Truyện ngắn tác giả trẻ Diệu Ái ở Quảng Trị

Tác giả trẻ Diệu Ái

Vanvn- Diệu Ái sinh năm 1987, là Hội viên Hội VHNT tỉnh Quảng Trị, hiện là Biên tập viên Tạp chí Cửa Việt. Chị đã xuất bản: Mưa từ cõi tạm (tập truyện ngắn, 2016); Bởi cuộc đời không có những giá như (tản văn, 2017); Những mùa gió rát (tập truyện ngắn, 2018) đều do Công ty sách Phương Nam & NXB Văn hóa Văn nghệ ấn hành.

Diệu Ái rất thành công trong việc xây dựng và khám phá thế giới nội tâm của con người. Những con người khổ đau, bất hạnh trong tình yêu và cuộc sống, đặc biệt là người phụ nữ, qua những cảm nhận tinh tế, sâu sắc, qua giọng văn dịu dàng, đằm thắm của chị, cho người đọc những thấm thía, chiêm nghiệm về cuộc đời, về nhân sinh. Đặc biệt, phương ngữ miền Trung và kĩ thuật đa bội điểm nhìn là một thế mạnh trong truyện ngắn của chị, giúp chị xác tín một hướng đi riêng cho mình.

HOÀNG THỤY ANH giới thiệu

 

Xứ Cùa vơi gió

 

Cùa bây chừ lạ lắm, ai đi xa trở về có khi nghĩ mình đang lạc. Xe chạy lên con dốc đã thoải hơn, bớt quanh co, bớt thâm u mịt mùng. Càng đi vào Cùa, cái cảm giác rợn người của rừng rú ngày xưa từ những dấu chân beo và tiếng kêu của thú rừng nào gọi lại đã thành xa vắng. Thảo cười tươi bảo, giờ vào Cùa thì thơm lắm, mùa nào thơm thức ấy, mùa bơ thơm bơ, mùa tiêu thơm tiêu. Quanh năm là vị chè ngai ngái, nắng giòn giã, duy chỉ có gió Lào là không đổi mấy. Xứ này, chi chứ gió là đặc sản.

Mỗi lần lên o chơi, tôi đi qua những con dốc và cái đèo quanh co tưởng như bất tận. Không biết có phải tại càng lớn nên càng thấy con dốc và những ngã cong mai một dần, lại có vẻ như gần hơn. Chỗ bờ dốc lao xao nắng gió kia trong những ngày tháng bảy, gió Lào thổi tạt như bão, dáng o gầy guộc trên chiếc xe đạp ì ạch đẩy hàng lên. Người o nhỏ thó mà bóng nắng đổ dài trên đường hệt như một dấu chấm than lửng lơ tội tình. Chừng đến khi Thảo lớn, o mới nghỉ buôn bán ở nhà chăm chú vô mấy gốc tiêu, vườn bơ, vườn chè.

Thảo nói chị đi khắp phương, kiếm mô ra loại chè như ở xứ này. Những cây chè cổ thụ với thân cao vút, lá xum xuê. Uống chè Cùa phải hãm cả cành mới ngọt đủ. Có bận lên o ôn thi đại học, tôi nghĩ uống nước chè để khỏi buồn ngủ nên chơi liền một ly đầy. Uống xong thấy xây xẩm mặt mày, tay chân bủn rủn, bụng dạ cồn cào. Thảo cười khan, chị say chè rồi. Sau dạo đó, vì ngại nên tôi bắt đầu tập uống, uống rồi đâm nghiện, về nhà uống nước chè đậm chát hơn cả mạ. Mạ nói, mấy đứa như bây mà uống nước chè đậm như này sớm già đanh.

O không về quê ở không phải bởi trong lòng còn tự ái khi nhớ năm xưa nội dấm dẳng đòi từ mặt. Sau này ba và mấy bác lên thăm, kêu về dưới kia anh em nương tựa nhau mà sống chứ ở chi xứ heo hút độc địa này, o nhìn ra mảnh vườn rồi chép miệng “để anh nằm đây mình tội lắm mấy cậu”. Với lại, cái xứ heo hút này dù sao trước kia cũng là miền đất hứa của mối tình đẹp bất chấp những cản ngăn. Nội ở lại một đêm trong ánh đèn dầu tù mù, ra múc nước giếng thấy vàng khè, phèn thì đặc quánh mà chỉ biết thở dài thườn thượt.

Mấy thứ đó đâu nhằm nhò chi, con người ta sống miết rồi so ra cái nào có thể quên, có thể quen và cái nào thì vĩnh viễn ghim mãi trong người. O nói hình ảnh o nhớ nhất đời này là hôm dượng đi. Lúc đó, o như có linh tính chi lạ, ruột gan nóng bừng, đứng ngồi không yên. Không phải nói chứ con Lu sáng đó cứ sủa inh ỏi, tới trưa còn bỏ ăn. Lại nói không hay lắm chứ phải chi hôm đó dượng đi một mình, đừng dắt theo thằng Tý.

Sau này, mỗi đêm trong hàng ngàn đêm, dượng hay trở về trong giấc mơ chưa từng hao hụt. Về với nụ cười tươi rói hiền hậu, cùng câu nhắn nhủ nghe như mới đây thôi “Trưa, mạ mi nấu canh khế chua cá tràu cho tui nghe”, lúc đưa mớ cá dượng đã làm sạch cho o. Cái giọng Bắc cố lai tiếng quê này nghe thương lắm. Rồi đưa tay bẹo má con Thảo “ba đi nghe con gái”, tay kia dắt theo thằng Tý đang còn hớn hở. Ra tới cổng chè tàu còn đưa tay vẫy vẫy hai mạ con. Cái vẫy tay ấy đâu biết là lần cuối.

Rồi dượng đi tới chập trưa mà o chẳng làm được chi cả. Cứ đi vô đi ra, lấn bấn nôn nao cả buổi. Đến khi nghe tiếng đùng đoàng thất kinh từ đâu vọng lại thì o xấp xãi nước mắt ngắn dài đổ ra đường lộ. Ai nấy mặt xanh le xanh lét lạy trời không phải chồng con mình trước khi xác định tiếng vang ấy từ đâu vọng lại.

Mấy người gần đó, xem xong về bỏ cơm ba ngày. Người ta kháo nhau rằng cái điều đau khổ là chỗ này, dượng đi bộ đội mấy năm bom đạn tránh hết, thế mà tới thời bình lại chết vì bom. O không ngất như mấy người kia, o phải tỉnh để xem người ta đưa chồng mình về đầy đủ không và thằng con trai có nằm lẫn trong chồng. Nhưng may, người ta tìm thấy thằng Tý trong bụi sim gần đó, có điều hai chân nó không còn.

Đất Cùa đầy tàn dư của chiến tranh nên thi thoảng dân ở đây vẫn nghe tiếng nổ chát chúa hay thấy khói xanh xao bốc lên cùng tiếng lẹt đẹt từ những rặng lau lách trên ngọn đồi nào đó. Cũng lắm người gặp nạn như dượng, nhưng hồi đó không ai trẻ như dượng. Con Thảo lúc ấy mới chập chững biết đi.

Nụ cười của dượng cứ day đi day lại không biết bao nhiêu lần trong những giấc mơ chập chờn suốt mấy chục năm qua. Đêm trước ngày giỗ, thể nào dượng cũng về trêu o vài bận, khi thì cười, khi thì chợn con Thảo “con lớn quá rồi”. Trời chưa sớm, o lật đật lên chợ Cùa mua đồ cúng, kiếm con cá tràu rồi ra vườn hái vài trái khế chua cúng bữa cơm nghi ngút khói.

Đôi chân của thằng Tý được nằm cùng với dượng. Nó bảo, chân em đi cùng với ba cho vui. Nó đeo chân giả nhưng làm gì cũng được. Kể cả chạy, dù không nhanh nhưng vẫn có thể gọi là chạy. Đôi chân ấy, sau này là trụ cột lỏng lẻo trong ngôi nhà hiu quạnh nằm bên sườn dốc. Căn nhà nằm chênh vênh với mái tranh xiêu vẹo, hông nhà trát đầy phân trâu đen thui che mưa che nắng cho ba con người.

Những hôm trời nhá nhem mà o chưa về, Thảo nấu cơm rồi chắt nước pha đường để hai anh em uống trước cho đỡ đói. Thảo nhỏ nhắn mà thừa hưởng những đảm đang của mạ. Việc chi cũng giỏi giang, đàng hoàng. Nó ngồi co ro, ngó anh Tý đang ngắm đôi chân còn lại của mình rồi ngóng ra hàng chè tàu chờ mạ về sẽ lại cười nói cho nhà bớt quạnh.

Đã nhiều đêm nằm ngủ, o nằm yên nghe tiếng con Lu sủa inh ỏi vì bước chân người lạ đứng thấp thỏm ngoài ngõ. Sáng ra, con Thảo thấy chỗ mấp mé hàng chè tàu đầy rẫy đầu thuốc lá. Thảo quét dọn và ấm ức như thể mấy cái đầu thuốc kia hiện rõ cả mặt người ngồi đó để nó đành hanh đằng hắng “đừng hòng giành mạ của tụi tui”. Chẳng hiểu đứng cả đêm làm gì khi biết rằng không thể nào qua khỏi cánh cửa kia được. Những đêm nằm, Thảo nghe tiếng thở dài của mạ nhưng nó làm như say ngủ, đưa tay quàng mạ thật chặt. O lén trở người thì nó vòng tay ôm siết vờ ú ớ mê man. O gác tay lên trán, nén những thổn thức trong lòng.

Chú Tường là người của vùng Cùa. Thuộc từng ngóc ngách, từng bụi rậm nên đôi ba lần cứu o khỏi mấy con vắt rừng. Phải ngày trước chưa quen dượng, o đã lần khần có ý với chú. Nên cái lần khần đó sau này biến thành nỗi “giá như”, “hay là” mà mỗi sớm tỉnh giấc thấy quanh nhà đầy những dấu giày và hơi thuốc còn đọng lại. Hay đôi lần gặp giữa đường, chú đẩy giùm o cái xe hàng nặng trịch mà o lấm lét “anh đâu đẩy giùm được đời tui”. Có nhiều bữa thấy rừng rú gọi lại, lòng dạ o quạnh vắng, niềm vui vừa nhen lên đấy rồi thấy hiu hắt quá nên chẳng buồn nhếch miệng.

Thảo nghe làng xóm chọc ghẹo ghép đôi nên càng ghét chú. Nó đứng dạng chân trước nhà, nói với o, ai mà vô đây đòi cưới mạ thì con bỏ xứ đi. Trời đất, cái con bé mới lên mười, chẳng nhớ mặt cha mà cứ khư khư giữ mạ cho riêng mình. Đất này, qua mỗi ngày đã bớt đi cằn cỗi mà lòng đứa con gái kia sao càng lớn càng khô. Mãi tới khi biết thương một thằng con trai thì tâm tính nó mới bắt đầu đổi khác và tới lúc lấy chồng lạ đời nó bảo mạ thương người ta thì mở cửa cho họ vào, hiếm ai mà chờ được vậy.

Mấy gốc chè ngày trước chỉ bằng con Thảo, giờ nó lớn nhổng nên mấy gốc chè cũng cao vợi. Có bận dăm ba người đến hỏi mua với giá cao ngất vì thế cây đẹp nhưng o nhất quyết không bán. Người ta, đói khát chi lắm mà bán tình bán nghĩa, mấy gốc chè này ngày xưa mình dượng lúi húi vun.

Mạ tôi nói cái tuổi của o là “Thân tự lập thân”, là số khổ, số đày đọa. Ngấp nghé hơn nửa đời người rồi giờ còn ráp lại với ai nữa, về lụm đụm mà chăm cho lão già nào khi coi như đã qua hồi cơ cực. Thảo cười hiền, tùy mạ, mạ thương người ta thì mạ ở. O nhìn bâng quơ, gần qua dốc đời rồi nên còn thiết tha chi nữa.

Tôi biết nỗi buồn của o níu lại nơi tiếng thở dài của Thảo, khi chỗ lá vằng o để dành vẫn chưa dùng được. Đất này ngày xưa độc địa. Mưa xối bao nhiêu năm cũng không rửa hết những chất độc thấm vô trong từng thớ đất, cái thứ nước uống hàng ngày có khi làm cho con người ta cạn ráo những mầm sống. Xóm này đã có những nóc nhà sinh con, sinh cháu ra ú ớ, có nhà lại hiu hắt chỉ bóng vợ chồng già nên cái chuyện khó có con cũng là dễ hiểu.

Thảo héo hắt, nó bảo thấy mình như tàn tạ đi mỗi ngày. O lay lắt bao năm cũng chờ chăm đứa cháu, mà nó cũng thấp thỏm cho phận mình, không biết có được làm mẹ không nên bảo thằng chồng lấy vợ khác cho yên ấm. Chồng hậm hực mắng Thảo, thề sống thề chết đồng cam cộng khổ, con cái là của trời cho. Rồi bận sau, thấy bẽn lẽn đi về lấy đồ đạc qua bên kia, con bé cùng chỗ làm đã đẻ thằng cu ba cân mốt. Thảo cười để nuốt chửng giọt nước mắt sắp rớt ra.

Cùa bây chừ xanh um tươi tắn, vẫn màu xanh vợi nhưng mà màu xanh của sức sống mới, của niềm tin yêu, hy vọng mới. Không phải là màu hoang vu đáng sợ như ngày dượng cầm tay o cười tự tin hệt như sức sống này rồi sẽ bùng lên ở nơi người ta gọi là vùng đất chết, hoang vu, hẻo lánh hay gì đó đại loại. Mà đất này, sau giải phóng chỗ nào không là bãi rác thì cũng tràn những hố bom, lởm chởm những dây thép gai rối rắm dài ngoằng. Khắp Cùa lúc này bạt ngàn màu xanh của vạt rừng cao su, hồ tiêu, bơ và đủ loại cây trái. Đất đấy, ngày trước người ta e dè, nhìn nó chẳng chút niềm tin, bây chừ thì hiểu nó cũng đâu bạc khi người đã dốc tất cả để phủ sự sống lên đó. Những vết chân người, những bàn tay lực lưỡng, ngàn giọt mồ hôi rơi vãi khúc quanh này, chỗ dốc kia để rải nhựa bằng phẳng, để con đường về Cùa ngày mưa đỡ xoi bùn, ngày nắng đỡ bụi. Nên bằng cách nào đó, o nói cho Thảo tin mầm sống sẽ cựa quậy trong bụng con khi chúng ta chưa ngừng hy vọng. Mấy tháng sau, Thảo cưới một anh dạy cùng trường rồi về nhà cười ỏn ẻn ôm hết đám lá vằng khô o treo trên giàn bếp.

Đất Cùa vẫn đỏ au trong những ngày nắng gió và nhão nhoẹt những khi mùa mưa tới. Có điều vẫn màu mỡ, chỉ sợ sức người cạn thôi. Mỗi ngày qua, cuộc sống sẽ tươi đẹp hơn chứ không phải xấu và tệ hại đi như những niềm tuyệt vọng cứ mòn mỏi dần dà.

Đám cưới của thằng Tý mà o khóc hơn cả lúc Thảo lấy chồng, khóc xong rồi cười mãn nguyện. Tôi không biết mai mốt chú Tường có bước qua được cánh cửa đó không, khi ngôi nhà đã được cất lên khang trang qua những mùa tiêu sây hạt. Lâu lâu o chép miệng kêu người ấy thui thủi một mình cũng tội và lặp lại những “giá như”, “hay là” bằng tâm trí.

Gió thổi chỗ dốc Cùa hình như đã vơi đi nhiều lắm.

Tranh của Phương Nguyên

Lửng lơ dưới tán bông gòn

 

Cậu hay nói, mai mốt mạ bây có tắt thở chắc ba ngày sau miệng còn hấp háy. Tại răng? Ờ, thì nói nhiều quá mà, nói đến nỗi miệng đâu kịp lên da non. Cậu nói rồi cười rung đùi. Tôi tưởng đâu mạ sẽ giận lẫy lắm vậy mà mạ chẳng la mắng chi, vẫn ngồi bên cười góp vui cùng cậu.

Hồi nhỏ tới chừ, không biết bao nhiêu lần tôi ôm bụng cười nắc nẻ khi nghe cậu mình nói chuyện. Cậu hay nói tưng tửng dễ khiến mất lòng người khác. Hồi cậu mợ mới cưới nhau, cứ năm bữa nửa tháng mợ lại giận dỗi khóc lóc cũng bởi tính nết này của cậu. Sau này quen thì cười hỉ hả bỏ qua, cũng phải quen mới sống yên ổn lâu dài được, chứ chấp trách thì dễ chi.

Tôi biết mạ nói nhiều, nói vô kể, nói không ngừng nghỉ. Chủ đề nào mạ cũng nói, xa lạ quen thân chi mạ cũng có thể nói cùng họ. Như thể chỉ cần im lặng một chút là lòng mạ lợn cợn không vui. Đôi lúc toàn thân bệ rạc, mệt mỏi vì một ngày dài, mạ trở về nhà vẫn mang theo những câu chuyện dọc đường dọc sá, chẳng hề liên quan và rất tẻ nhạt. Tôi hình dung mình cần ở đó, dù chỉ ừ hử vài tiếng để lời của mạ không rơi vào không khí rồi mất hút mênh mông.

Chỉ đến buổi trưa đó, sau vài câu tếu táo không làm mạ giận, cậu buông thẳng băng lời khác “cũng tại chị chớ ai, tại chị nói quá nên ba hắn mới làm vậy”. Không biết có phải lời đó cậu đã nín nhịn suốt mấy chục năm qua hay cậu chỉ bâng quơ nói cho vui như bao lần khác. Giữ vẻ thản nhiên như mọi bữa, cậu cười dù biết rõ ràng chẳng có chi vui. Lời nói kia làm mạ tối sầm mặt mũi, bà đùng đùng đứng dậy, cắp nón bỏ đi. Đến cậu mà còn nói tui rứa, hèn chi…

Hèn chi cả làng cả xóm này có bao giờ để mạ bình yên đâu. Nhất là mỗi lần kỵ giỗ ba hay có ai đó vô tình nhắc lại người đã khuất bằng tiếng thở dài, chép miệng. Năm tháng trôi qua, bao nghi ngờ xét nét không biết có phai bớt không nhưng trí nhớ non nớt của tôi vẫn nhớ lời người ta xầm xì chỉ trỏ mỗi khi bắt gặp mạ con tôi đi qua cổng làng. Cảm thông người đời dành cho nhau coi vậy chứ hiếm hoi lắm, càng thân thiết ruột rà lại càng khó trao đi. Nhiều người dễ tha thứ tội lỗi cho người xa lạ, còn người quen biết thiết thân bên mình thì ghim vào bụng, đôi bữa lấy ra nhắc lại để khuấy đục lòng nhau.

Câu nói của cậu như lưỡi dao sắc lẻm cứa vào gan ruột mạ tôi. Mạ bảo, thiên hạ nói kiểu chi cũng không chấp nhưng người nhà mà đinh ninh vậy thì đau lắm. Mạ đưa mắt nhìn tôi như hỏi ý tôi thì sao? Tôi có cùng suy nghĩ như bao người không? Lắm lúc tôi thất thần, đứng luẩn quẩn dưới gốc bông gòn rồi ngó lên vòm lá. Thiệt tình, nhiều khi tôi cũng không rõ lòng mình. Những chuyện mắt không thấy, tai không nghe thì tốt hơn đừng nên suy diễn, nghi ngờ chi cho cực.

Cậu rề rà, dù chi nếu nói ra được, con sẽ thấy nhẹ lòng hơn. Mà không trách được, tại mạ bây nói hết phần của bây rồi. Mạ nói nhiều chừng nào, tôi nín thinh, ít nói từng đó. Con nít lên năm, lên bảy đáng ra luôn hỏi bi bô, nói chuyện trên dưới, thắc mắc tò mò đủ kiểu. Tôi lại khác, mặt cứ buồn buồn, hay cúi xuống và ít nhìn lên. Hình như tôi chỉ nhìn lên trên tán lá mỗi lần đi qua cây gòn. Cháu con mấy đứa, cậu bảo thương tôi nhất, thương bởi vẻ im ỉm cam chịu này.

Có lẽ, tại suốt đời, tôi đã dành nỗi thắc mắc về cái chết của ba nên chi những lời khác có nói ra cũng thành vô nghĩa. Mạ đã nói gì, chuyện chi đã xảy ra? Có thực là mạ ghen ba? Mạ chì chiết ba? Tôi cũng tò mò muốn biết lắm nhưng sợ chỉ cần mình gợn hỏi một tí thôi cũng đủ làm bung vỡ những gì mạ muốn che đậy. Dù chi chuyện hồi đó cũng chỉ có ba mạ biết với nhau, nên mạ không nói tường tận thì đâu ai rõ.

Ai cũng bảo ba chết là do mạ. Tại mạ nói năng không khéo, tại mạ xua đuổi, tại mạ chì chiết, ghen tuông. Nhà nội còn nói những lời khó nghe hơn, rằng chính mạ chứ không ai khác đẩy ba tôi tới cái chết tức tưởi đó. Nếu thực oan ức thì mạ phải nói chứ, bao nhiêu lời có thể buông xối xả, sao phân bua cho mình, mạ không nói lấy một câu? Nhiều khi mình không tin nhưng một lời nói cứ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần từ miệng người này sang người khác, ta sẽ đinh ninh đó là sự thật.

Năm ấy tôi còn quá nhỏ, chẳng biết chi nhiều. Người làng đã tập trung ở cây bông gòn bên mé sông khi nghe tin có người treo cổ. Cây bông gòn nằm đó đã lâu. Chừ hỏi ông mệ già nhất trong làng cũng không ai nhớ cây có chính xác từ năm mô. Qua bom đạn và mấy mùa bão lũ, cây có lúc nghiêng ngả, cành lá gãy gọn. Tưởng đã chết đi thế mà vẫn sống, gốc rễ bám vào đất chắc chắn không dễ chi tách rời. Cành lá chắc chắn, vòng cây to hai người ôm không xuể.

Mạ bồng tôi chạy ra, thả tôi xuống đất rồi chen vô đám đông lộn xộn. Người ta dạt ra hai bên, nhường lối cho mạ, họ ngó hai mạ con tôi bằng ánh mắt thương xót. Cậu bịt mắt tôi lại rồi bồng ra khỏi nơi đó để con bé năm tuổi chưa kịp nhớ hơi cha tránh chứng kiến cái chết đau lòng của ông. O và mệ nhảy vào túm tóc mạ, la hét, chửi rủa. Người làng hiếu kỳ, vừa muốn nghe người ta trách móc nhau, vừa thấy thương xót nên đâm ra chần chừ để can ngăn. Mạ ngồi chết lặng, không khóc kể lể như những người mất chồng chưng hửng khác. Cậu nói cũng may tôi là con gái, chứ nếu là con trai chắc nhà nội đã giành tôi khỏi tay mạ.

Hồi nhỏ đi học, mỗi lần đi bộ qua cổng làng, đám con nít lại tụm năm tụm ba, chúng chỉ trỏ về phía cây bông gòn rồi nói với tôi, ê, ba mi treo cổ chết ở đây nì. Tôi chạy thật nhanh về nhà, chui ra sau giếng ngồi khóc tức tưởi. Những lúc ấy, tôi giận cha mạ ghê gớm và tự nhủ mai này lớn phải tìm ra nguyên cớ tại sao họ hành động như vậy, rốt cuộc là vì đâu?

Mạ đi buôn từ sớm đến chiều. Mùa nào buôn thức ấy. Trên chiếc xe đạp cũ mòn, mạ rong ruổi từ làng này qua làng khác buôn hàng xáo, buôn heo, buôn rau màu…Cứ đầu tháng, mạ lại gửi gạo rồi tiền ăn cho mợ. Trưa đi học về, tôi qua nhà cậu ăn rồi ở chơi đến chiều. Cả tuổi thơ, tôi luẩn quẩn bên cậu nhiều hơn với mạ.

Nhờ siêng năng và lanh lợi, mạ buôn bán ki cóp nuôi tôi ăn học và xây nhà đàng hoàng. Người làng cũng dần quên, thấy một mạ một con mà giỏi giang vậy, ai cũng khen. Cậu kể, chừ ngó thong dong vậy chớ hồi ba tôi mới mất, mấy bận mạ định bỏ xứ đi. Ở đây chỉ thêm nhức đầu, con cái cũng khổ bởi dèm pha của người đời. Nhưng rồi mạ không đành bởi ý nghĩ tôi đã không có nội, nếu bơ vơ nơi đất khách rồi không có ngoại nữa thì tội lắm. Hơn nữa, mạ tin dù chi cũng là ruột rà máu mủ, khi nỗi đau dịu lại, nhà nội sẽ hồ hởi đón nhận chúng tôi.

Chỉ tới khi mệ hấp hối, mấy o chú mới gọi mạ con tôi qua. Mệ nắm tay tôi, nước mắt chảy dài rồi mất mà không thèm ngoái ra ngó mạ. Nỗi uất hận có lẽ vẫn còn trong mệ. Mệ đi gặp ba có thể hỏi mắc mớ chi ba tôi làm vậy không? Ba chết rồi còn mạ con tôi cứ sống dật dờ chịu đựng. Nỗi chịu đựng so bề ra cũng khác nhau, mạ ồn ã thì tôi nín lặng.

Ba đẹp trai lại hiền, hiền như cục đất. Nên chi mệ tiếc thằng con ngoan hiền của mình cũng phải. Cậu thở dài, cũng bởi thời cuộc nên mới nảy sinh nhiều cơ sự. Chiến tranh, nhà ai chẳng có bi kịch. Nhưng nhà mình, bi kịch lại đến khi đã hòa bình yên ả.

Bặt tin trong mấy năm đi lính, ba trở về rồi thú nhận với mạ đã phải lòng một người đàn bà nào khác ở trong kia. Mạ tức giận, năm tháng chờ đợi nuôi con lại bị phản bội cay đắng thế này. Trong lúc giận dỗi, mạ buông lời cạn tình cạn nghĩa. Đi thì đi luôn đi, đừng bao giờ xuất hiện trước mặt tui nữa. Mạ nói lạnh tanh rồi quay lưng vô buồng, chốt cửa nhốt ba ở ngoài.

Đêm đó, nghĩ quẩn thế nào mà ba ra trước cổng làng rồi làm điều dại dột. Sáng sớm ra, người làng dắt trâu ra đồng đã thấy ba lạnh ngắt. Vậy là ông đi thiệt. Đi để mạ tôi chưng hửng, sống nửa đời còn lại bằng hoang mang và hối hận, nhưng nỗi hoang mang và hối hận đó không bình thường. Người ta ăn năn và hối lỗi trong lặng im, trong cái cúi đầu gầm mặt. Mạ ngược lại, lúc nào cũng náo động, nói cười luôn miệng. Cứ như nếu môi tắt lời, mạ sẽ bị chết chìm trong những âm thanh nguyền rủa, trong những giấc mơ lơ lửng có ba về.

Xóm khóc ròng vì ba đứa học sinh chết đuối. Thằng cu đi ngang qua đó kể lại đã trông thấy ba đứa hì hụi thả trái gòn xuống sông mần thuyền chơi. Cậu nói chắc chắn tụi nó lội ra rồi sẩy chân, níu nhau theo chơ không chi hết. Lúc vớt lên, miệng đứa mô cũng ngậm đầy cát. Cha mạ ba đứa ngất lên ngất xuống, đứa thì còn trai một, đứa thì đích tôn, đứa thì học giỏi, ngoan hiền. Vài người bắt đầu lấm lét nhìn tên tán bông gòn, có khi ma cây dìm mấy đứa con nít.

Nhiều thanh niên trong làng đi chơi đêm, tới buổi về dù trời sáng trăng mà chẳng hiểu sao lại đâm sầm vô gốc cây, ngã gãy tay gãy chân. Vài người hốt hoảng kể nhau nghe đã trông thấy rõ ràng bóng người đung đưa trên nhánh bông gòn. Năm nào quanh đó cũng có vài mạng người ra đi vì những lý do trời ơi, chẳng ai rõ. Một o hàng xáo đi buôn về, nắng nóng quá nên giữa trưa lội xuống sông rửa chân sau lui vô gốc cây ngồi nghỉ. Tới hồi đám con nít đi học, đã thấy o tắt thở từ hồi mô rồi. Một chú đi làm đồng, ngang qua thấy tổ ong nên trèo lên lấy. Không ai thấy chú trèo lên hay rớt xuống, khi đem tới bệnh viện thì họ báo chú chết vì gãy cổ. Chiếc xe chở cát sạn lộn nhào ngay đoạn đó. Anh lái xe hốt hoảng bảo có người đứng thình lình chặn xe. Hỏi nam hay nữ, già hay trẻ anh tái mặt không rõ. Người lớn bắt đầu dặn con nít không được luẩn quẩn chơi ở đó. Các bà mẹ dặn con gái cấm thả tóc, mặc áo trắng khi ngang cây. Nếu có nghe tiếng ai gọi cũng đừng ngoái đầu lại. Họ đinh ninh không phải ma xa lạ mô, là người làng xưa nay cả.

Hồi đó, cậu là người đứng ra lo liệu khâm liệm ba tôi. Nhưng để biết rõ nguồn cơn thì phải đến mấy năm trước, khi có người ở xa về tìm ba. Câu chuyện được kể lại qua lời của chú, rằng chú là bộ đội được ba cứu sống trong một trận càn. Chú bị thương nên không theo kịp đồng đội, ngồi nấp trong bụi, máu chảy lênh láng ướt cả vạt cỏ. Chú bảo lúc đó chỉ nằm thoi thóp chờ chết. Ba phát hiện ra nhưng không hô hoán lên. Đánh lạc hướng mọi người xong, chút chi ba quay lại băng bó cứu thương cho chú, dìu chú ra khỏi vòng vây. Hai người bị phát hiện, ba hứng giùm chú trái lựu đạn khi cả hai vừa ra khỏi khu vực nguy hiểm.

Ba sống nhưng chân trái bị giập, giập thêm mẩu thịt nằm lủng lẳng giữa hai chân. Chú bộ đội thắp hương cho ba rồi khóc nức nở. Mạng này được anh cứu nhưng cuối cùng cũng không giữ được. Chú mang bệnh trong người, chẳng còn sống được bao lâu. Về thăm ba tôi là ước nguyện cuối cùng của chú. Vậy mà lại không thể gặp, thôi thì mai mốt gặp nhau dưới đó. Tôi lại muốn nhắn nhủ chú hệt như đã muốn dặn dò mệ, nếu gặp ba tôi, chú có thể hỏi tại sao ông lại làm vậy không. Là thắc mắc hồi đó thôi, chứ càng lớn tôi càng hiểu mọi nguồn cơn bi kịch.

Cậu thở dài, đàn bà ai chẳng ghen. O mô đó ở bên xóm Triếu còn ghen kinh điển hơn mạ bây. Tới nỗi bồ của ông chồng chết mười năm rồi mà vẫn còn ghen khi ai đó vô tình nhắc đến tên người ấy. Ba bây chắc vì tủi nhục và thương vợ nên viện lý do có người khác cho dễ nghe, cuối cùng lại thành ra dại dột.

Mạ nghe chuyện, ngồi chết lặng chẳng nói gì. Hồi đó, làng xóm không cho mang ba vô khâm liệm trong nhà vì kiêng cữ. Mạ không tắm rửa, không nhìn ba lần cuối, vợ chồng mới gặp nhau đôi ba ngày, nên mạ thiệt tình đã không biết ngoài cái chân cụt ba còn khiếm khuyết cả phần quan trọng để làm chồng.

Nếu cậu không đốt sợi dây đó đi, có khi người tiếp theo treo lửng lơ trên cây bông gòn là tôi hoặc mạ. Cậu bảo phong tục, nhà có người treo cổ mà không đốt áo quần, không đốt sợi dây thì sau này sẽ có người trong nhà hành động y hệt, cũng ngay gốc cây đó. Nên nhiều đêm, tôi mơ màng thấy mình lửng lơ chới với dưới gốc bông gòn. Thức giấc vì hụt chân, mồ hôi vã ra như tắm. Hễ nhắm mắt, lại mường tượng ra cảnh người ta bu tới gốc bông gòn để chỉ trỏ, dòm ngó cả gia đình mình.

Mùa này, bông gòn bắt đầu nở bung, bay tứ tung trong gió. Mấy năm trước, nhiều người tìm tới hái trái về dùng, bây chừ hình như gối hơi đủ đầy nên không còn ai đoái hoài đến cây. Chỉ có mạ vẫn cần mẫn đi nhặt những trái gòn còn sót lại. Tối về, mạ chắp những miếng vải rẻo để may thành bọc gối nhiều màu sắc rồi nhét bông gòn vô đó.

Bông gòn nở lách tách rồi bay khắp trời, rớt lả tả xuống ruộng, lấp lửng trên mặt sông và trắng cả đường đi. Cậu nói giống cây này nhiều loại, mấy vùng trồng tiêu như ngoài Gio Linh, họ nhân giống để làm trụ tiêu. Cây bông gòn ngó vậy chứ nhiều công dụng lắm, mủ gòn uống mát người, lá gòn se nhang, hỏi mạ bây thì biết. Dạo này, cậu hay xúi để mạ mở miệng chuyện trò như trước bởi hai năm nay mạ thôi vẻ náo động, ít nói hơn cả một người bình thường. Gỡ bông gòn ra khỏi trái rồi cười bâng quơ, mạ bảo người ta về già nên im lặng nhiều hơn.

Có lần, khi nhặt bông gòn bên mé sông, mạ ngó lên chạc cây rồi thở dài. Tôi buột miệng, có một chân mà loay hoay để treo mình lên đó chắc khổ sở lắm, đâu đơn giản gì. Lời của đứa con gái ít nói như tôi nếu so ra đâu sắc lẻm bằng lời của cậu nhưng hình như cũng đủ đau lòng. Nhặt một nhúm gòn rồi mân mê trên tay, tôi cảm giác lòng mình rồi sẽ nhẹ hều như bông vậy…

Tranh của Phương Nguyên

Cơn giông bên sông

 

Mạ tặc lưỡi khi nghe Miên kể o Thơ đã xây xong lăng mộ của mình. Coi như o đã chuẩn bị xong rồi đó mạ, hồi nào o nhắm mắt, Miên nói với mấy thằng cháu của o để tụi nó lo liệu đám tang, không cần làm to chỉ cần cúng cơm chay cho o là được, cũng đừng nhận tiền phúng điếu của người ta mất công mắc nợ chẳng ai trả.

Tiền lo đám ma nghe đâu o đã chỉ Miên chỗ cất. Mạ tần ngần, tính hỏi mắc mớ chi mấy vụ này Miên rành hơn đám cháu o, coi chừng điều tiếng không hay. Miên xua tay phân trần “ tại cháu o có đứa mô ra hồn”.

Đứa không ra hồn nhất là thằng Mía. Độ trước nó lăm le kể trong thành phố có vụ thằng cháu sát hại bà dì sống một mình để cướp mấy chỉ vàng. Mỗi lần Mía xin tiền thì y như sau vài câu chửi rủa cho có, o Thơ lại dấm dúi đưa cho nó, bảo thà cho đàng hoàng còn hơn để nó đi ăn trộm mang tội chết.

Có hồi Miên nghĩ trong thằng Mía ắt có hai thằng khác nhau. Một thằng hiền khô ngày xưa vẫn chạy nhảy cùng Miên mỗi khi hè về, nó từng cặm cụi xé vở dán diều cho Miên. Cũng thằng Mía đó cùng Miên chạy rầm rầm trên ruộng bắp ven sông, đạp cho đám đậu của o Thơ nát nhừ, rồi đứng ra chịu đòn khi o cầm roi đe nạt hai đứa. Và một thằng Mía khác dữ dằn lắm, năm mười lăm tuổi nó chỉ vào o rồi nói “o máu mủ với cha tui mà như người dưng nước lã”. Là thằng Mía nói thương Miên mà Miên xua tay chửi khùng thì đá bàn đá ghế bỏ đi hằm hằm đến sợ. Thằng Mía đó “thua trận” đâu trên mạng nên mắt vằn đỏ, hục hặc đến xin tiền vì “o có tiền nhà nước cho”. Dù vậy, thi thoảng o Thơ vẫn nói với Miên tại giận nên nó đâm ra vậy chứ bản chất Mía là đứa ngoan hiền.

***

Độ này, bắp sắp vào mùa. Ruộng bắp bên sông trổ cờ phấp phới. Miên thích uống nước râu bắp hơn ăn trái. Cái thứ nước ngọt dịu hơi lờ lợ đó o hay nấu rồi kêu Miên uống cho mát người, hai o cháu uống nhiều đâm nghiện. Thằng Mía lại thích chè bắp nếp nấu từ trái non thơm như sữa. Nó là thằng hảo ngọt, ăn bốn, năm chén chè cứ như trừ cơm.

Chỗ ruộng bắp bây chừ vốn là vạt đất mà ngày xưa bộ đội tập trung để bơi qua bờ Nam Thạch Hãn vào Thành Cổ. Hồi nhỏ, hình ảnh ruộng bắp với Miên ngút dài vô tận, mênh mông xanh rì. Đến nỗi, mỗi lần theo chân thằng Mía trốn vào đây Miên tưởng như bị chìm lút, ngập ngụa không thấy lối ra. Hình như, mỗi lần ra đây, o Thơ cũng bị chìm lút và loay hoay như vậy.

Bữa đó, Miên phụ o bẻ bắp thì trời làm giông. Hình dung ông trời ở trên cầm hai cái nắp xoong gõ vào nhau inh ỏi, sấm chớp đánh đùng đoàng. Miên sợ quá, vứt cả thúng bắp co giò chạy, thế mà ngó lui thấy o Thơ vẫn đứng yên ngước mắt nhìn trời. Phải Miên không nhanh tay kéo o theo chắc o cháy khét rồi, năm trước ở làng đã có vụ người đi làm đồng bị sét đánh đen thui. Nắm cánh tay còn lại của o kéo đi, Miên la làng:

– O làm chi mà đứng ngó sét rứa? Chậm tí nữa thì xong rồi.

O cười hổn hển, “tại tao ngờ ngợ tưởng mô pháo sáng”. Đôi lần như lúc đó, Miên nhớ lời mạ “lâu lâu o Thơ có vẻ không ổn bởi những ám ảnh của ngày xưa.”

Thế nhưng dù lẩn tới đâu, o không quên đến rằm hàng tháng lại đạp xe lên thị xã cùng người ta thả đèn hoa đăng bên bến thả hoa. Và hai tư tháng bảy nào, o cũng làm mâm cúng giữa trời, chỗ hướng ra sông rồi lầm rầm khấn nguyện. Thằng Mía hỏi Miên o cúng ai và cười khẩy khi nghe câu trả lời “o cúng đồng đội và cũng có thể là người thương.”

Miên không bà con họ hàng chi với o Thơ, chỉ là hàng xóm lâu năm, nhà o sát vách nhà Miên. Từ hồi mụ mất, Miên hay qua ngủ cho o đỡ buồn mà kỳ thực là Miên nghĩ vậy chứ o chẳng đời nào thể hiện rằng mình đang buồn hay vui. Hồi mụ còn, mụ hay bảo o sống bình thường đi.  Mụ hục hặc than ước chi có đứa cháu kêu bằng ngoại mà o thì cứ giả lơ cho đến khi tóc bạc cả đầu. Nhiều dịp bên truyền hình mời o lên ti vi kể chuyện xưa nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờ o đi. “Ngồi kể rồi mất công nhớ lại thêm buồn.”

Mạ nói o càng buồn và ít nói hơn từ hồi mạ ở bên nhà nghe tiếng mụ la sang sảng ở bên:

– Em út đi cải tạo cực khổ mà mi cười hả dạ lắm hả con? Răng mi không xin họ tha cho thằng em mi với?

Sau này, o nói với Miên o hối hận vì nụ cười đó, chắc o sẽ bị trời phạt vì dù không cùng cha nhưng dẫu gì cũng cùng mẹ, cũng là máu mủ. Còn người ta đâu máu mủ ruột rà chi, tự nhiên vì người dưng mà chẳng thèm đau khi thằng em mình chịu cực. Chỉ đôi khi o mơ hồ nghĩ nếu không có những thằng trai từng cầm súng chĩa vào bên mình như ba thằng Mía thì người ta đâu đến nỗi biệt tăm nhiều vậy.

O giam hãm mình trong sự dằn vặt hệt như người yêu của người o thương đã từ ngoài kia lặn lội vào thị xã. Người phụ nữ này rớt nước mắt bảo trót hứa chờ chú ấy, dù chú không về cũng nên đợi chứ tự nhiên lấy chồng, lại lấy đồng đội của người ta. “Bởi vậy, tôi đẻ hai đứa con mà không đứa nào có hình hài trọn vẹn.” Năm nào, hai vợ chồng cũng lặn lội vào đây để tìm mộ của chú. Thông tin và tấm hình lưu lại trùng khớp với người o đã gặp.

– Tui lạ chi, lúc đó đứng ở đây nè, cười đẹp lắm!

Mắt o Thơ sáng rực, tưởng như trông thấy lần nữa nụ cười tươi tắn kia. O đinh ninh người đó chưa được về nhà và đúng là vậy. Phải vợ chờ chồng, người thương chờ nhau nghe qua đã ngút ngàn cảm phục, đây o với người ta có là gì đâu mà o thương nhớ chi lạ. Chỉ mỗi cái tên, một nụ cười, một câu hát mà o để chết cả thời con gái.

Những ngày còn lại, o ít khi lên thị xã bởi cảm giác sẽ giẫm lên một ai đó dưới chân mình (biết đâu giẫm lên người ta không chừng). Ví như mỗi lần qua bờ bên kia trên chiếc đò của chú Bình, o cứ ngờ ngợ như vừa lướt qua ai đó bởi nghe tiếng gọi tên mình từ dưới sông.

Lâu lâu o kể bâng quơ vài ba chuyện kiểu vậy khiến Miên nổi da gà. Chuyện hồi o đi thăm Đầu Mầu, lúc về tới cầu thì bác lái xe phanh gấp. Anh em trên xe hỏi chuyện chi, bác run lẩy bẩy bảo có những ba cây cầu, tôi không biết nên cho xe qua đâu. Mọi người nhìn nhau ớn lạnh, rõ ràng chỉ một cây cầu nằm ngay trước mắt mà mặt bác tài hoang mang tái nhợt. O đi xuống, lặng lẽ lấy bó nhang trong giỏ ra thắp, vài chị em cũng xuống xe theo sau o. Họ lặng lẽ thắp hương khấn vái rồi lên xe, bác tài cho xe qua cầu vẫn liếc kính chiếu hậu nhìn lui mà run lẩy bẩy. O nói không can chi, lâu lâu lên nên anh em hỏi thăm vậy mà. Chú Bình cũng đồng tình với o, chú bảo họ hiền khô mà con, hiền như o Thơ vậy đó. Lúc chú nói câu này, chú quên rằng mình đã vợ con đề huề mà o thì còn con gái. Phải chi hồi đó chú cố gắng thêm tí nữa, kiên trì thêm xíu nữa để làm o lay động. Bây chừ, mỗi lần nhìn o lủi thủi trong căn nhà nhỏ, chú lấn bấn thương đứt ruột.

Không phải tại một cánh tay đã cụt tới bả vai nên o không thể ôm một người đàn ông nào đó, không phải tại o linh tính trong người chẳng còn mầm sống cho một sinh linh nào lớn lên khi tóc thi nhau rớt từng cụm, người khô khan cằn cỗi. Có lẽ tại một nụ cười trong veo của chàng trai nói giọng Bắc còn theo o vào giấc ngủ hàng đêm hay có thể là tất thảy lý do trên nên o đã chần chừ trước bao dịp để làm đàn bà cho đúng bổn phận.

Lần đầu tiên nghe tiếng chuông ngân giữa lòng thị xã, Miên biết o Thơ xúc động lắm. O hay buồn ngơ ngẩn mỗi khi đi đám giỗ người này người nọ, có khi là bạn o, người con gái tóc dài da trắng hát hay mới năm phút trước còn cầm tay o so đo tay đứa nào trắng hơn, mềm hơn mà chốc sau đã rơi vãi, lẫn lộn cùng đất đai và cây cỏ. Hay chú nào đó cũng đồng đội o bị kéo lê giữa cồn cát rồi buộc nằm phơi nắng đến khô rang. O chứng kiến họ ngã xuống ngay trước mắt mình nên mơ hồ nhớ như một buổi tỉnh lại thấy mình nhẹ bẫng, nhìn xuống thấy thiếu một cánh tay. Chỉ duy người đó là o không tận mắt thấy nhưng lại buộc mình ám ảnh bởi những mường tượng và hình dung cảnh người ta nằm xuống ắt đớn đau nhiều. Thị xã lúc o kể nát nhàu, ngổn ngang và toàn lửa khói. Hẳn vậy nên bây chừ chẳng khi nào sôi động như nơi khác, chốn này luôn lặng lẽ u hoài đến thương.

***

Sau đợt ba thằng Mía đột quỵ trong phòng tắm, nó đã trở về giống với thằng Mía của ngày xưa. Nhận ra trách nhiệm của thằng con trai trong gia đình khi mạ đã quá vất vả để kiếm tiền thuốc thang cho người cha giờ nằm bất động, Mía đi học nghề, đi làm thuê chỗ này chỗ khác. O Thơ lo phần chăm sóc, lau dọn vệ sinh tại chỗ cho đứa em trai nay chỉ còn ú ớ. Ba thằng Mía run rẩy cầm bàn tay còn lại của o mà chảy nước mắt.

Miên lấy chồng thị xã, cách nhà một cây cầu và đoạn đường ngắn ngủi nhưng ít khi về bởi bận bịu. Thi thoảng ghé thăm, o kể ba thằng Mía đã ngồi dậy được và bập bẹ nói tròn câu. Mía giờ ra dáng đàn ông đàn ang lắm, chú tâm làm ăn chứ chẳng chơi bời như xưa nữa. Vòng vo, o nhắc vợ chồng dì nọ, năm này chưa thấy vào thăm.

Bắp lại tới mùa. Một sớm đi chợ, Miên thấy những người đàn bà chở sau lưng thúng bắp còn nóng hổi, rao lao xao trên phố. Năm nay, Miên hết lẽo đẽo ra đồng phụ o bẻ bắp như ngày trước. Mạ nói ấp úng trong điện thoại, hôm qua o Thơ vừa đưa cả thúng râu bắp, kêu gửi Miên nấu nước uống tốt cho cả mạ và con.

Vừa nhắc đã thấy nhớ vị nước râu bắp lờ lợ, nhớ lan ra những buổi chạy nhảy trên bãi bắp ngày xưa. Cuộc sống vẫn tiếp diễn với cơm áo gạo tiền và cơ man thứ phải lo. Lớn lên đâu thể vô tư ngồi gặm bắp cười vui hể hả hay hồn nhiên nghịch nước mưa trước thềm nhà như thuở nhỏ.

Cuộc điện thoại ngắt quãng của thằng Mía càng làm Miên xáo trộn trong ký ức đẹp đẽ. Lần này Miên không rõ đang nói chuyện với thằng Mía nào, dù giọng điệu nhẹ nhàng của nó hệt với thằng nhỏ đầu trần chân đất đội mưa cùng Miên nhưng từng lời nói ra thì như lưỡi dao nhọn xoáy từ từ tận tim người ta cho đau nhói.

– Cha con Mía tính đem o vô vườn, nằm trong nhà ít ra có người trông ngó cũng đỡ. Nhưng Miên biết đó, o đã soạn sẵn chỗ mình nằm nên tui tính hỏi ý Miên giờ phải đem o đi đâu cho bền. Cái bọn mất nết đó, nghe người chết vì sấm sét thể nào cũng lục tìm lấy tay cho bằng được, mà tay o thì chỉ còn một cái…

Trời mùa này chiều nào cũng giông sét ầm ầm, chỗ bãi bắp bên sông lại quá trống trải. Và hôm trước chẳng ai kéo o chạy thật nhanh khi trời ùm oàng nổi sấm. Chỉ là giông gió của trời mà o cứ bận lòng chi không biết nữa…

DIỆU ÁI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *