Truyện ngắn tác giả trẻ Đào Thu Hà ở Đắk Nông

Vanvn- Đào Thu Hà sinh ngày 20.9.1988, tốt nghiệp Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP.HCM, hiện là chuyên viên của Ban Dân vận Tỉnh ủy Đắk Nông, Hội viên Hội VHNT tỉnh Đắk Nông. Từ năm 2010 đến nay Đào Thu Hà đã xuất bản 5 đầu sách (tập truyện thiếu nhi, tiểu thuyết, tập truyện ngắn) và đạt một số giải thưởng: Giải ba Cuộc thi Thơ Bút Mới – Báo Tuổi Trẻ năm 2010, Giải nhất Tạp chí Nâm Nung 2017, Giải C – Giải thưởng Văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Nông lần II năm 2020.

Đào Thu Hà quan niệm văn chương thử thách sự kiên nhẫn và lòng trung thực của bạn với chính bản thân mình và cuộc đời. Được viết, được phản ánh đời sống xã hội hội nay, thân phận con người hiện đại hôm nay trong dòng chảy cuồng nhiệt của nhịp sống hiện đại vừa là vinh hạnh vừa là trách nhiệm của những người viết trẻ.

NHÀ VĂN HOÀNG THANH HƯƠNG giới thiệu

Tác giả trẻ Đào Thu Hà

Mưa phủ lều tranh

 

Cơn mưa trái mùa đến không một dấu hiệu báo trước. Mới chiều qua trời còn hanh hao nắng; chỉ qua một đêm, chẳng biết mây từ đâu ùn ùn kéo về giăng đen phủ kín bầu trời; rồi mưa ào xuống dai dẳng cả ngày chưa dứt. Mái tranh đơn sơ nằm sau chùa, quay mặt về phía cánh đồng trơ trọi, run rẩy từng chặp trong mưa. Trong căn lều rách nát ấy, tiếng mưa không cách nào át đi được những tiếng ho dai dẳng, khan đặc như muốn xé toang lồng ngực bung ra. Người con gái trẻ, khuôn mặt phảng phất nỗi buồn sâu kín chất chứa những tâm sự không thể nói thành lời, không thể giãi bày cùng ai bưng bát thuốc đặc sánh tỏa hương ngai ngái đắng, nhẹ nhàng:

– Ngài cố ngồi dậy uống thuốc. Sư trụ trì bốc đấy.

Người nằm trên giường tre nghiêng đầu nhìn lại. Thân hình gầy gò như dán chặt xuống chiếu, nặng nhọc buông từng từ đứt quãng:

– Thanh… Nga… sao nàng… còn chưa đi? Đi… đi… đi… Nàng… về tâu với… chủ nhân… của …nàng… rằng… ta… đã…

Những tiếng thở dốc nặng nhọc hòa với tiểng mưa rả rích. Mưa đã ngớt nhưng gió vẫn lùa qua liếp cửa lạnh buốt.

– Hay… nàng phải tận mắt… nhìn thấy… ta… mới…yên tâm…bẩm… báo…

Thanh Nga lắc đầu:

– Không! Em không đi đâu cả. Em ở đây, bên cạnh ngài. Quốc vương, em đỡ ngài dậy uống thuốc. Uống hết mấy thang thuốc này ngài sẽ khỏe lại ngay thôi.

Quốc vương ư? Cái danh xưng sao nghe xa lạ thế. Để kẻ nào nghe được sẽ dẫn tới họa sát thân. Nhưng Tư Tề chẳng còn sức để phản bác nữa. Chàng cũng chỉ còn chút hơi tàn này… Thuốc đắng trôi qua cổ họng, sền sệt. Hơi đã tàn, tâm đã dứt, liệu có thuốc thang nào níu giữ nổi mệnh mỏng nữa hay không. May lắm cũng chỉ níu kéo được chút thời gian ngắn ngủi nữa thôi.

Bất chợt gió xô cửa liếp thốc vào trong lều lạnh buốt. Thanh Nga vội vàng đứng dậy tìm que chống. Tư Tề cố đưa mắt nhìn ra, chỉ thấy đêm đen thẫm kéo dài vô tận. Chàng khép mắt, hồi tưởng lại những ấm áp khi còn mẹ, thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ…

***

Tư Tề phi ngựa vào hậu cứ thăm mẹ. Mấy hôm trước chàng cùng nghĩa quân vừa trải qua một trận ác chiến với kẻ thù, chắc hẳn mẹ lo lắng và ngóng tin chiến trận lắm. Con ngựa phi nhanh thốc bụi vương đầy chiến bào. Đến khu lều trại rào lũy của gia quyến nghĩa quân nằm nép mình dưới các tán cây cổ thụ, chàng xuống ngựa, giũ bụi trên áo, lau hết những vết nhem nhuốc trên mặt. Tư Tề muốn xuất hiện trước mặt mẹ thật mạnh mẽ, oai hùng, để cho mẹ thấy tự hào về chàng.

Nghĩ là vậy, nhưng đến khi gặp mẹ chàng lại ước mình bé lại, sà vào lòng mẹ, cảm nhận hơi ấm của mẹ. Mẹ chàng – người đàn bà tần tảo, chăm chồng nuôi con, tích lũy lương thảo khi chuẩn vị khởi nghĩa, lo liệu hậu cần cho nghĩa quân để cha con chàng yên tâm chống giặc. Người đàn bà gánh vác trên vai những công việc trọng đại chẳng kém gì đàn ông nhưng lúc nào cũng đối xử phải chàng đầy dịu dàng, ấm áp. Chàng hồ hởi:

“Khi nào giành chiến thắng, con sẽ xin cha phong mẹ là người khai quốc triều Lê.”

Mẹ chàng cốc nhẹ vào đầu chàng, âu yếm:

“Mẹ nghe cha kể khi ra trận con thường dẫn đầu tướng sĩ, đã ra dáng một tướng quân gan dạ, mưu trí, anh dũng. Thế mà hôm nay sao mẹ thấy con vẫn như một đứa trẻ vậy, không khiêm tốn chút nào hết. Đấy là bổn phận, trách nhiệm của mẹ. Mẹ muốn được kề vai sát cánh bên cha con, bên con, gánh vác những gian khổ cùng cha con.”

Khuya ấy, khơi ngọn đèn sáng thêm để khâu lại áo bào cho Tư Tề bà còn thủ thỉ nghe cha bảo chàng đã học binh pháp của quân sư Nguyễn Trãi, kiếm pháp của tướng Trần Nguyên Hãn, quyền pháp của tướng Lưu Nhân Trú. Mẹ mừng nhưng cũng dặn chàng làm người phải khiêm tốn, chớ ganh đua mà làm người ghen. Chàng đáp lời thuận theo ý mẹ rồi thiếp vào giấc ngủ lúc nào chẳng biết. Bên tai còn nghe tiếng mẹ ru, điệu ru xứ Thanh mẹ thường hát ngày Tư Tề còn thơ bé. Trong vòng tay mẹ, chiến tranh, binh đao, gươm giáo như lùi dần về phía nào đó rất xa xôi…

Người mẹ dịu dàng và nhân từ của chàng. Người mẹ chẳng quản ngại vất vả, hi sinh cho chồng con, người mà chàng từng nói sẽ xin cha phong cho là người khai quốc triều Lê đã không còn nữa. Cũng chẳng có ai nhắc về người. Vì chàng không phải là người được vua chọn kế thừa ngôi báu, vì chàng bị phán tội nên chẳng ai nhắc đến mẹ chàng hay vì điều gì khác. Giá như có thể hỏi được, chàng sẽ hỏi cha lúc phế bỏ chàng, lúc ban lệnh cấm mọi người lui tới cùng chàng, có lúc nào ngài nhớ tới người vợ thuở gian khổ, khi mỗi một thất bại hay chiến công của ngài đều có đôi vai san sẻ gánh vác tảo tần của người phụ nữ ấy. Những lời âu yếm chồng vợ, lời khen ngợi đứa con trai trưởng trước mặt mẹ của nó phải chăng chỉ là gian dối. Hay ngài đã quên mình từng nói những lời ấy từ lâu rồi.

Giờ thoi thóp nằm đây chàng vẫn nhớ như in tháng Tư năm Mậu Tuất 1418, tên Việt gian bán nước giữ chức phụ đạo tại Nguyệt Ấn dẫn đường quân Minh đến chỗ mẹ để bắt cha khi biết đêm ấy cha đến thăm mẹ. Mẹ đã cùng một người đóng giả cha chạy theo hướng khác dẫn dụ kẻ địch. Người đóng giả bị giặc giết ngay tại chỗ còn mẹ chúng bắt về doanh trại làm con tin. Lũ giặc tàn ác còn cho quân lính đào mộ ông nội chàng là Lê Khoáng cướp đi hài cốt.

Những ngày sau đó chúng xiềng tay chân, nhốt mẹ trên một chiếc thuyền neo trên sông Lương vùng Ái Châu. Còn hài cốt đem giấu trên chiếc thuyền khác, xung quanh âm thầm cho các thuyền lớn bao vây. Dò la, thám thính mãi mới biết nơi giam giữ, nhân một đêm không trăng, Trịnh Khả, Bùi Bị, hai tướng được lệnh cứu giá đã ngụy trang thành đám bèo trôi vượt qua mấy hàng thuyền lớn bao bên ngoài, hạ hết lính gác trên thuyền. Nhưng mẹ chàng sau bao ngày bị giặc đánh đập, tra tấn đã mang trên mình nhiều vết thương chí mạng. Khi được tháo gông xiềng, người khảng khái:

“Đa tạ hai tướng quân không ngại nguy hiểm mà đến cứu ta. Nhưng ta bị thương, nếu đi theo sẽ gây thêm khó khó khăn, cản trở, khiến cả ba người đều gặp nguy hiểm. Ta nghe quân lính kháo nhau chiếc thuyền màu đen nằm gần doanh trại nhất chính là chiếc thuyền chúng giấu hài cốt. Còn ta nhờ hai tướng quân nhắn lại với Bình Định Vương rằng đã trọn nghĩa quân thần, trọn tình chồng vợ. Nhắn với Tư Tề phải sống đúng như bốn chữ trung thần tử quốc ta đã khắc ở tay nó.”

Nhiều lúc, chàng nghĩ mẹ thiệt thòi vì không một ngày được hưởng trọn vẹn niềm vui chiến thắng. Thấy được cảnh huy hoàng, khi chàng được phong là Hữu Tưởng quốc, tước Quận vương. Nhưng lúc khác, chàng nghĩ, lựa chọn ở lại tuẫn tiết của mẹ là sáng suốt. Để không phải chứng kiến những cảnh như vào năm Thuận Thiên thứ hai, tướng quân Trần Nguyên Hãn cáo quan xin về ở ẩn để tránh cho vua khó xử trước áp lực của nhà Minh yêu cầu phải tìm con cháu nhà Trần lên thay Trần Cảo, rồi sau uất ức trầm mình dưới đáy sông Lô vì những lời cáo buộc mưu phản. Dòng nước sông Lô có rửa sạch được nỗi oan khuất của ông không mà vẫn lững lờ trôi về phía Bạch Hạc. Từ ngày tướng Trần Nguyên Hãn trầm mình, đêm nào Tư Tề cũng thức trắng trong thư phòng. Chàng đau đớn vì chẳng thể mở lời biện giải giúp vị tướng quân đồng thời là thầy của chàng. Trơ mắt nhìn các bè phái dâng mật thư lên nhà vua để trừ khử những kẻ ở phe đối nghịch với họ. Rồi sẽ đến ai đây, chàng không dám nghĩ và cũng chẳng muốn nghĩ…

***

Tư tề trở mình. Mưa đã tạnh. Chỉ có tiếng ếch nhái râm ran vọng về từ phía cánh đồng. Chàng nghe thấy vọng đến cả tiếng mõ tụng kinh của các nhà sư trong chùa. Tiếng mõ đều đều, trầm trầm vang lên giữa đêm khuya thanh vắng như gõ vào lòng chàng những hồi ức xưa cũ. Tiếng mõ giúp lòng chàng bình tĩnh đối diện với những hồi ức đầy xót xa, tủi nhục và đau đớn ấy. Tư Tề thiếp đi trong vùng hồi ức mông lung. Lồng ngực gầy nhấp nhô theo từng nhịp thở khó nhọc…

Cũng trong tháng giêng, Thuận Thiện năm thứ hai, chàng được phong làm Quốc vương, giúp coi việc nước. Lương quận công Lê Nguyên Long – em chàng, con thứ của nhà vua chưa đầy mười tuổi đầu được phong làm Hoàng thái tử. Tiếng người thái giám truyền tin nện vào tai chàng từng chữ lệnh của vua cha:

Như Tư Tề hiện đã lớn tuổi vào hàng thành nhân. Tuy liệu việc chưa được kín đáo tinh vi cho lắm, nhưng mắt thấy tai nghe cũng đã từng trải qua nhiều việc. Hãy cho tạm coi việc nước để giúp đỡ trẫm. Nguyên Long tính tuy minh mẫn, nhưng tuổi còn non, hãy nuôi dưỡng dự trữ nơi chốn thanh cung chờ ngày đức tính đầy đủ. Khi nào Tư Tề lên ngôi chấp chánh, thì lúc ấy Nguyên Long lại coi việc nước việc quân… Nay ban tờ chiếu này cho quần thần văn võ để được biết ý nghĩa truyền ngôi đã định và giải điểm nghi hoặc và bàn luận bất nhất, các ngươi đều nên hiểu rõ.”

Những lời của vua cha gieo vào lòng chàng nỗi hoang mang, hồ nghi và cả sự chua xót cùng cực. Đêm ấy, chàng ngồi một mình nhớ mẹ, cố ngăn cho nước măt đừng rơi xuống. Thân nam nhi, đầu đội trời, chân đạp đất, vai gánh vác nhật nguyệt làm sao có thể rơi lệ. Nếu mẹ còn sống, liệu cha có làm như thế. Nhưng nếu mẹ còn sống, thấy quyết định của cha, mẹ sẽ đau lòng. Mẹ yêu cha nhường ấy, hi sinh vì cha nhường ấy… Chàng tự tìm lí do để lí giải cho quyết định của nhà vua khi chọn mình là quốc vương, nhưng ngôi thái tử ngàn vàng lại trao cho Nguyên Long. Vậy có nghĩa chàng chỉ là một đoạn đường đi cho em trai đang tuổi lớn mà thôi, cách thức truyền ngôi mới quái đản đã được ban ra, vua chẳng nói chơi. Nói chàng vô tư, không có chút nào chạnh lòng thì không đúng. Nhưng ngoài chạnh lòng thì chàng có thể làm gì ngoài việc dốc sức ra để giúp vua, giúp nước. Những đại thần ủng hộ thì thương cảm cho chàng. Luận công trạng, chàng từng vào sinh ra tử, từng là một dũng tướng trên lưng ngựa. Chiến công của nghĩa quân có công sức, trăn trở, cùng những tháng ngày tủi nhục làm con tin của chàng. Có một vài người ngầm ủng hộ chàng trừ bỏ Nguyên Long. Hoàng thái tử còn nhỏ, trong tay chàng đang có quyền lực, chàng là con trưởng cũng là công thần, mọi lí do đều đứng về phía chàng. Nhưng chàng sao có thể xuống tay với đứa em của mình. Dẫu gì, chàng và nó cũng cùng chung một dòng máu nhà họ Lê. Dẫu nó không phải nếm trải cay đắng của chiến tranh, không phải chứng kiến cảnh đầu rơi, máu chảy nhưng nó cũng là một đứa trẻ đáng thương khi từ nhỏ đã thiếu vắng lời ru của mẹ. Huống chi, bài học nhãn tiền từ thời nhà Đinh cũng còn đó. Chỉ vì ngôi báu, anh giết em mà cha con cùng bị sát hại, vương triều sụp đổ, đất nước rơi vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Tư Tề đi ra từ chiến tranh, máu xương của biết bao tướng sĩ, kinh qua sự tàn khốc của trận mạc, chứng kiến cái chết và đối diện với những phút giây sinh tử khi đối mặt với kẻ thù, chàng hiểu cái giá phải trả để có được cảnh thái bình này đắt thế nào…

Cũng vào tháng 11 năm Thuận Thiên thứ hai, sương mù bao phủ Đông Kinh. Thái phó Phạm Văn Xảo vì quá uất ức trước những lời gièm pha của gian thần vấy đổ cho mình tội mưu phản đã tự sát trong ngục. Lúc nhận tin, Tư Tề ôm đầu chết lặng. Kí ức về vị tướng quân oai phong đánh chặn hơn năm vạn quân của Mộc Thạnh ở Lê Hoa góp phần lớn vào chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đi đến thắng lợi còn đây. Vị tướng tuốt gươm hô quân đánh tan mười vạn quân tham chiến của giặc Minh ở cánh đồng Tốt Đông – Chúc Động. Vị tướng theo vua từ những ngày đầu khởi nghĩa, đã tận sức với vua trong những ngày chật vật khó khăn tại Thanh Hóa, Nghệ An, dẫu chẳng có công lao thì cũng có khổ lao còn đây.

“Vì sao?”

Thánh ý khó dò. Tư Tề chẳng dám nghĩ đến nguyên nhân bởi nguyên nhân nào cũng khiến lòng chàng lạnh giá. Hóa ra cái lí do “yêu” hay “ghét” đôi khi còn có sức mạnh ghê gớm hơn tất cả công và tội, lí và tình. Trần Nguyên Hãn đi rồi. Phạm Văn Xảo cũng đi rồi. Nguyễn Trãi bị nghi kị. Tất cả những người ủng hộ chàng đều chẳng có kết cục tốt đẹp. Đi qua những năm tháng gian khó, coi nhẹ sinh tử, đồng lòng cùng mong chiến thắng giải phóng đất nước khỏi sự xâm lăng tàn bạo của kẻ thù, đến khi thanh bình rồi, nhìn lại hóa ra chỉ còn Tư Tề đơn thương độc mã, ngơ ngác, hoang mang chẳng đoán được lòng người…

Giấc mơ kí ức đứt đoạn. Tư Tề thấy miệng mình đắng ngắt. Chàng khát. Cơn khát như thiêu cháy cổ họng, đốt cháy lục phụ ngũ tạng. Chàng nâng cánh tay lên, thều thào:

– Nước… nước…

Thanh Nga choàng tỉnh. Nàng chạy lại siêu đất rót nước rồi đỡ Tư Tề dậy kề bát vào miệng. Từng giọt nước ngọt ngào thấm mát gan ruột, làm dịu đi cơn đau, dịu đi cả những kí ức cay đắng đang dày vò thể xác lẫn tâm trí chàng. Mà hình như ai đang hát điệu dân ca xứ sở quen thuộc theo chàng từ tấm bé. Từng lời ca khe khẽ như những sợi tơ vương vít, êm ái vỗ về. Nhưng rồi đột ngột lời ca bị chặt đứt, xé rách…

“Làm tôi phải trung, làm con phải hiếu, thế mà con trẫm là Tư Tề không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, khinh nhờn với trời đất, không theo đạo của các đấng tiên vương. Nay giáng Tư Tề xuống chức Quận vương. Vậy bố cáo thiên hạ.”

Làm con đâu thể cãi lời cha.

Làm thần lại càng chẳng thể trái lời vua.

Từ lúc nào tình phụ tử đã nhường chỗ cho lễ quân thần. Mà những lời tấu của chàng từ lâu cũng chẳng có trọng lượng, chẳng được vua cha để ý quan tâm nữa. Từ lúc Tư Tề đi đánh giặc Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ. Tư đồ Lê Sát viện cớ quân lương, địa hình để trì hoãn, tạo thế tiến thoái lưỡng nan, buộc hoàng thượng phải thân chinh đánh giặc. Đâu đó trong triều đã có lời xì xầm về Tư Tề: rằng chàng cấu kết với quân phản loạn, cố tình kéo dài cuộc chiến để nâng cao vị thế, tỏ rõ tầm quan trọng của mình. Tư Tề chẳng thể ngờ, những ý kiến bất đồng của mình với những người thuộc phe Lê Sát, Phạm Vấn ở các buổi thiết triều đã khiến những người thuộc phe của hai viên đại thần này ghi hận trong lòng. Sự kiện Mường Lễ là dịp để họ ra tay hạ uy tín của chàng. Mà xét đến cùng, dù Tư Tề không có bất đồng với họ từ trước đó thì sự tồn tại của chàng cũng là cái gai trong mắt. Nhất là khi sự tồn tại ấy lại được củng cố bằng sự hi sinh, bằng công lao của mẹ chàng, bằng những chiến công chàng lập được từ những ngày đầu tham gia khởi nghĩa.

Ở phía bên kia, thân mẫu của Hoàng Thái tử Nguyên Long là em gái Phạm Vấn. Ý kiến đề xuất hiến một người phụ nữ làm vợ thần Cá Quả để thần phù hộ cho cuộc kháng chiến cuả quân Lam Sơn thời kì nghĩa quân đang chuẩn bị phản công khắp các mặt trận, từ Tân Bình – Thuận Hóa, Diễn Châu, Tây Đô đến tiến ra Bắc bao vây Đông Quan cũng do chính nhóm Lê Sát, Phạm Vấn tâu trình. Tư Tề từng hoài nghi quyết định ấy của vua cha và các tướng sĩ. Rõ ràng lúc ấy nghĩa quân đang ở thế tất thắng, mạnh như chẻ tre, không cần thiết phải làm chuyện tàn ác với một người phụ nữ còn chưa dứt sữa. Nhưng khi nghe lời nhắn nhủ:“Thiếp ra đi không vướng mắc gì. Chỉ mong sau này con thiếp được nối ngôi thiên tử.” Tư Tề buồn bã nhận ra tất cả đã được chuẩn bị sẵn, chỉ vì một ngai vàng…

Rồi những lời đồn đãi chẳng biết ai thả ra nổi lên bốn phía. Rằng chàng mắc chứng điên loạn nên cuồng sát cả nô tì trong phủ. Chàng vào cung thỉnh tội, quỳ trước cửa điện từ mờ sáng cho tới giờ đóng cửa cung nhưng vua cha vẫn coi như không nghe, không thấy, không biết. Mặt trời thiêu đốt, nhưng chẳng thể nóng bằng nỗi lòng oan ức chẳng biết tỏ cùng ai của chàng…

Mưa tạnh hẳn. Tiếng mõ tụng kinh cũng đã ngưng. Chỉ còn đêm tĩnh mịch. Ánh nến leo lét cháy, ánh lửa chập chờn lay qua lay lại hắt bóng lên tường. Tư Tề chống tay ngồi dậy. Kể từ ngày bị giáng làm thường dân, tìm về vùng quê hẻo lánh này nương thân, ngày ngày nghe tiếng chuông chùa để an định tâm hồn rồi đến ngày đổ bệnh, chưa khi nào chàng thấy mình có cảm giác khỏe mạnh lại như lúc này. Chàng chợt nhớ những ngày theo vua cha dự hội thề Đông Quan. Lúc ấy, chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết. Cái Tết chiến thắng đầu tiên sau mười năm gian khổ, cái Tết đất nước sạch bóng quân thù, sự nghiệp Bình Ngô phục quốc của nghĩa quân Lam Sơn đã giành thắng lợi giòn giã. Dưới cái nắng hanh hao của những ngày cuối năm, giữa Đông Quan nhộn nhịp, náo nức đón Tết, Tư Tề thong dong cho ngựa bước về phía cửa thành. Chàng đã hoàn thành trọn vẹn vai trò con tin của mình. Vào giờ phút chiến thắng, chàng nhớ mẹ, nhớ những người lính đã cùng sát cánh bên mình nay không còn nữa. Họ đã ngã xuống cho thắng lợi cuối cùng của nghĩa quân, đã tha thứ hết những âm mưu, tính toán, lợi dụng của người còn đang sống.

Và giờ đây, chàng cũng đang tha thứ…

Khi một vì sao tắt lịm phía cuối trời.

***

Thanh Nga choàng tỉnh. Đâu đó có tiếng gà gáy sáng. Nến đã cháy hết từ lúc nào. Không còn nghe những tiếng ho như xé ruột xé gan nữa. Chắc thang thuốc của nhà sư đã hiệu nghiệm. Nàng rón rén bước lại giường. Quốc vương đang say ngủ. Lâu lắm rồi mới thấy khuôn mặt của chàng thanh thản vậy. Nàng kéo chăn đắp lên ngực quốc vuông. Chăn rơi xuống đất. Lồng ngực Tư Tề vương phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng. Nàng hét lên, gục xuống…

Lần đầu tiên nàng nhìn thấy chàng, chàng hãy còn là một vị tướng quân vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh. Chàng cưỡi ngựa đi giữa thành Đông Quan vừa được giải phóng, đang nhộn nhịp trong những ngày giáp Tết. Chẳng ai để ý đến đôi mẹ con nghèo khổ sắp lả đi bên đường. Đứa bé là nàng chẳng còn đủ sức để cất lời van xin nữa. Những năm tháng đói khát, lê la đầu đường xó chợ khiến nàng hơn mười tuổi đầu mà chỉ như đưa bé sáu, bảy. Mẹ nàng bị giặc bắt, hành hạ, những vết thương trên người sưng tấy, mưng mủ. Người ta hớn hở vì hòa bình, vì sắp được đón cái Tết chiến thắng, còn mẹ con nàng ngồi sợ sệt bơ vơ trong góc chợ chờ chết. Lúc ấy, vị tướng trẻ đã xuống ngựa, hỏi han nàng. Nàng sợ hãi chẳng dám trả lời. May có mấy người biết hoàn cảnh của mẹ con nàng trả lời giúp. Vị tướng quân áo bào còn vướng bụi ấy đã cầm túi tiền của mình đưa hết cho mẹ con nàng, còn sai một người lính đưa mẹ nàng đến y quán vì sợ nàng nhỏ, có kẻ xấu sẽ cướp mất số tiền. Nàng chẳng biết vị tướng ấy là ai cho đến khi vào cung làm cung nữ, nhìn thấy, và được các cung nữ khác cho biết đó là hoàng tử trưởng của đức vua. Sự mến phục, biết ơn chôn kín trong lòng chờ ngày báo đáp.

Rồi chàng bị giáng tội, quỳ trước điện không biết bao nhiêu ngày mà nhà vua chẳng động lòng. Gia đình đế vương, nàng chẳng thể hiểu được. Nàng chỉ thấy xót xa khi thấy khuôn mặt chàng cháy đỏ vì nắng, đôi chân đứng dậy không vững vì quỳ cả ngày trời. Chiếu chỉ ban ra, chàng bị giáng làm Quận vương. Thật lâu không thấy chàng ra vào nơi cung cấm. Nàng chỉ là một cung nữ bé nhỏ, nào biết đâu những mưu toan quyền lực ẩn giấu.

Nàng chỉ biết chờ, đến ngày đức vua băng hà chàng lại được gọi vào cung. Chàng không khóc, không than chỉ đứng lặng lẽ rất lâu. Nhưng nàng tin nỗi buồn của chàng còn thật hơn cả những kẻ đang gào khóc vật vã kia. Nhưng chỉ có nàng tin chàng phỏng có ích gì. Những vết nhơ chàng phải gánh trên lưng chẳng biết liệu có ai thay chàng giãi bày, giải thích.

Liền đó Hoàng Thái tử kế thừa ngôi báu, đại xá thiên hạ nhưng lại chẳng thể đại xá với chính anh trai của mình. Hoàng thượng vin vào lời tâu không căn cứ của các thị nữ rằng chàng không những giết nô tì trong phủ mà còn vô cớ giết cả người đi chợ, nổi giận lôi đình lệnh các quan văn võ đại thần không được vãng lai đến nơi ở của Quận vương, gọi hết thị nữ về cung. Ít lâu sau, hoàng thượng lại ban thị nữ cho chàng để an ủi, tỏ ra cho thiên hạ biết họ vẫn là anh em trong nhà. Lần này Thanh Nga xin đi để tỏ lòng trung thành, để báo cáo tin tức cho hoàng thượng, đổi lấy điều kiện sau khi xong việc ngài ngự yêu cầu sẽ được xuất cung.

Chàng hiểu hết, biết hết. Nhưng Tư Tề cần một người đóng kịch cùng chàng. Một vở kịch chàng mê đắm đến quên cả người vợ kết tóc se tơ, mặc kệ nàng là người được nhà vua phái tới. Chàng đuổi vợ đi, nhận tiếng bạc bẽo về mình. Đêm ấy, chàng uống hết mấy bình rượu nhưng vẫn tỉnh táo. Chàng không cười, không khóc, không lên tiếng mà chỉ im lặng nhìn Thanh Nga. Cái nhìn vừa chán ghét vừa thương hại.

Cho đến tháng năm, năm Thiệu Bình thứ năm, hoàng thượng ban lệnh phế truất chàng làm thường dân. Thanh Nga hiểu, người ở ngôi cửu ngũ chí tôn ấy nhất định sẽ không buông tha cho chàng và gia quyến của chàng. Chàng chỉ có thể giải thoát cho vợ mình để nàng ấy không bị liên lụy.

Thanh Nga theo chàng đến đây, dựng một căn lều nhỏ sau chùa. Nàng cần phải làm nhiệm vụ của mình cho đến khi nhà vua thấy chàng không còn là mối đe dọa ngai vàng nữa. Chàng hiểu nên cũng không xua đuổi Thanh Nga. Hai người lặng lẽ làm công việc của mình, lặng lẽ nương tựa vào nhau mà sống.

Giờ thì Tư Tề đã đi rồi, chàng đã được giải thoát khỏi tất cả những nghi kị, đau khổ, những âm mưu quyền thế. Có lẽ chàng đã tới một nơi giành riêng cho chàng, chỉ thuộc về chàng. Thanh Nga lau khô nước mắt, khẽ nắm lấy bàn tay giá lạnh. Một lần cuối cùng và duy nhất, nàng được cầm bàn tay đã đưa ra giúp đỡ mẹ con nàng vào một chiều cuối năm từ rất lâu về trước. Nàng áp bàn tay ấy lên má mình, chẳng cần nói gì hết. Và kia trời đã sáng rồi, Thanh Nga lách mình qua liếp cửa, nhẹ thôi, đừng để ánh sáng và âm thanh ồn ã đánh thức giấc ngủ của chàng.

Nàng đi về phía chùa, nhờ các nhà sư tiễn chàng một đoạn cuối cùng trên trần thế. Rồi nàng lấy bình thuốc mà hoàng thượng đã đưa với lời căn dặn, nếu Lê Tư Tề có ý định làm phản phải tìm cơ hội… Nàng dốc hết bình thuốc vào cổ họng. Cháy. Cháy. Cháy hết cả tâm can ruột gan nhưng nàng chẳng thấy đau. Nàng đang bước đi trong vùng sáng nhạt nhòa và êm ái. Trong vùng sáng ấy có vị tướng trẻ xuống ngựa, bước lại gần ân cần hỏi han mẹ con nàng…

Lửa tái sinh

 

Mùa đông năm nay thật lạnh.

Những ngón tay Cầm chạm vào tôi buốt giá. Bàn tay Cầm xương gầy với những nốt chai ram ráp. Cầm vấn tóc. Tôi giữ cho tóc Cầm không xõa bung xuống bờ vai. Tóc Cầm đen nhánh, mềm như một loại dã thảo tôi biết từ xa xưa nhưng chẳng rõ tên, thoang thoảng hương hoa chanh dìu dịu. Tôi thích mùi hương trên tóc Cầm. Mùi hương không nồng nã mà bẽn lẽn, e ấp đúng như Cầm của cái ngày mà tôi mới biết. Cầm khoác áo, với cây đàn treo trên vách, khép cửa. Nàng men theo con đường nhỏ băng qua cánh đồng về phía triền sông. Bóng tối đuổi theo bước chân nàng. Vạt áo nàng bay trong gió, cô độc, tịch liêu. Gió luênh loang khắp cánh đồng chỉ còn trơ những gốc rạ.

Rượu. Thịt. Những cười ngả ngớn. Những bàn tay thô kệch, đen đúa và nhơm nhớp dầu mỡ ghé những ly rượu kề sát miệng nàng. Mùi rượu, mùi thịt, mùi mồ hôi quyện lẫn vào nhau như ám lên thân tôi. Tôi muốn rúc sâu vào tóc nàng, hít hà hương hoa chanh thơm dịu. Hình như những sợi tóc nàng run rẩy. Tiếng đàn nỉ non, giọng hát nỉ non xen lẫn những tiếng nói, tiếng cười sằng sặc, xen lẫn những tiếng hú hét phấn khích. Góc nào đó vọng lại tiếng khóc của một tên đã uống say. Những ngón tay Cầm lướt trên dây đàn. Gió thổi trên tóc nàng, lạnh buốt.

Tàn cuộc. Nàng trở về căn nhà nằm ở phía đầu làng, quay lưng lại phía triền sông lúc trời đã mờ mờ sáng. Nàng gỡ tóc. Mái tóc dài tràn xuống tựa dòng thác đổ. Tôi nằm trong tay nàng. Những ngón tay gầy xương lạnh buốt. Nàng nhìn cánh hoa mai trên thân tôi, nước mắt nàng lóng lánh. Ánh mắt hàng ngàn đêm rồi vẫn day dứt thế. Bao đêm tôi nằm trong tay nàng, nghe tiếng nàng nức nở. Nàng gọi tên Côi.

Tôi đã quên khuôn mặt Côi trông như thế nào rồi. Tôi đã quên mất giọng nói của Côi nghe như thế nào rồi. Tôi cũng chẳng thể nhớ nổi giọng cười của Côi ngày Côi tặng tôi cho Cầm. Hình ảnh duy nhất về Côi mà tôi nhớ là cái dáng ngồi cặm cụi, nhẫn nại đưa lưỡi dao từng chút từng chút một vạt lớp vỏ xù xì, mốc meo, mài tôi nhẵn bóng và khắc lên tôi một bông hoa mai năm cánh. Nhưng hình ảnh ấy cũng mờ mờ ảo ảo như ẩn như hiện trong lớp sương mờ ký ức. Lần cuối cùng Côi cài tôi lên tóc Cầm có lẽ cũng đã trôi qua cả ngàn ngày rồi.

Nhưng mà tôi chẳng quên Côi được. Đêm nào tôi cũng nằm trong tay Cầm, nghe Cầm nức nở, nghe Cầm gọi tên Côi, nghe Cầm kể hàng ngàn lần những câu chuyện nho nhỏ của hai người. Đấy là cách để Cầm vơi đi nỗi nhớ và quên đi những tủi hờn, những lời đàm tiếu, những lời sỉ vả cay độc. Tôi thương Cầm. Nhưng tôi chẳng thể nói, chẳng thể an ủi cũng chẳng thể khóc cùng Cầm. Tôi chỉ có thể lặng lẽ nằm trên tay nàng. Năm cánh hoa mai thấm trọn những giọt nước mắt mằn mặn của nàng.

Dạo này, tóc Cầm đã lẫn một vài sợi bạc. Những đêm nhớ thương, những đêm mất ngủ, những đêm gồng mình đàn hát mua vui, những ngày hứng chịu sự khinh khi của người đời đã dần bào mòn Cầm. Mà Cầm thì mảnh mai nhường ấy.

– Trông mặt thì cũng có đến nỗi nào đâu mà lại như thế. Cái ngữ ấy thì đánh chết cái nết cũng không chừa.

– Ôi dào, trông con mắt lúng liếng thế kia. Chắc anh chồng biết chẳng ra gì nên mới bỏ đi biền biệt từng ấy năm không về.

– Bây giờ lại còn bày đặt lấy khăn che mặt. Gớm, báu bở lắm!

Những người đàn bà trong cái làng nhỏ ven sông này mỗi khi nhắc đến Cầm trước tiên sẽ nhổ miếng nước trầu đỏ lòm lòm nghe đánh “bẹt” một cái xuống đất ra chiều khinh bỉ. Họ không còn gọi tên của nàng mà gọi bằng “cái ngữ ấy”. Rồi tiếp sau đó là những điều xấu xa chẳng cần rõ đúng sai, chẳng lấy gì làm thiện cảm. Ngày những người chồng của họ còn ở làng, họ cấm chồng không được “bén mảng” gần nhà của người đàn bà lăng loàn. Mà chẳng riêng gì họ, những người già trong làng tuy không xỉa xói nhưng khi gặp nàng trên đường đều tránh mặt, nghe tiếng nàng chào thì họ vờ như không nghe thấy. Rồi khi những người đàn ông trong làng đi hết, những người đàn bà nhìn Cầm bằng ánh mắt căm thù. Nếu có thể đuổi nàng ra khỏi làng, chắc họ sẽ sẵn sàng. Họ không dám đuổi nàng vì họ sợ “chỗ dựa” của nàng. Chẳng thể ra mặt, họ mắt nhắm mắt mở cho lũ trẻ con bày trò chọc phá. Lũ trẻ con dưới sự làm ngơ của người lớn cũng tỏ thái độ với nàng. Chúng chẳng cần kiêng nể, nay chúng ném đá lên mái lá, mai chúng thả con chuột chết vào vại nước. Có lần, chúng ném đá trúng đầu nàng, tóe máu. Đến giờ, vết sẹo vẫn còn mờ mờ dưới lớp tóc dày. Giá tôi có thể nói được, tôi sẽ hét vào mặt những người đó rằng Cầm của tôi không phải là người như thế. Cầm là cô gái dịu dàng, chẳng hề dám nói nặng ai một lời. Giá tôi có thể nói, tôi sẽ hỏi Cầm tội gì phải như thế, tội gì phải âm thầm chịu đựng một mình.

Mà thật ra chẳng cần hỏi, tôi cũng biết câu trả lời. Tôi chỉ là một cái trâm gỗ được đôi bàn tay vụng về của một người con trai đẽo gọt nên. Bởi vì người con trai ấy nhẫn nại từng chút từng chút một như gửi tất cả tình thương vào từng nhát gọt, từng nhát khắc mà tạo ra tôi nên tôi biết.

Cầm làm tất cả là vì người con trai ấy.

Lần đầu tiên tôi gặp Cầm, tôi đã nhận thấy Cầm thương Côi nhiều thế nào. Đôi mắt long lanh của Cầm, nụ cười trên môi Cầm. Tất cả như bừng sáng khi Cầm nhìn Côi. Tôi thấy Cầm run rẩy trong niềm hạnh phúc khi tay Côi cài tôi vào búi tóc Cầm. Tôi biết, khi một người con trai trao tặng một người con gái một chiếc trâm cài tóc có nghĩa là trao một lời ước hẹn, một lời thề nguyền trọn đời trọn kiếp, trao đi một tình yêu nồng nàn và tha thiết. Huống hồ, tôi lại do chính tay Côi tạo ra. Tôi là lời thề nguyền, là lời hẹn ước Côi dành cho Cầm. Tôi ở đây, thay Côi an ủi Cầm những ngày Côi không có mặt. Mấy nghìn ngày biền biệt, Côi có còn trở về nữa không. Cầm luôn tin rằng Côi sẽ trở về. Cầm bám vào niềm tin ấy để vượt lên những đau khổ, những dị nghị, những mỉa mai. Vượt qua những ánh mắt chém vào Cầm những vết thương sắc lẹm, đớn đau. Dù rằng chiến tranh cứ mãi dài dằng dặc, chẳng biết khi nào mới kết thúc.

Cầm đã ngủ rồi. Giấc ngủ nặng nề quá. Tôi nằm bên gối, nhìn thấy giọt nước mắt vương trên mi Cầm. Bất giác, môi Cầm cong lên một nụ cười rất khẽ. Chắc nàng mơ thấy Côi.

Những ngày tôi cùng Cầm được ở bên Côi ngắn ngủi như một cái chớp mắt. Chắc tại vì những ngày ấy chỉ toàn những niềm vui và hạnh phúc nên thời gian trôi qua vội. Côi múc nước cho Cầm gội đầu, hương chanh vấn vít. Những sợi tóc Cầm óng ánh hong khô dưới làn gió. Côi ủ bàn tay gầy gầy lạnh buốt của Cầm trong bàn tay to lớn ấm áp của mình. Côi ngồi tỉ mẩn khắc cho Cầm những món đồ xinh xinh bằng gỗ. Côi bảo khi nào đủ tiền sẽ mua cho Cầm một chiếc trâm vàng có những sợi tua rủ xuống thật đẹp. Côi chống cằm si mê nhìn Cầm đàn, cầm hát. Chẳng mong gác ngọc lầu vàng. Chỉ mong trọn kiếp bên chàng thế thôi.

Năm tháng êm đềm đã qua rồi. Thân nam nhi chí ở bốn phương. Côi chẳng thể ngồi yên nhìn nước non rên xiết dưới vó ngựa quân xâm lược. Côi xuôi thuyền vượt sông tìm đến nghĩa quân khởi nghĩa. Ngày Côi đi, Cầm nắm chặt tôi trong tay. Nàng chẳng cần trâm vàng trâm bạc. Nàng chỉ Cần côi bình yên trở về. Tóc nàng rối bời trong gió. Nàng chạy dọc triền sông, chạy về phía con thuyền đang đưa Côi rời bến rồi xa mãi, xa mãi cho đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ trên sóng nước mênh mang.

Thế rồi giặc kéo đến làng. Cái ngôi làng nằm bên sông, tựa vào núi tưởng rằng xa xôi giặc sẽ chẳng thể nào kéo tới vậy mà cũng bị cuốn vào cuộc chiến tranh. Trại giặc đóng ở cánh đồng tiếp giáp giữa ba làng. Ngày giặc kéo vào làng cướp bóc, đốt phá. Đêm chúng mở tiệc rượu hò hét suốt đêm. Chúng đốt chùa, đốt đền. Nhà thầy đồ cũng bị đốt cháy. Những cuốn sách quý, những văn thư thầy nâng niu, gìn giữ cả đời bị đốt thành một đống tro tàn. Đàn ông trong làng thưa vắng dần. Người bị ép xuống biển mò ngọc, kẻ bị đưa lên chống rừng thiêng nước độc đãi cát tìm vàng. Đêm cuối cùng trước khi Côi đi, Côi còn kể Cầm cho nghe những điều đau đớn hơn. Côi bảo những người trên thuyền kể cho Côi nghe, đã có hàng nghìn những thanh niên khỏe mạnh nhất, những người thợ giỏi nhất của đất Việt đã bị giặc bắt, bị thiến để tiệt nòi giống Việt. Nước mất nhà tan, Côi phải đi. Cầm hiểu. Đêm ấy, nàng hứng trọn những yêu thương và cũng trao trọn những yêu thương dành cho Côi.

Người ta bảo hồng nhan bạc phận. Đàn bà có nhan sắc trong thời loạn lạc lại càng khổ. Những tên tướng giặc để ý nàng, dụ dỗ nàng. Dụ dỗ không được chúng ép buộc. Tôi vạch lên má Cầm một vết sẹo dài. Vết sẹo cắt ngang bầu má tròn có lúm đồng tiền xinh xinh của Cầm. Đôi má lúm ngày nào Côi thường chọt chọt ngón tay, trêu Cầm kiếp trước chắc lì lợm quá nên bị đánh dấu. Ngày trở về, Côi có trách tôi không.

Không còn nhan sắc, Cầm còn tiếng đàn, tiếng hát. Giặc ép Cầm đánh đàn cho những cuộc tiệc rượu. Làng giờ chỉ còn người già, đàn bà và con nít. Cầm đã từng thề sẽ chỉ đàn cho Côi nghe. Nhưng nếu Cầm không đi thì những người còn lại trong làng sẽ thành nơi trút giận cho lũ giặc. Cầm tháo chiếc đàn trên vách. Những ngón tay Cầm chạm vào dây đàn tứa máu. Tôi thấy những sợi tóc Cầm run rẩy, tê dại.

***

“Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan!

Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”

(Quỷ môn quan, Quỷ Môn Quan!

Mười người đi, một người về”)

Viên tiểu tướng dẫn đầu toán quân nhỏ của mình tìm nơi mai phục. Đội quân của tướng Trần Lựu sẽ giả thua dụ địch chạy từ Ải Nam Quan về Ải Chi Lăng. Đôi mắt sáng của người tiểu tướng nhìn chăm chú xuống phía dưới. Một khoảng thung lũng hẹp nằm ép giữa hai dãy núi dựng đứng tựa như bức tường thành hiểm trở, vững chãi và được bọc xung quanh bởi những dãy núi thấp. Nơi đây sẽ là mồ chôn địch. Chiến tranh sẽ kết thúc. Viên tiểu tướng thấy lòng mình như rộn lên một niềm hạnh phúc khó có thể nói hết thành lời. Từ buổi chia tay bên triền sông xuôi thuyền tìm về với nghĩa quân, chớp mắt đã mười năm trôi qua. Mười năm, người con gái năm nào có còn đợi chàng như lời hẹn ước. Chàng đưa tay lên ngực. Nơi ấy, chiếc khăn tay như ấm lên, hòa cùng những nhịp đập mạnh mẽ của trái tim. Chiếc khăn tay thêu tên một người con gái. Người con gái tên Cầm.

Những năm tháng chinh chiến, gươm đao vô tình, cận kề sinh tử, cái tên của người con gái dịu dàng tựa một tiếng đàn ấy lúc nào cũng như một vầng trăng nhỏ, trong sáng, xoa dịu đi những đau đớn, mất mát, những khốc liệt, chết chóc của những trận đánh một mất một còn với kẻ thù. Giữa những trận chiến, Côi thường nhớ về đôi má tròn bầu bĩnh có lúm đồng tiền xinh xinh mà ngón tay anh thường trêu chọc. Mười năm, chưa từng phút nào nguôi nhớ thương. Chỉ mong chiến tranh đừng lan tới ngôi làng nhỏ ven sông ấy, để Cầm có thể bình yên. Chỉ mong có thể trở về, chải đầu, vấn tóc, cài trâm và trả cho Cầm một đám cưới. Chỉ mong trong suốt quãng đời còn lại, Cầm sẽ không còn phải rơi nước mắt.

Lần đầu tiên gặp Cầm, Côi đã chẳng thể cầm lòng trước khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt của Cầm. Cầm ngồi cạnh xác mẹ bên vệ đường, lặng lẽ khóc. Cầm hoảng loạn mà chẳng dám khóc thành tiếng. Sức vóc của một đứa con gái mười lăm, mười sáu tuổi đầu, không nhà cửa, không tiền bạc biết lo chôn cất mẹ thế nào, biết nương tựa vào đâu. Loạn lạc, người ta lo cho thân mình còn chưa xong, chẳng ai để ý đến Cầm. Lúc ấy, Côi đã bước đến. Côi cũng chỉ là một đứa trẻ mồ côi, không cha, không mẹ. Cha Côi giống cha Cầm, bị giặc sát hại rồi. Mẹ Côi vì đau khổ, vì cực nhọc mà cũng buông tay trần thế, để lại mình Côi côi cút trên cõi đời. Cầm chẳng còn sức để khóc thành tiếng. Những giọt nước nước mắt lặng lẽ, nghẹn ngào của Cầm đã khiến Côi xót xa. Côi giúp Cầm chôn mẹ. Côi đưa Cầm đi theo mình. Một cô gái nhỏ bơ vơ lại có chút nhan sắc giữa thời loạn lạc, giặc giã sẽ chẳng thể nào sống yên ổn một mình.

Dắt díu nhau đi, nương tựa vào nhau, từ sự xót xa, thông cảm, Côi đã thương Cầm từ lúc nào chẳng rõ. Thứ tình cảm tựa như một ngọn lửa nhỏ cứ nhen dần lên, mỗi ngày lại sáng lên một chút, ấm nóng thêm một chút, mang yêu thương lấp đầy trái tim côi cút, bơ vơ của Côi. Côi thương cái cách Cầm nhìn Côi rồi cười bẽn lẽn. Mắt Cầm như có những vì sao lấp lánh. Đôi má lúm xinh xinh tròn xoe trên má. Côi thường đưa tay chọc vào đôi má lúm ấy, trêu Cầm:

– Chắc kiếp trước bướng lắm nên bà mụ phải đánh dấu trên má.

Cầm đấm nhẹ vào lưng Côi, khúc khích. Tiếng cười của Cầm trong vắt trên triền sông ngược gió.

Côi thích vùi mặt vào tóc Cầm, mái tóc đen dài lúc nào cũng thoang thoảng mùi hoa chanh thanh khiết. Chỉ cần luồn tay vào mái tóc ấy, nghe những mềm mại chảy tràn qua đôi bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần sẽ thấy lòng mình dịu lại. Côi cứ nhớ mãi ánh mắt bừng sáng niềm vui của Cầm lúc Côi tặng Cầm chiếc trâm gỗ. Chiếc trâm mộc mạc, giản dị và hơi thô ráp do chính bàn tay vụng về của Côi đẽo gọt nên. Côi đã hứa sẽ mua tặng Cầm một chiếc trâm vàng thật đẹp, thật lộng lẫy để tô điểm cho mái tóc Cầm thêm rực rỡ. Cô gái nhỏ hiền dịu ấy đã ôm Côi, thì thầm những lời thật khẽ rằng chiếc trâm gỗ khắc hình hoa mai năm cánh ấy là thứ quý giá nhất Côi tặng, rằng chỉ cần Côi trở về là đủ đầy, viên mãn.  Chiến tranh sắp kết thúc rồi. Côi sắp được trở về bên mái nhà nhỏ nơi có người con gái Côi thương.

Côi thương cả tiếng đàn, tiếng hát của Cầm. Côi chưa từng nghe một người con gái nào ngoài Cầm hát nhưng Côi tin chắc trên đời này chẳng ai hát hay bằng Cầm. Giọng Cầm nhẹ nhàng như một lời thủ thỉ, như một lời giãi bày, tâm sự. Cầm bảo, hồi còn sống mẹ không dạy Cầm đàn, không dạy Cầm hát. Mẹ bảo đời mẹ may gặp bố mới thoát khỏi chốn nhớp nhơ nên không muốn Cầm bị gọi là kẻ “xướng ca vô loài”. Nhưng bố mất, hai mẹ con côi cút nương tựa vào nhau, mẹ lại phải lấy tiếng đàn, tiếng hát làm kế sinh nhai, mong có thể đắp đổi qua ngày may chăng qua thời loạn lạc. Suốt những ngày tháng dặm trường ấy, Cầm lén mẹ học đàn, nhẩm hát. Cầm chỉ nghĩ, lỡ chẳng may mẹ già yếu thì Cầm thay mẹ. Đôi mắt mẹ Cầm bị lòa vì khóc chồng nhưng linh cảm của một người mẹ giúp bà cảm nhận được những điều Cầm làm. Bà chấp nhận. Bởi vì bà chẳng biết rồi ngày mai hay ngày sau nữa con sóng cuộc đời sẽ đẩy mẹ con bà trôi dạt đến đâu. Trước lúc nhắm mắt, bà đặt tay Cầm vào cây đàn mà ứa nước mắt.

Chắc những ngày vắng Côi, Cầm chỉ biết làm bạn với cây đàn. Đêm trước ngày Côi đi, Cầm gồi đầu lên tay Côi, bờ môi Cầm chạm vào tai Côi, mềm mại, ấm áp. Hơi thở của Cầm như cọng cỏ mềm quét qua tim Côi ngưa ngứa. Cầm bảo những ngày xa Côi sẽ cố nghĩ ra một khúc nhạc thật hay để chờ ngày Côi trở về, Cầm sẽ đàn, sẽ hát cho Côi nghe.

Vậy mà Côi đã xa Cầm cả mấy ngàn ngày đêm rồi. Từ những ngày mùa Thu theo nghĩa quân đánh úp đồn Đa Căng tiến thẳng về Nghệ An đến trận Trà Lân giết hơn hai ngàn tên địch. Trong trận chiến ác liệt ấy, Côi bị một vết đao cắt ngang má. Mà chẳng riêng gì trên khuôn mặt, trên lưng Côi cũng dọc ngang những vết sẹo mà gươm, giáo để lại. Ngày về, chẳng biết Cầm có chê Côi xấu xí hay không. Côi nghĩ, thà là Cầm chê Côi xấu xí cũng còn dễ chịu hơn việc Cầm sờ vào những vết sẹo ấy mà khóc. Nước mắt của Cầm luôn khiến Côi xót xa, đau đớn. Đau đớn hơn cả lúc rút mũi tên của địch xuyên qua bả vai khiến máu thịt lẫn lộn. Thà rằng Côi chịu đau cũng không muốn Cầm phải khóc vì mình.

Chiến dịch vây thành Đông Quan, cứ ngỡ đã cầm chắc chiến thắng, chấm dứt cuộc chiến tranh lầm than. Ai ngờ Vương Thông dối trá để đợi cứu viện. Triều đình phương Bắc phái hai đạo quân tiếp viện do Liễu Thăng và Mộc Thạnh cầm đầu. Nhưng điều đấy cũng chỉ khiến chúng cầm cự được trong thời khắc. Ải Chi Lăng này sẽ là mồ chôn quân cứu viện của giặc.

Tiếng vó ngựa dồn dập. Bụi mù mịt thốc lên bốn phía. Giặc đã lọt vào ổ mai phục. Côi bật dậy. Những toán quân mai phục bật dậy. Tiếng reo hò từ bốn phương tám hướng bật lên, dội vào vách đá âm vang. Tên như mưa bay xuống. Giặc chết như ngả rạ. Những tên giặc thoát khỏi tên dẫm đạp lên nhau chạy trốn. Tướng Lê Sát, Trần Lựu đổ ra rồi. Toán quân của Côi cũng lao xuống. Gươm, đao, binh khí kim loại va vào nhau sắc lạnh. Lưỡi gươm của Côi loang loáng vung lên, máu nhuộm đỏ. Vị tướng chỉ huy của Côi xông vào giữa quân địch, máu nhuộm đỏ khuôn mặt, bắn lên những sợi tóc đã bạc trắng của ông. Nhưng ông hăng hái lắm. Ngoại trừ mái tóc bạc trắng bởi năm tháng trận mạc, gươm đao, ông vẫn sung sức, vẫn tràn đầy khí thế lập công giết địch như những ngày còn trai tráng. Côi ngưỡng mộ và coi ông như cha mình. Ông chẳng còn ai trên cõi đời này. Giặc hèn hạ giết cả cha mẹ, vợ con ông lúc ông theo nghĩa quân khởi nghĩa. Ông nhận Côi làm con nuôi, hứa khi nào chiến thắng sẽ cùng Côi trở về, đứng ra làm đám cưới cho Côi và Cầm. Thanh đao của vị tướng chỉ huy vung lên từng đường chắc chắn và uy lực. Thừa dịp ông đang say chiến thắng, có tên địch đánh lén từ phía sau, định thọc mũi giáo vào lưng ông. Côi lao tới, mũi giáo xuyên qua ngực, xuyên qua chiếc khăn thêu tên Cầm.

Trong tai Côi chỉ còn nghe thấy tiếng reo của quân lính. Lưỡi gươm của tướng Lê Sát đã chém cụt đầu Liễu Thăng. Côi đưa tay móc chiếc khăn đã nhuộm đỏ máu từ ngực mình, nắm chặt trong tay. Côi ngã xuống. Nhưng chẳng thấy đau. Côi thấy mình bồng bềnh trôi như một làn sương buổi sớm. Tiếng gươm đao, hò hét, tiếng rên rỉ, gào thét tắt lịm. Chỉ còn tiếng đàn của Cầm như gần, như xa, chỉ còn nụ cười của Cầm trong veo khi Côi cầm chiếc trâm gỗ cài lên búi tóc Cầm.

***

Dạo này giặc điên cuồng cướp bóc, vơ vét. Chúng vào làng cướp sạch từ con gà, quả trứng đến mớ rau, con cá. Chúng châm lửa đốt cháy những mái rạ xơ xác rồi cười sằng sặc.

Nghe phong thanh rằng quân khởi nghĩa sắp giành chiến thắng. Nhiều nơi tướng giặc xin hàng hoặc bị chém. Doanh trại này của giặc cũng sắp rút chạy. Trước khi tháo chạy, chúng vẫn không quên vơ vét nốt những gì còn sót lại. Dân trong làng căm hận, chẳng lẽ lại để chúng rút lui thuận tiện như vậy!

Tôi thấy Cầm nghe lời đồn thổi về tin thắng trận từ vùng nọ vùng kia mà mỉm cười một mình. Cầm cố kìm nén để không lộ ra trước mặt người khác nhưng khóe miệng Cầm lúc nào cũng khẽ nhếch lên. Cầm ôm tôi, thì thầm quân giặc sắp bị đuổi hết, Côi sắp về rồi. Rồi Cầm đưa tay rờ rẫm vết sẹo trên má. Côi có chê Cầm xấu xí không. Côi có tin những lời xì xầm của người trong làng về Cầm không. Chắc Côi chẳng phải người nông cạn như thế. Côi thương Cầm nhường ấy. Còn những người liên lạc với Cầm nữa, họ sẽ thanh minh cho Cầm.

Đêm nay giặc lại gọi Cầm vào đàn hát mua vui. Khi Cầm nắm chặt tôi trong tay ngắm nghía trước khi cài lên tóc, tôi thấy mắt Cầm đầy kiên định.

Tôi linh cảm một điều gì đó sắp đến. Sau vài lần Cầm vào doanh trại địch để đàn hát, có mấy người lạ mặt gặp Cầm. Họ từ phía rừng đi ra. Có người bán rong mấy thứ đặc sản kêu từ miền biển lên, lại có người đi hỏi mua mấy sản vật của làng để về xuôi bán lại. Tôi nghe lõm bõm câu được câu mất, gì mà “doanh trại”, “tướng”, “số tên”, “bố trí”..

Rượu. Thịt. Khóc. Cười. Đêm nay, Cầm đàn khúc vọng cố hương. Những tên lính bưng mặt khóc. Ai chẳng có một nếp nhà, một xứ sở, một miền quê để mà thương nhớ, để mà trông ngóng, mong mỏi. Ai chẳng nghĩ tới người mẹ già chiều chiều tựa cửa ngóng con mà không cảm thấy the thắt lòng. Tiếng đàn của Cầm day dứt quá. Tự nhiên tôi cũng thấy nhớ mảnh đất nơi thân cây đã từng sinh tôi ra bám rễ. Tôi chỉ là một khúc nhỏ thừa thãi được cắt ra từ thân cây cổ thụ giữa rừng già. Côi đã nằn nì xin tôi từ một người thợ mộc để gọt đẽo thành trâm cài tóc cho Cầm. Tôi nhớ chốn thâm u, nhớ những loài dã thảo nương náu trên thân cây mẹ, nhớ tiếng suối nguồn róc rách và cả không khí ẩm ướt của rừng già. Tiếng đàn của Cầm như đưa tôi quay trở lại với những ngày tắm mình trong mưa rừng gió núi. Chợt tiếng đàn đột ngột bị cắt đứt. Những tên lính ngơ ngác. Rồi như sực tỉnh, chúng bật lên tràng cười hô hố, thô bỉ, nhìn tên tướng giặc kéo tay Cầm về phía lều. Lại rượu. Lại thịt. Lại những tiếng nhồm nhoàm cắn xé, nhai nuốt.

Tên tướng giặc đẩy ngã Cầm. Những sợi tóc Cầm run lên không phải vì sợ hãi mà vì căm giận. Cầm không gào thét. Cầm giành sức lực để vùng vẫy thoát khỏi sự khống chế của tên tướng giặc. Trên đỉnh đầu Cầm, tôi nhìn thấy đôi mắt đục ngầu hung hãn của tên giặc. Thân hình kềnh càng như con gấu của gã đổ lên người Cầm. Cầm cắn vào cổ tên giặc. Bàn tay thô kệch của gã giáng một cú tát vào má Cầm. Vết sẹo trên má Cầm ửng đỏ, tê rát. Cầm ngất lịm. Tôi muốn gọi Cầm dậy. Tôi muốn xuyên thẳng vào cuống họng tướng giặc. Nhưng tôi chẳng thể làm gì. Tôi chỉ có thể bất lực gọi tên Côi trong câm lặng khi tên tướng giặc xé rách chiếc áo của Cầm.

Những tiếng gào thét chợt nổi lên bốn phía doanh trại. Tên tướng giặc đứng phắt dậy. Mắt gã long lên tựa như con thú hoang bị cướp mất miếng mồi vào giờ khắc quyết định. Những tiếng reo hò tràn từ phía núi, phía rừng dội vào doanh trại địch. Đội quân ẩn nấp bấy lâu trong rừng đã trở về giành lại quê hương. Đó là những thanh niên, những người đàn ông trong làng và những ngôi làng lân cận đã trốn thoát khỏi lũ giặc. Họ đã dẫn đường cho quân khởi nghĩa trở về đánh đuổi lũ ngoại bang. Những người đã liên lạc với Cầm bấy lâu nay, nhờ Cầm dò la, thám thính doanh trại trong những lần đàn hát chuốc say địch. Tiếng binh khí va vào nhau sắc lạnh. Những tiếng gào thét hoảng loạn của lính giặc vang vọng. Tên tướng giặc giật thanh gươm trên vách lao ra ngoài. Nhưng Cầm đã tỉnh dậy. Cầm ném ngọn đuốc cắm trên vách vào góc lều. Tên tướng giặc quay ngoắt lại, vung gươm về phía Cầm. Bằng tất cả sức mạnh còn lại của mình, Cầm rút chiếc trâm trên đỉnh đầu, đâm vào họng tên giặc. Thanh gươm xuyên qua người Cầm. Mái tóc Cầm xõa tung, đen thẫm như đêm. Tên tướng giặc gục xuống. Cầm nắm chặt chiếc trâm gỗ đẫm máu trong tay rồi khép mắt. Môi Cầm còn vương một nụ cười.

Lửa bùng lên. Trước khi ngọn lửa bao phủ lấy thân mình, tôi thấy có người gọi tên Cầm. Hình như là người nghĩa binh đã liên hệ với Cầm từ sau cái lần Cầm bị giặc bắt đến đàn hát mua vui cho chúng. Nhưng tôi chẳng thể nghe thêm gì nữa. Tôi thấy mình rực cháy. Tôi biết mình sẽ hóa tàn tro. Nhưng tôi tin lớp tàn tro của mình sẽ neo đậu, tan đi vào mảnh đất thân thuộc này. Để rồi từ lòng đất những hạt mầm sẽ vươn lên mạnh mẽ, biếc xanh…

Phố Hoài

 

Tôi trốn tránh thực tại bằng cách đắm chìm trong những con chữ và những mảng màu tăm tối trên một căn gác cũng mờ tối, u ám, ẩm thấp nằm tít sâu trong con phố nhỏ ngoằn ngoèo, bé tí teo và buồn ảm đạm. Không khí của con phố thực ra lại rất hợp với tâm trạng tôi lúc này.

Một buổi sáng, Phan đứng trước cửa nhà tôi. Anh đứng lặng lẽ bên hàng rào gỗ đã mục, nhìn có vẻ như có thể sụp xuống bất cứ lúc nào nhưng vì chủ nhân là người hoài cổ, ngại thay đổi nên cố tình giữ lại. Anh đến từ sớm. Lúc sương còn chưa tan hẳn. Sương phủ lên vai áo anh tạo thành những vết ẩm mờ mờ, lành lạnh. Cửa nhà chưa mở. Phan kiên nhẫn đứng chờ. Lúc mặt trời le lói làm tan lớp sương, tôi bước ra. Ngạc nhiên khi thấy Phan đứng đó. Lặng lẽ, cam chịu và cô độc. Nhưng ngạc nhiên hơn- phải nói một cách chính xác là bàng hòang hơn- khi Phan chìa ra tấm thiệp cưới đỏ rực, hoan hỉ. Tôi đưa tay đón lấy tấm thiệp. Những dòng chữ ghi tên cô dâu chú rể nhảy múa trước mắt. Nhưng tôi không tỏ thái độ gì. Chỉ mỉm cười nói một câu rất nhẹ:

– Em sẽ đến.

Phan cũng không nói thêm gì. Ánh mắt buồn rầu, u uẩn. Anh bước đi và mất hút ở góc đường, nơi có những con ngõ nhỏ giao nhau, cắt ngang nhau. Chỉ để vọng lại tiếng chân buồn bã trong buổi sáng trong lành mà nỗi buồn nhức nhối.

Tôi ở trọ trên căn gác, tầng dưới là chủ nhà. Đó là một người đàn ông độc thân, ít nói. Anh ta có thể ngồi trầm ngâm hàng giờ liền để nhìn cuộc sống chậm chạp trôi qua trong căn phố nhỏ. Mà cuộc sống trong căn phố nhỏ cũng chẳng có gì đặc biệt. Nó chỉ ồn ào một lúc vào buổi sáng, khi những đứa trẻ ríu rít gọi nhau đi học và cái quán phở nhỏ của người phụ nữ đơn thân đầu xóm dọn hàng. Sau đó, tất cả lại chìm vào trạng thái trầm ngâm, tẻ nhạt, im ắng đến buồn ngủ. Ngày cứ tiếp ngày trôi qua như thế.

Nhưng chẳng hiểu sao tôi lại thích cái không khí tĩnh lặng đến mức tẻ nhạt ấy. Điều này bây giờ quả thật rất khó tìm giữa cuộc sống xô bồ, hối hả, không lúc nào ngơi nghỉ hiện nay. Người ta cứ ồn ào sống, vồn vã sống, hối hả sống mà không tạo cho mình bất cứ một cơ hội nào để lắng lại, nhìn lại. Rồi đến khi căng thẳng, mệt mỏi, tâm lý đứt phựt một cái như dây đàn căng quá cỡ. Vậy là tự tử. Vậy là trầm cảm. Và hàng tỉ những căn bệnh hiện đại khác. Có lẽ là may mắn cho tôi khi tìm được một góc yên tĩnh để mà nương náu chờ cho vết thương tình cảm liền lại chăng?

Đám cưới Phan, tôi chọn bộ đồ rực rỡ nhất, trang điểm thật đẹp, thật ấn tượng và đến dự. Cô dâu biết tôi là người yêu cũ của Phan. Làm sao mà không biết khi cả tôi và Phan từng coi cô bé ấy là một đứa em gái nhỏ vô tư, dễ thương. Cô dâu yêu thầm Phan từ lâu lắm rồi, từ ngày nhận Phan làm anh trai kết nghĩa và gọi tôi là chị dâu. Tôi biết. Nhưng tôi không lo lắng. Vì tôi tin vào tình yêu Phan dành cho tôi. Nhưng tôi lại quên mất một điều quan trọng: Mẹ Phan không thích tôi mà Phan thì lại quá phụ thuộc vào mẹ, nghe lời mẹ đến mức trở thành một người đàn ông bạc nhược.

Hôm đám cưới Phan, tôi nói cười rổn rảng, tôi cụng ly chan chát và còn nâng ly chúc mừng hạnh phúc của anh cùng cô dâu với nụ cười tươi tắn, vô tư nhất có thể tạo ra. Tôi phớt lờ những ánh mắt tò mò, thậm chí là thương hại cũng những lời xì xầm của bạn bè cũ. Khi người ta yêu nhau đến bảy năm thì không thể tránh được việc người ta có chung quá nhiều thứ. Một trong những thứ chung chạ ấy là bạn bè. Hình như thấy tôi như thế, Phan nhìn tôi xót xa. Còn cô dâu nhìn tôi bằng ánh mắt hờn ghen, trách móc và chút khó chịu không thể che giấu đi được. Tôi vẫn phớt lờ. Bình thường tôi chỉ uống vài ly là say đến chân tóc. Vậy mà không hiểu sao trong đám cưới của Phan, tôi càng uống càng tỉnh. Tôi cười nói, chúc tụng. Tôi còn lên hát mừng cô dâu, chú rể trăm năm hạnh phúc nữa. Chỉ đến khi về nhà, chui vào căn phòng của mình, tôi mới say và òa khóc. Khóc một trận đã đời, lảm nhảm những lời vô nghĩa, tôi lăn ra ngủ. Ngủ một ngày một đêm mới tỉnh rượu thì lăn ra ốm. Ốm đúng một tuần không ăn uống gì được. Rồi cũng chẳng cần thuốc thang gì, tự nhiên khỏi. Khỏi ốm, tôi xách va li rời khỏi thành phố quanh năm bảng lảng sương khói, in dấu bao nhiêu kỷ niệm của cuộc tình bảy năm, tìm đến nơi ồn ào, náo nhiệt để học cách quên. Thế rồi tìm được con phố yên tĩnh, buồn bã đến kỳ lạ ở cái thành phố náo nhiệt này.

Thi thoảng, thấy tôi lúi húi vẽ vời, người đàn ông chủ nhà cất tiếng hỏi. Có thể vì anh ta ít nói nên chất giọng của anh ta nghe thật lạ lùng. Như thể không phải lời nói trực tiếp tôi đang nghe mà là tiếng của một người dội về từ ký ức. Hay là anh ta lục lọi mãi mới có thể nhớ ra được những ngôn từ để cất tiếng?

– Sao cô toàn dùng những màu buồn bã, u ám vậy?

Tôi ngoái lại đằng sau, ngạc nhiên khi thấy anh ta đứng nhìn tranh mình vẽ. Người đàn ông này luôn có thái độ thờ ơ, lãnh đạm với mọi thứ xung quanh. Anh ta không thèm hỏi tên tuổi, nghề nghiệp của tôi khi tôi đến thuê căn gác. Chỉ lặng lẽ chìa ra một bản hợp đồng, để tự tôi xem xét, tự tôi điền tên vào phần bỏ trống. Đồng ý thì đưa tiền trước sáu tháng. Không đồng ý thì có thể đi tìm chô khác. Tôi đến ở được hai tháng, anh ta cũng chẳng một lần bước chân lên căn gác để xem liệu tôi có “phá phách” gì căn gác của anh ta như những chủ nhà “có trách nhiệm” với tài sản của mình thường làm. Lúc đầu, tôi thấy dễ chịu về điều đó. Tôi sẽ không bị ai làm phiền, không phải ngồi trả lời những câu hỏi liên tu bất tận, tò mò như khi trọ ở chỗ những bà chủ nhà nhàn rỗi, thích buôn dưa lê. Nhưng dần dần, tôi lại thấy tò mò về tính cách của anh ta.Và có một chút tự ái nữa. Chẳng gì tôi cũng là một phụ nữ. Tuy không có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành nhưng cũn ưa nhìn với nước da trắng và khuôn mặt thanh tú cũng đôi mắt buồn mà có lần Phan bảo “khiến những gã đàn ông chết chìm trong ấy”. Vậy mà anh ta không hề để ý đế tôi, tuyệt nhiên không!

Nhận thấy đôi mắt ngạc nhiên của tôi, người đàn ông chủ nhà lui xuống. Nhìn đằng sau lưng, tim tôi tự nhiên nhói lên một cái. Dáng đi hơi cúi đầu về đằng trước như thể nhẫn nhịn của anh ta sao mà giống Phan thế!

Mẹ Phan không thích tôi. Mẹ anh bảo con gái mà có đôi mắt buồn thì thường đa tình. Bà cũng không thích nghề nghiệp của tôi. Bà bảo con gái mà làm nghệ sĩ thường quá lãng mạn, ít chăm lo đến đời sống gia đình. Phan là con một, lại là trưởng của một dòng họ. Mẹ Phan muốn anh lấy một cô gái nghề nghiệp ổn định, đảm đang.

Những lúc tôi và Phan rong chơi khắp các nẻo đường, khắp các con dốc bảng lảng sương, những con đèo rực rỡ nắng và hoa để tôi lấy cảm hứng sáng tác thì cô em gái kết nghĩa đã thay tôi hoàn thành cái công việc đảm đang mà mẹ Phan mong muốn. Cũng chẳng thể trách mẹ Phan. Bà mong muốn những điều tốt nhất cho con trai mình. Cũng chẳng thể trách cô em kết nghĩa giờ đã danh chính ngôn thuận là vợ Phan. Tình yêu không có lỗi. Làm sao trách cô khi trái tim cô yêu Phan, hướng về Phan dù biết anh đã có tôi.Trái tim nhiều lúc trái khoáy lắm. Biết là đau, biết là dại dột mà vẫn cố lao đầu vào. Phan có yêu cô gái ấy không? Tôi không biết. Chỉ biết anh chia tay tôi trước đám cưới đúng hai tháng. Anh bảo:

– Anh xin lỗi! Nhưng mẹ anh chỉ có một mình anh. Anh không thể…

Sau khi khỏi cơn ốm lúc đi dự đám cưới Phan về, tôi tự trách tôi. Trách tôi không thể thay đổi để chiều lòng mẹ anh. Nhưng thay đổi rồi, tôi có còn là tôi nữa không? Có còn là con người với những tính cách mà Phan đã từng yêu. Chuyện đã qua, tốt nhất là không nên nghĩ ngợi đến nữa. Tôi bỏ dở bức tranh với những mảng màu tối sẫm, u ám, khẽ thở dài đứng dậy bước xuống.

Người đàn ông chủ nhà đã bắc ghế ra ngồi ở cửa. Dáng ngồi trầm mặc. Chẳng biết anh ta thấy gì ở con phố im ắng này mà cứ đăm đăm nhìn. Đến mức tôi bước qua anh ta vẫn không buồn lên tiếng, không buồn hỏi cũng chẳng buồn nhúc nhích. Tôi bước qua anh ta, đi bộ ra đầu phố, ngồi xuống quán vỏn vẹn mấy cái bàn và ghế nhựa của chị bán hàng đơn thân, buổi sáng bán phở, buổi chiều bán nước.

Tôi gọi một ly trà, ngồi lặng lẽ. Chị bán hàng chừng ngoài ba mươi tuổi, tóc dài búi một búi to sau gáy, khuôn mặt lúc nào cũng buồn buồn. Chị thích anh chủ nhà tôi trọ. Cả phố biết điều đó nên nghiễm nhiên tôi cũng biết. Chị khẽ hỏi tôi:

– Em thấy anh ấy dạo này có gì lạ không?

Tôi ngạc nhiên:

– Có gì là sao hả chị?

Bàn tay thoăn thoắt lau những chiếc bàn có vài vệt nước khách đánh đổ, chị chủ quán khẽ thở dài:

– Dạo này chị thấy anh ấy hay cười một mình. Có lẽ nào…

Chị bỏ dở câu nói. Tôi cũng chẳng hỏi thêm. Suốt ngày tôi chúi mũi vào những khung vẽ, những bức tranh chôn giấu tâm sự sâu kín của mình thì làm sao mà để ý được người đàn ông chủ nhà dạo này có thay đổi như lời chị nói không? Chị sợ anh ta đã tìm được một ai khác chăng? Như vậy thì uổng công chị chờ đợi bao nhiêu năm nay.

Chị chủ quán chờ người đàn ông chủ nhà trọ từ thời thiếu nữ. Bao nhiêu đám ngấp nghé chị đều từ chối hết. Đến mức lúc bố mẹ chị sang nước ngoài, chị vẫn quyết định ở lại, bán phở, bán nước để chờ anh. Khi người đàn ông chủ nhà trọ lấy vợ, chị vẫn đợi. Rồi vợ anh ta bỏ đi, chị vẫn tiếp tục đợi. Chị đợi không cần biết đến bao giờ. Không cần biết tuổi đã trôi qua nhanh, tóc chị đã bắt đầu xơ rối và đuôi mắt đã hằn những nếp nhăn. Lúc tôi đến thuê trọ, chị nghi ngại tôi, nhìn tôi bằng ánh mắt lo sợ. Sau biết tôi chỉ ở lại vài tháng, chị lại chuyển sang nhờ tôi “thám thính” tình hình. Nhưng tôi vốn là kẻ thờ ơ nên chẳng giúp chị được bao nhiêu.

Phan nhắn tin cho tôi. Anh hỏi tôi đã đi đâu. Tôi không trả lời, khóa máy. Anh đã có vợ rồi. Quan tâm cũng chẳng để làm gì nữa. Chỉ làm gợi lên những ký ức không muốn nhớ đến nhưng cố tình quên đi cũng không được. Phải khó khăn lắm mới làm nó lắng xuống được. vậy thì khơi lên làm gì cho khó xử. Khó xử cho cả tôi, cả Phan, khó xử cho cả vợ anh.

Lời nói của chị chủ quán làm tôi chú ý đến người đàn ông chủ nhà. Đúng là anh ta đã bớt trầm mặc, hay ngồi cười một mình. Bắt gặp cái nhìn của tôi, anh ta ngượng nghịu, lảng tránh. Anh ta hay lên căn gác tôi ngồi vẽ tranh, nhìn và ra vẻ ngẫm ngợi. Một lần, anh ta nói với tôi:

– Nhìn tranh thấy trái tim cô cũng như đang vỡ ấy. Giống tôi…

Tôi ngạc nhiên. Những mảng màu rối rắm, u ám. Sao anh ta có thể nhìn thấy trái tim tôi đang vỡ. Tôi cũng chưa bao giờ nói chuyện với anh ta. Nếu là đoán mò thì anh ta đoán đúng. Tôi ừ hử:

– Anh thấy thế sao?

Anh ta gật đầu, tự nhiên kéo ghế ngồi xuống. Bằng cái giọng trầm khàn, anh ta bắt đầu kể về chuyện của mình. Chất giọng kỳ lạ của anh ta càng khiến câu chyện như được dội về từ ký ức, chắt lọc ra từ ký ức chứ không đơn thuần là một câu chuyện kể nữa…

Anh ta yêu vợ lắm. Anh ta từng là một họa sĩ. Vợ anh ta cũng là một họa sĩ. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lúc đầu tôi đến, chị chủ quán lại nhìn tôi nghi ngại thế. Tôi cũng là một họa sĩ.

Anh kể, vợ anh lãng mạn, mộng mơ, đáng yêu và có đôi chút trẻ con. Anh yêu tính cách ấy của vợ đến mê muội. Nhưng rồi cũng chính tính cách ấy đã đưa cô rời xa anh. Một buổi sáng, cô đột nhiên nói với anh:

– Em sẽ đi.

Anh sửng sốt, bàng hoàng:

– Tại sao chứ? Mà em đi đâu?

Cô kéo chiếc va li, bình tĩnh và điềm nhiên:

– Em chưa biết. Nhưng cuộc sống gia đình không hợp với em. Cứ nghĩ đến việc có con là em phát ốm. Em sẽ đi và làm những gì em thích.

Anh níu kéo:

– Thế thì chúng ta không cần có con. Anh không cần có con. Anh cần em.

Cô dứt khoát:

– Bây giờ anh nói thế thôi nhưng sau này sẽ khác. Mà lý do chính là… em hết yêu anh rồi.

Anh choáng váng:

– Tại sao?

Cô lắc đầu, bước qua anh:

– Hết yêu là hết yêu. Em không biết. Tự nhiên em thấy thế thôi.

Hôm cô đi là đúng ngày kỷ niệm một năm ngày cưới của họ. Anh đã đi tìm và gặp lại cô. Nhưng cô đang hạnh phúc trong tình yêu với một họa sĩ thành danh- người có thể nâng đỡ cô, giúp cô thành công, nổi tiếng. Từ hôm ấy, anh vứt bút, vứt màu, vứt khung tranh.

Tôi không phải kẻ tò mò nhưng câu hỏi lại bật ra khỏi miệng trước khi kịp ngăn lại:

– Thế sao anh không lấy chị chủ quán. Chị ấy đã chờ đợi anh bao nhiêu năm…

Người đàn ông chủ nhà lắc đầu:

– Tôi không yêu cô ấy. Có cố cũng không yêu được.

Tôi ngồi thừ ra, nhìn vào bức tranh đang vẽ dở trước mắt. Thấy một khoảng trống mênh mông.

Phan đến tìm tôi. Anh lần tìm qua người thân của tôi nên biết tôi ở đây. Người đàn ông chủ nhà nhìn tôi và Phan bằng ánh mắt rất lạ. Nhưng anh ta im lặng đi để chúng tôi nói chuyện. Phan năn nỉ:

– Em về đi.

Tôi thờ ơ:

– Để làm gì? Bây giờ chúng ta đâu là gì của nhau?

Giọng Phan chua xót:

– Nhưng anh cần em.

– Thế còn vợ anh? – Tôi cố để giọng mình không thành mỉa mai.

Đôi mắt Phan cụp xuống:

– Anh không yêu cô ấy.

Tôi lắc đầu:

– Muộn rồi Phan ạ…

Đêm qua tôi mở máy. Vợ Phan nhắn tin cho tôi. Cô ấy nói Phan đang đi tìm tôi. Cô ấy đau khổ. Đau khổ hơn là cô ấy đã có thai. Đọc tin nhắn, tôi thấy thương cho tôi và thương cho vợ Phan. Tôi yêu Phan và được Phan yêu thì không được ở bên anh. Vợ anh yêu anh, biết anh yêu tôi nhưng vẫn cố gắng để được ở bên anh, cuối cùng chỉ nhận lại những nỗi đau. Tôi bảo Phan:

– Vậy con anh thì sao? Anh định sao hả Phan?

Phan im lặng, cúi đầu bất lực. Nhưng rồi, đột ngột anh quả quyết trước khi đi về:

– Anh sẽ đợi em. Đợi cho tới khi đứa trẻ lớn lên.

Phan đi. Tôi định gào lên rằng chẳng nhẽ anh bắt tôi đợi anh đến lúc tôi đã già như thế sao? Tôi cứ đợi để phá hoại gia đình anh, cướp anh khỏi tay vợ con anh sao? Anh ích kỷ đến mức sẵn sàng biến tôi thành kẻ độc ác, tham lam, trơ trẽn. Anh chẳng yêu ai cả. Anh chỉ yêu bản thân anh thôi. Nhưng tôi đã im lặng nhìn anh đi.

Hết sáu tháng, tôi trả căn gác. Người đàn ông chủ nhà nhìn tôi đượm buồn.

– Cô có thể ở lại không? Tôi muốn cưới cô.

Tôi ngạc nhiên. Tôi nhớ đến lời Phan. Chỉ khi nào tôi lấy chồng thì anh mới thôi cái ảo tưởng tôi sẽ chờ đợi anh đến khi con anh lớn. Nhưng tôi tưởng tượng ra trong đám cưới, chị chủ quán cũng như tôi, cười nói rổn rảng, chúc tụng, hát hò mà lòng đau như xát muối. Còn ánh mắt tôi nhìn chị lại giống như vợ Phan từng nhìn tôi.

Tôi quay lưng ra cửa. Con phố buồn hôm nay sao có cảm giác dài vô tận và sâu hun hút…

ĐÀO THU HÀ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *