghe hơi nóng từ đất bốc lên, nghe tiếng gió gào thét oán hờn trên những thân cây chằng chịt. Có những tiếng rít răng nguyền rủa, giận dữ. Vài người trong Tiểu đội đang đoán già đoán non về tốc độ lan của ngọn lửa. Bất ngờ, hoang mang là cảm giác chung của mọi người vì đơn vị chỉ được lệnh vào kiểm tra rừng. Chẳng ai ngờ cuộc hành quân chuyến này lại phải đối mặt với lửa. Chẳng ai ngờ mình sẽ phải chôn chân ở đây. Vì nhiều cái không ngờ ấy nên Tiểu đội rơi vào thế bị động, giống như bị giặc đánh úp  bất ngờ nên không được tiếp viện; trang bị, nước, lương thực mang theo ít ỏi, không biết sẽ cầm cự được bao lâu nữa.

Đêm khuya, rừng sâu vọng tiếng lửa cháy. Cây cối đang rên xiết, muông thú đang hoảng loạn, giãy dụa gào thét trong biển lửa. Mọi người mệt lả, nằm rũ rượi đâu đó mê man trong những âm thanh dữ dội, chập chờn, chênh vênh thức – ngủ. Niên thoáng rùng người. Gió chạy sau lưng anh nóng ran, xông thẳng vào phổi. Niên ho sặc sụa. Khói. Khói theo làn gió rượt đuổi đến đây. Cơn gió ma mị, sương khói ma mị cuốn anh vào một con đường rậm rạp…

***

Rừng ngập đầy nước. Niên ngạc nhiên, lội bì bõm mãi xuyên qua những tán cây, hương tràm thơm phảng phất khiến anh ngây ngất, cứ thế mải miết đi mỗi lúc một nhanh hơn. Hương tràm mời gọi thơm ngậy mật ong. Niên đã vào rừng bao lần anh không thể đếm hết nhưng anh chưa bao giờ thấy hương tràm nồng nàn đến thế. Chắc vì mỗi lần vào rừng, anh chỉ đi một hai chỗ quen thuộc. Những bông hoa vàng sáng lên dưới ánh trăng, rải mùi theo gió. Mùi hương dậy mật, anh hểnh mũi lên hít hà. Đây đúng là vương quốc của bông tràm, Niên lẩm bẩm trong ý nghĩ. Màu vàng như rải lối, càng đi càng mê mẩn. Màu vàng dịu dàng, mộc mạc, càng nhìn càng mê đắm. Sau lần này về nghỉ phép, anh nhất định sẽ kết một vòng bông tràm thật lộng lẫy, ngát hương để đội lên đầu người yêu. Ý nghĩ ấy, khiến đôi chân anh như có thêm sức mạnh để tiếp tục cuộc thám hiểm. Giữa hai hàng tràm trải lối, với bông đua ra chen lá cành làm thành một rào chắn an toàn. Anh khẽ khàng vạch nhẹ, len lách qua những cành lá xum xuê, những dây choại giăng mắc gai góc. Thật lạ… Một mái chòi xuất hiện!

Anh đứng lặng hồi lâu, không vội đi vào trong. Một “ngôi nhà” thật đặc biệt. Ở thời bây giờ, chỉ những người có óc tưởng tượng và mơ mộng như anh mới chấp nhận đó là nhà. Những cây tràm to, thẳng bao bọc trên khoảng đất vuông vuông, vươn cao vừa phải rồi ngả nhẹ vào nhau, quấn theo bao thân leo chằng chịt, dây này móc nối vào dây kia, lá to che lá nhỏ, lá dài lẫn lá tròn quấn quýt, nâng đỡ, bao bọc. Sự kì diệu của tự nhiên. Hẳn là “nhà” của bộ đội giữa rừng. Anh chắc như đinh sau khi có cơn gió thổi mạnh qua, những chiếc lá tốc lên, để lộ những tấm cao su ố vàng được giăng bịt phía trong, vòng theo những thân tràm. Dưới khoảng nước xâm xấp mặt đất, những mảnh gỗ cong cong xếp chồng lên nhau, tuyệt nhiên khô ráo trên mặt nước. Nếu đoán không lầm, thì chúng chính là gỗ tận dụng từ những chiếc xuồng di chuyển của bộ đội ở trong rừng vào mùa nước này đã bị hư hỏng. Có thể vì bị bom đạn của giặc đánh trúng, có thể vì xuồng mục không sử dụng được nữa nên bộ đội phá đi giữ lại gỗ còn tốt để kê nền nhà?

Chắc chắn nó là “nhà” của bộ đội, vì qua cánh cửa được ngụy trang khéo bằng một thân tràm, Niên đã thấy chiếc nón mốp đầy nước trên một miếng gỗ làm kệ đựng đồ, một khẩu súng đã hoen gỉ và bộ quân phục vẫn còn một màu xanh nguyên vẹn. Niên xúc động, bước qua cánh cửa mà như bước vào một quảng trời vời xa. Mấy mươi năm có thể gọi là quá khứ? Những cái đã qua có phải sẽ ngủ yên? Không, nó sống mãi, chỉ cần chúng ta còn nhớ và còn hướng về nó. Cầm bộ quân phục lên ngắm nghía, vuốt ve, Niên nghĩ về những giấc mơ của tuổi trẻ, về màu xanh bất diệt dù màu xanh ấy có lưu giữ bằng rong rêu, cây cỏ. Và đã là màu xanh ấy thì chẳng có ngọn lửa nào có thể thiêu cháy, chẳng thời gian nào làm cho bạc phai, sờn cũ được…

***

Niên choàng mở mắt, tiếng gà gáy trong thẳm sâu vọng lại. Trời sáng rồi ư? Anh buông câu hỏi khi nhìn những đồng đội đã thức dậy từ bao giờ đang bàn chuyện râm ran gần chỗ cây tràm anh dựa vào và thiếp ngủ đi. Dẫu thời gian trôi nhanh, cũng không gấp gáp đến mức vậy. “Thật lạ, chúng ta không ngủ được mà vẫn cảm giác thời gian trôi qua nhanh.” – Một đồng đội của Niên lên tiếng. Thời gian nhanh hay chậm vốn do cảm nhận của mỗi người. Trong tình thế “nước sôi lửa bỏng” này, ai mà không muốn níu từng không phẩy không không n của giây. “Lan nhanh như lửa cháy”, câu nói này dám chắc những con người đang chịu trận trong cánh rừng này, một ngày phải nghĩ nhiều tương đương với ý nghĩ mong mỏi thời gian trôi qua thật chậm. Niềm mong mỏi ấy máu thịt đến mức, khi phát âm, họ cũng cố uốn lưỡi thật lâu, lộn ngược lộn xuôi, vo thật tròn trĩnh, thật chuẩn xác, đảm bảo không trật một âm, rồi mới cho thoát ra khỏi vòm miệng, dù lòng họ đang sục sôi, đang hối hả…

“Tất cả nghe lệnh tôi! Không ai được tự ý rời đội hình!” Ánh mắt sắc lạnh và cái giọng đanh như thét ra lửa của Tiểu đội trưởng Hùng ngày đầu hành quân vào sâu, phát hiện lửa cháy, khiến ai nấy đều nể sợ, không dám tự quyết bất cứ việc gì trừ những hoạt động thiên về sinh hoạt cá nhân.

***

Đêm thứ tư… Chẳng còn ai buồn ngắm trăng, dù trăng vẫn sáng. Mười sáu, trăng vẫn níu giữ được vẻ trong trẻo. Mọi thứ chẳng bao giờ là muộn hay kết thúc nếu người ta biết trân trọng và sử dụng từng không phẩy không không n giây để níu giữ, để bảo vệ, để nâng niu. Muộn rồi ư? Niên thấy đau lắm trong ruột rà, trong tim phổi, trong từng thớ thịt đang nóng lên theo nhiệt độ bên ngoài. Người quê Niên không biết quý trọng rừng, dù rừng cư xử rất lịch sự, rất thân thiện và xởi lởi với người dân quê Niên. Rừng ơi, đừng buồn nhé. Ráng chịu đau tí nhé. Sẽ nhanh thôi, chúng tôi sẽ cứu được bạn, yên tâm nhé!

Rừng không trả lời Niên, chỉ có gió. Gió mang khói cay sộc thẳng vào phổi khiến Niên chỉ kịp ngồi dựa vào gốc một cây tràm. Trong cơn say khói chập chờn, Niên đã nhìn thấy cả một trời kí ức…

… Cậu bé ngồi trên một chiếc chiếu nhỏ được trải trong khoang xuồng, phía đầu dằm là người đàn bà cuốn trên đầu chiếc khăn rằn, tay đưa mái chèo thoăn thoắt. Hình như đây là lần đầu tiên cậu được theo mẹ vào rừng. Cậu tràn đầy hân hoan nên cứ lí lắc, nói cười, chỉ trỏ liên tục. Nhà cậu nằm ngoài bìa rừng, phía những con đom đóm vẫn lập lòe thứ ánh sáng kì diệu duy nhất vào đêm ở xứ rừng hẻo lánh này. Dân nơi đây không dùng lửa ban đêm, đó là một qui ước từ khi người ta đào kinh xẻ nước từ mạch nước ngầm của cánh rừng này.

Nhà cậu và những gia đình nơi đây chủ yếu sống bám rừng. Tuổi thơ cậu bé lớn lên như cây tràm non. Mẹ tính tuổi cậu bằng những mùa tràm ra bông, hay khi rừng tràm chìm trong con nước mằn mặn, chan chát. Cậu bé đưa cặp mắt tròn đen ngơ ngác nhìn những con diệc lửa, con sếu vỗ cánh trên cành tràm, vài con dơi treo ngược người đen thui vắt vẻo trên ngọn cây cao. Những con ong chăm chỉ hút mật ở bông tràm vàng xuộm giữa mùa. Bất chợt, cậu hét toáng lên và chạy về phía đầu xuồng, ôm lấy vạt áo bà ba của mẹ. Cậu nhìn thấy một con rắn thân vằn đen, không đuôi, có hai đầu đỏ chót, lè lưỡi đớp cá dưới làn nước cạnh be xuồng. “Đừng sợ! Nếu con bảo vệ chúng, chúng chẳng bao giờ làm hại con.” “Con sẽ bảo vệ nó. Mà bảo vệ nó bằng cách nào hả mẹ?” “Như cha con, yêu quý rừng.” Người mẹ dịu dàng nhìn con, rồi thoăn thoắt mái chèo. Chiếc xuồng len qua những bụi rậm, luồn dưới những búi dây xoắn cuộn, chồng chéo lên nhau. Người đàn bà ấy đi ngắt dây choại về bện dây thừng, đi tìm lá mật cật để đan nón che đầu, dừng xuồng quanh đám tràm có lẫn cần ống hái về làm rau dưa, rồi khua nhẹ mái chèo đi vào xa mãi theo những thanh âm mời gọi trong thẳm sâu hoài niệm…

***

“Nếu còn sống trở về sau lần này, anh nhất định sẽ chở con gái đi mua kẹp tóc rồi chải đầu và buộc tóc cho nó. Bé con nhà anh có lần phụng phịu, chỉ mẹ là thương con, ba đi hoài, dặn mua quà kẹp tóc mãi mà chẳng lần nào ba nhớ. Con bé chỉ thích kẹp tóc mà anh…”

Anh Hưng bỏ lửng câu chuyện sau những tiếng thở dài. Anh là người lớn tuổi thứ hai trong tiểu đội, sau Tiểu đội trưởng Hùng. Không khí đang chùng lại thì Nam lên tiếng:

“Còn em sẽ về nhà liền, chạy đi tìm mẹ, ôm hôn mẹ, sờ ti của mẹ rồi nhấc bổng mẹ lên. Em vẫn cứ thèm được sờ ti, được vùi đầu vào vú mẹ nhưng em ngại, giờ thấy tiếc quá.”

Cả nhóm được một tràng cười giãn hết cả cơ mặt, vài tiếng chọc ghẹo nêm vào câu nói của Nam, rồi mỗi người lại chìm dần vào những tâm sự riêng mình. Niên bẻ một nhánh cây, ghi nghuệch ngoạc trên nền đất: “Rừng U Minh muôn đời ghi nghĩa lớn/ Sông Cái Tàu vạn thuở nhớ ơn sâu.” Anh nghĩ về con sông khơi nguồn từ cánh rừng này, nhớ những làng xóm ven bờ kinh, nhớ mẹ kể chuyện thời mẹ còn nhỏ vào rừng làm liên lạc, mẹ cùng ông ngọai đi câu cá; nhớ câu chuyện xẻ cá, phơi tôm để giành khi chạy giặc vào rừng; nhớ món tôm kho tàu gia truyền của mẹ, mà khi còn sống ông ngoại bảo thời chống Pháp ăn tôm kho tàu thua ăn muối với nước dừa. Tôm cá nhiều đến thế kia mà. Người dân quê anh bao đời nay luôn nương nhờ vào rừng để sống.

Tiếng lá cây nổ lách tách vọng lại. Lửa mỗi lúc một gần… Tiếng cú mèo, cú heo kêu liên hồi trên ngọn cây chà là tức tưởi, thê thiết.

“Chúng ta sắp chết rồi, những con chim ấy chẳng phải là báo hiệu cho những linh hồn sắp từ biệt thể xác hay sao? Em chưa muốn chết, em còn trẻ, còn chưa vợ. Ba mẹ em chỉ có mình em thôi. Em không thể chết, không thể.”

Tiếng Nam kêu thóc thảm thiết càng làm cho không khí thêm căng thẳng. Không ai an ủi Nam, vì chẳng ai đưa ra được lý do hay hi vọng nào đó. Người ta làm sao an ủi được ai khác khi chính mình cũng đang hoang mang, lo sợ.

“Tiểu đội trưởng, hãy cho em chạy ra ngoài, em tin mình biết đường và sẽ cứu được mọi người, cứu được rừng.” – Niên đứng bật lên đề nghị.

Bốp!

“Im đi! Tất cả các đồng chí nghe đây, không ai được hành động khi chưa có lệnh của tôi. Chúng ta nhất định phải chờ đợi bên ngoài vào cứu viện.”

Niên bặm môi cúi xuống sau khi lãnh một bạt tai như trời giáng của Hùng. Không khí lại chùn xuống thê lương, rệu rã, chỉ có tiếng gió mang theo ngọn lửa mỗi lúc một gần hơn. Những lúc thế này, người ta cần lắm sức mạnh của niềm tin, và niềm tin ấy đôi khi cần thử thách và sự đánh đổi…

***

Niên chạy mãi, chạy mãi băng qua những dây choại, lách giữa những cây mật cật, cây tràm trĩu vàng bông. Mùa xuân đến rồi đậu trên những bông tràm nở chi chít trên thân, trên cành, cả dưới gốc cây. Tiếng chim ríu rít trên đầu, ong bướm bay dập dờn trên hoa cỏ. Gió lượn lờ xoay những điệu nhẹ nhàng cho cành lá, vờn đuổi trên mái tóc rối bám đầy phấn hoa của Niên. Anh nhắm hờ mắt, mặt hơi ngẩng lên, đưa mũi hít hà, cảm tưởng như lồng ngực căng phồng lên, bao khói bụi đã bay ra ngoài tản mát hết vào rừng xanh.

Đôi chân trần thích thú dẫm trên mặt đất mát lạnh, cỏ lá mát lạnh. Rừng trong lành và dịu dàng, rừng râm mát và tươi trẻ. Niên đưa tay ra và tưởng tượng như ngày nào cùng mẹ vào rừng khi lấy củi, khi bứt đọt choại về nấu canh; nghe mẹ kể chuyện hồi chiến tranh, ăn đọt choại thay cơm, tìm bắt đuông trên chà là chống đói, đốt cỏ tranh lấy tro thay muối mặn; thời mẹ còn là cô bé thường thích kết vòng hoa tràm đội lên đầu.

Thời mẹ là cô giao liên, ba là anh bộ đội sống chết bám rừng. Mẹ thường đưa Niên vào rừng, nơi đây ba mẹ đã cho anh thành hình, có lẽ vì thế mà anh thấy cánh rừng này đâu đâu cũng gần gũi như bàn chân, như hơi thở của mẹ, như hình bóng của ba.

Có nhắm mắt, từ chỗ gốc cây này anh cũng tìm ra được chỗ mẹ chôn tấm áo nilon của ba. Ba không có mộ, mẹ không dựng mộ cho ba mà chỉ chôn tấm áo ấy trong rừng, tại chỗ ông hi sinh. Sau đó, mẹ thường vào rừng một mình trò chuyện với ba. Từ ngày Niên lớn, mẹ thường dắt anh theo để thắp hương. Ngày Niên mở mắt chào đời cũng là lúc đất nước vừa tàn cơn biến loạn. Nhiều cuộc kiếm tìm nhưng vẫn chưa thấy hài cốt của ba. Mẹ anh không lấy đó làm buồn. Bởi mẹ nghĩ ba đã về với đất. Xương thịt ba vẫn hiện tồn trong màu xanh cây lá tốt tươi…

Niên quỳ xuống nền rừng. Anh thấy cảnh ba bị trúng đạn, một viên trượt giữa trán, ba lùi lại mấy bước, tựa vào thân tràm; một viên nữa trúng giữa ngực, ba ngồi phịch xuống dưới gốc cây, mắt ba khép hờ mà tay vẫn cố đưa ra sau, ôm lấy thân tràm đã hứng tiếp ba viên đạn. Cây tràm ấy không chết, như được tiếp thêm sức mạnh từ vòng tay ấy, chỗ vết đạn cây gãy ngang lòa xòa mặt đất với một phần thịt mỏng mảnh còn bám lại, mọc lên vài nhánh mới, non tơ, xanh mướt, mùa qua, tháng lại bao nhiêu hoa lại tỏa hương, bao nhiêu nhành non lại đâm chồi.

Niên không được nhìn thấy ba anh bằng xương, bằng thịt, chỉ qua những tấm ảnh trắng đen và sự kí họa trong trí tưởng tượng qua những câu chuyện mẹ kể. Nhưng Niên hay gặp ba lắm. Khi mặt trời còn lừng lững phía trời xa, Niên đã thấy ba thức dậy, đi dạo quanh trong rừng, thăm thú một vài cây tràm non mới mọc, nhặt vài quả trứng chim bỏ lại tổ của chúng; hay ngồi thở dài trước vài con chim đã treo ngược mình trên cây, không biết chúng đã chết từ lúc nào. Khi mặt trời đứng bóng, Niên thấy ba thổi cơm. Ba thổi cơm đều đặn. Và anh luôn thấy ba rung cây để tản mát khói. Niên quặn lòng nghĩ, những năm chiến tranh, ba và đồng đội của anh đã bao lần dùng lửa trong rừng mà rừng có cháy đâu? Vậy mà hòa bình…

Niên thấy ba khi bóng hoàng hôn ngả vàng trên màu lá rừng. Ngắm ở bất cứ góc độ nào, ở bất cứ đâu, trên ngọn chà là, dưới ruộng rau cần, trong tán mật cật hay um tùm của dây choại, Niên đều dễ dàng nhìn thấy ba, không rõ ràng nhưng gần gũi lắm. Rồi đêm xuống, anh lại được nắm tay ba đi dạo trong rừng. Dưới ánh trăng khuya, rừng xanh yên ả đến diệu kì. Ba thường không nói, Niên cũng im lặng, cứ thế bước giữa rừng đêm. Những cuộc dạo chơi ấy, anh luôn háo hức và chờ đợi. Ba sẽ đưa anh men theo những lối mòn bí ẩn. Con đường đó đầy mảnh bom, có những thân tràm chết khô, những thân tràm còn dính vết đạn, nhưng những dây choại thì thấp hơn, không bày binh bố trận để bắt cóc người. Điểm cuối cùng bao giờ cũng là nơi đây, nơi mà Niên đặc biệt yêu thích, nó là một công trình kiến trúc thô sơ nhưng độc đáo. Ngang giữa bốn thân tràm theo hình chữ nhật là một mái lợp tuyệt khéo được che chắn từ những vỏ tràm nằm xếp lớp lên nhau. Vỏ tràm dày gồm nhiều lớp không thấm nước. Giữa rừng, có vỏ tràm làm mái lợp còn gì thích hơn, vừa che mưa, tránh nắng, phòng sương vừa ngụy trang phòng địch phát hiện. Nối liền đó là những tấm bạt cao su được cột nối tiếp nhau, dưới mỗi tấm bạt là một chiếc võng. Ba không nói Niên cũng biết đây là nơi ba từng đóng quân, những công trình che chắn này là do những “kĩ sư” đồng đội cùng ba thiết kế. Niên tuyệt nhiên chưa hỏi vì sao ba luôn dẫn anh đến đây, chắc vì hồi nhỏ Niên thích chơi nhà chòi. Ba luôn dắt Niên đi như thế trong những đêm rừng nhuộm đầy trăng, rồi bất ngờ buông tay anh ra, tan vào sương khói khi có tiếng gà gáy từ xóm làng vọng lại…

***

Ba! Ba! Tiếng gọi thất thanh vang ra rồi dội lại trong thinh không. Niên đã mơ một giấc dài, giấc mơ của những giấc mơ. Những giấc mơ rất cần để xoa dịu thực tại. Tiếng chim dáo dác kêu váng trời đêm, tiếng đập cánh loạn xạ như chạy trốn, như cầu cứu, như hấp hối. Lương thực dù đã dùng dè xẻn lắm nhưng cũng đã cạn kiệt, bụng ai nấy đều sôi réo. Đuông chà là cũng hết, những thức rau có thể ăn độn cũng không còn, rễ móp cũng teo tóp không còn một giọt nước. Cái nóng từ trên tỏa xuống, từ dưới bốc lên khiến cơ thể mất nước trầm trọng, môi khô đến rạn nứt, cổ họng nóng ran. Đến nước này, nước tiểu cũng trở nên quý hiếm. Ai tiểu được ra bao nhiêu tận dụng uống hết lại bấy nhiêu, nhưng tiểu ra mà không có nước uống vào nên nước tiểu cũng không còn. Vừa đói, vừa khát, vừa nóng bức, ai cũng mệt mỏi rã rời.

“Các đồng chí phải vững vàng, chúng ta sẽ mau chóng được cứu viện thôi”. Câu chữ của Tiểu đội trưởng Hùng xem ra vẫn khí thế lắm, nhưng giọng nói và vẻ mặt thì đã gợn vẻ hoang mang. Có nằm mơ những người lính này cũng không thể tưởng tượng một ngày họ sẽ rơi vào cảnh chết đói và chết khát, dù vẫn biết thời nào đời lính cũng lắm gian nguy.

Cởi áo rồi mặc lại áo. Đứng lên rồi ngồi xuống. Rồi lại đứng lên. Rồi lại ngồi… Thế đường cùng làm những hành động trở nên quẩn quanh. Rồi như cạn kiệt hơi lực, họ như những cây rừng chết trân một chỗ đón đợi ngọn lửa đang vần vũ kéo lại. Tiếng cây nổ cháy giòn giã trong đớn đau…

Từng đàn chim vỗ cánh bay loạn xạ vô hướng. Khoảng rừng đêm đã khuyết dần bóng trăng. Không thể ở mãi đây để đón nhận, để chứng kiến sự thiêu hủy của ngọn lửa này. Trái tim Niên thổn thức rung lên dữ dội. Anh nghe như nó đang tan ra cùng ngọn lửa. Quê! Rừng!…

Ba! Niên bật dậy, mắt đăm đăm nhìn vào bóng đêm đã gần đen kịt. Anh lao đi như một mũi tên.

Ba! Ba đã tái sinh trên màu xanh cây lá. Sự tái sinh ấy phải còn mãi.

Đêm tối quá, trăng đã khuyết rồi, chỉ mình Niên bàng hoàng thở dốc đạp trên đất, trên dây, trên lá. Lẫn trong mùi lửa khô và hắc, hương tràm thấm đượm. Niên buông thõng người, chạy đi như bị thôi miên cho đến lúc anh kịp tỉnh để nhận ra đã đến gốc cây tràm. Những nén hương đã tàn tro.

Niên xúc động quỳ xuống, nước mắt anh rịn ra, răng nghiến chặt, hai bàn tay cào bới liên hồi, đất văng ra, vung lên rơi vãi bụi lòa xòa trên nền đất. Đôi tay không biết đau đớn và mệt mỏi, liên tục cào bới cho đến khi Niên lấy được chiếc áo của ba dưới đất lên, ôm vào người. Anh áp mặt vào chiếc áo lính mát lạnh hơi đất. Tay anh sờ soạng từ gấu áo đến hai bên tay, từ phần cổ xuống hai hàng khuy nút rồi dừng lại ở bên túi áo. Anh thoáng nhíu mày rồi đưa tay vào trong móc ra một tấm giấy gấp tư ố vàng đã bong nhựa ép ở nhiều chỗ.

Niên mở tấm giấy ra xem. Những đường vẽ đứt khúc. Những dấu cộng liên tiếp nhau. Những mũi tên len lỏi giữa con đường. Những chữ V ngược san sát nhau nằm hai bên đường mũi tên, bên này hình giọt nước, những con lăng quăng, bên kia là hình mặt trời, những đường chỉ màu xanh, màu đỏ…

Niên đứng ngẩn ra, mặc vội chiếc áo vào người. Con đường này, con đường trong những giấc mơ. “Ba ơi, con nhất định sẽ cứu được đồng đội con, cứu được cánh rừng này!”

Niên chạy băng qua những giấc mơ, băng qua ngọn lửa, băng qua thời gian tưởng như sắp dừng lại để kết thúc sự sống nơi này; để lại trên lá, trên dây, trên đất những vết máu tứa ra từ đôi chân trần đạp gai góc, từ mười ngón tay rỉ máu…

***

Nhiều năm về sau, những người đồng đội vẫn không thể quên hình ảnh Niên khi được đưa đi cấp cứu: Tóc cháy xém khét lẹt, với đầy vết rạch xước ngang dọc trên mặt, trên thân, đôi chân chi chít gai cây rừng, nhiều cái gai đã lặn hẳn vào trong lòng bàn chân, những đốt tay xây xát, nhiều đốt lòi cả xương ra ngoài. Báo chí đưa tin, các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu kĩ khu rừng hòng lí giải cuộc thoát hiểm thần kì của Tiểu đội bộ binh 3. Và rốt cuộc họ kết luận rằng, cuộc thoát hiểm hoàn toàn nhờ may mắn, bởi khu rừng nguyên sinh rậm rạp ấy chỉ có một con đường để thoát ra…

HOÀNG THỊ TRÚC LY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *