Truyện ngắn tác giả trẻ An Thư ở Thanh Hóa

Vanvn- An Thư tên thật là Nguyễn Thị Minh Thúy sinh năm 1987, hiện đang làm việc tại Phòng Chuyên đề – Chuyên mục, Đài PT-TH Thanh Hóa. Chị sáng tác cả văn và thơ, đã nhận được giải thưởng: Giải ba Cuộc thi Sáng tác văn học trẻ Tạp chí Xứ Thanh năm 2018 (thơ); Giải bạc Cuộc thi Thơ lục bát Tổ quốc và đạo pháp năm 2017; Giải tư Cuộc thi Sáng tác văn học trẻ Tạp chí Xứ Thanh năm 2011 (thơ).

Đọc văn xuôi của An Thư, có thể thấy bi kịch của các nhân vật đều xuất phát từ tình yêu, hôn nhân, gia đình. Đặc biệt, chị chú ý đến diễn biến tâm lí của người phụ nữ. Những dòng chảy nội tâm đã bật lên tính cách và số phận của họ, vừa khát khao, khổ đau, cam chịu, xót xa, vừa mạnh mẽ, dứt khoát, bản lĩnh, cá tính. Sự dùng dằng, đắn đo trước những biến cố thăng trầm của cuộc đời đã cho họ lòng can đảm, mạnh mẽ để đối diện, kiếm tìm và sống tiếp.

HOÀNG THỤY ANH giới thiệu

Tác giả trẻ An Thư

HOA VƯƠNG CỬA THIỀN

 

Chùa Nam Thiên nằm dưới chân núi Lam, tách biệt hẳn với thôn làng bằng một thung lũng lúa xanh biêng biếc. Trong chùa chỉ có sư Tuệ Mẫn và tiểu Chính. Sư Tuệ Mẫn vốn người vùng khác, tuổi còn trẻ mà đã nổi danh trí huệ mẫn tiệp, về làm trụ trì từ năm năm trước.

Ngày về, sư đã thấy cây đào cổ thụ vươn cành xòa ra một góc sân chùa. Dân trong làng kể lại, cây đào ấy vốn thuộc giống đào đá, mang từ núi cao về. Hơn ba mươi năm trước, có người phụ nữ  lên rừng hái thuốc, đi ngang chùa vào đêm mưa gió lớn. Đường vào thôn lầy lội, sức đã lả đi sau chuyến đi  vất vả, người ấy bèn đập cửa tam quan xin trú nhờ. Sư trụ trì Tuệ Trí đội tơi ra mở cửa, thấy người gõ cửa là nữ, mặc áo lam, vai gùi đủ thứ thuốc lá thì ngần ngại. Nhưng vì khuôn mặt ướt đầm của người phụ nữ trẻ đã dại đi, chân tay lẩy bẩy, tưởng muốn quỵ đến nơi, nhà sư thương tình đành để người ấy vào chùa, sai chú tiểu dọn phòng, rồi đem thuốc cho uống, đem cơm chay cho ăn. Người phụ nữ xúc động, có mấy trái đào núi chín đỏ, bèn đem cúng dường. (Sau này, không hiểu ai ăn trái đào, làm rơi hột xuống vườn chùa, cây đào mọc lên từ ấy).

Vì bị cảm nặng sau đêm mưa, người phụ nữ ở lại chùa dưỡng bệnh, ít lâu sau mới rời đi, không biết phiêu dạt nơi đâu. Sư Tuệ Trí viên tịch năm 70 tuổi, được dân làng yêu kính. Nghe nói, trước khi mất, sư có hỏi tung tích người phụ nữ trẻ hái thuốc năm nào,  mà dân trong làng không ai biết .

Mùa xuân, hoa đào nở hồng một góc sân chùa Nam Thiên. Giống đào núi cánh mỏng, trông mong manh như phiến lụa phấp phới. Mỗi khi có ngọn đông phong thổi ào qua, hoa rơi tan tác, như  trận mưa hồng…

Năm đầu về chùa, sư Tuệ Mẫn nhân ngày xuân tạnh ráo, sai tiểu Chính mang ghế tre ra ngồi uống trà  dưới gốc đào. Nhìn cánh hoa rung rung trong tiết gió xuân, sư hỏi chú tiểu: “Con có biết chuyện thiền sư Linh Vân không?”. Tiểu Chính áo nâu, mắt mở to đen tròn như hạt nhãn, khẽ lắc đầu. Sư mỉm cười: “Ngài Linh Vân ngồi tu thiền trên núi Vi Sơn, giữa cánh rừng hoa đào đang nở rộ. Nhìn cánh đào bay, ngài buông áo đứng dậy, từ đó mà ngộ ra chân đạo”.

Chú tiểu mắt vẫn đen tròn: “Thầy ơi, sao chỉ nhìn cánh hoa mà ngài Linh Vân ngộ ra chân đạo được?”. Sư Tuệ Mẫn khẽ cười không nói. Là vì, đã lâu lắm rồi, chính nhà sư cũng luôn tự vấn mình bằng câu hỏi ấy. Mãi rồi, câu hỏi trở thành chấp niệm ám ảnh lòng Tuệ Mẫn. Trong buổi sáng xuân hôm ấy, Tuệ Mẫn tự đặt mình vào vị trí của ngài Linh Vân, huyễn tưởng mình đang ngồi trước một rừng đào mênh mông, đôi mắt khép hờ, tay lần tràng hạt. Nghe thoảng mùi nhựa đào ngòn ngọt bay trong gió, sư Tuệ Mẫn tự hỏi: “Khi Linh Vân ngộ ra chân đạo, cảm giác của ngài thế nào?”

Sư Tuệ Mẫn vốn là một đứa trẻ bị bỏ lại trong vườn chùa Linh Tự, ở bên kia núi Lam. Một sáng sớm, bà vãi già quét chùa Linh Tự nghe tiếng khóc oe oe của đứa trẻ. Mọi người bảo nhau đi tìm. Tìm mãi mới thấy bọc vải nằm dưới gốc cây bồ đề trong góc Nam vườn chùa. Cái bọc vải màu lam, bên trong quấn đứa trẻ trai trắng trẻo, khôi ngô, tầm hơn tháng tuổi. Chân đứa trẻ có đeo một chiếc lắc bạc to, được làm từ thứ bạc nén sáng xanh, trong veo, bên trong khắc hình bán nguyệt.

Tuệ Mẫn lớn lên trong chùa Linh Tự, thông minh, sáng láng, ngày đi học cùng chúng bạn trong trường làng, tối về tụng kinh, gõ mõ. Năm 18 tuổi, xong cấp III, Tuệ Mẫn muốn hoàn tục đi tìm cha mẹ. Đại Đức Tuệ Nhẫn, trụ trì chùa Linh Tự nhìn đệ tử hồi lâu, rồi hiền từ bảo:  “Ta không cản con hoàn tục. Có điều, trong đời này, ý muốn thoáng qua thì nhiều, còn nhân duyên thực sự đến thì ít. Phật ở trong tâm con, không ở trên màu áo tu hành. Nếu có duyên, con nhất định sẽ gặp lại cha mẹ mình. Con đã lớn, tự ngẫm xem mình nên thế nào thì hãy làm như thế”.

Tuệ Mẫn nghe xong, trở về phòng, nắm chặt chiếc lắc bạc trong tay. Từ đó, không nhắc lại chuyện xuất gia thêm lần nào nữa mà chuyên tâm rèn mình, việc theo học Phật Pháp ngày càng tấn tới. Đến năm 28 tuổi, đã có uy tín trong tăng chúng và Phật tử, được cử về  chùa Nam Thiên làm trụ trì.

Năm thứ hai sư Mẫn về chùa Nam Thiên, lại có người phụ nữ lên chùa xin làm vãi. Bà không phải người trong vùng này. Tuy tuổi đã cao, đôi tay chai sần vất vả, nhưng khuôn mặt có đôi mắt buồn của bà thì vẫn  lưu giữ được chút xuân sắc tuổi trẻ.

“Tôi nhìn bác có nét quen quen, hình như đã gặp ở đầu rồi”.

“Dạ, bạch thầy, con là tín nữ cửa Phật, chùa nào ở vùng này cũng từng đến thắp nhang, cúng dường”.

Tuệ Mẫn khẽ à lên. Người đàn bà kể mình không chồng con, tuổi trẻ vất vả nhiều, nay về già, dù tiền bạc không khó khăn gì, nhưng lại chỉ muốn được ghé mình vào cửa Phật từ bi. Sư Mẫn lúc đầu còn e ngại, nhưng thấy việc chùa bận bịu, lại thương người đàn bà tuổi trọng mà cô quạnh, nên bằng lòng.

Bà vãi Khuê vào chùa từ ấy. Từ ngày có bà, sân chùa lúc nào cũng sạch sẽ, đồ cúng dường sắp xếp gọn gàng, bữa cơm chay của sư Mẫn và tiểu Chính cũng có phần tươm tất hơn.

Cũng từ ngày sư Tuệ  Mẫn về chùa Nam Thiên, vườn thuốc phía Tây chùa ngày một xanh tốt. Sư Tuệ Mẫn không chỉ giỏi Phật pháp mà còn là lương y. Y thuật sư học được từ  đại đức Tuệ Nhẫn bên chùa Linh Tự- vốn cũng là một người bắt mạch bốc thuốc nổi tiếng. Mảnhvườn đủ loại thuốc Nam thuốc Bắc cùng tài bốc thuốc của sư Tuệ Mẫn đã giúp được bao nhiêu người nghèo trong làng. Nhà chùa không bao giờ lấy tiền của bệnh nhân. Ai có lòng, thì trả ơn chùa bằng việc năng lên chùa dọn dẹp, đọc kinh niệm phật, hay cúng dường dăm bảy cành hoa mẫu đơn, hoa vạn thọ,  đĩa trái cây tươi hái  trong vườn nhà để thắp hương ngày tuần.

Năm ấy, trời rét cắt thịt. Mấy cành đào sắt lại vì lạnh giá. Đêm giữa tháng Chạp, có người phụ nữ lớn tuổi từ trong làng hốt hoảng vào chùa. Chị gái của bà, cũng là Phật tử của nhà chùa, lên cơn cảm hàn, đau bụng dữ dội, trước nay vẫn dùng thuốc sắc của chùa, thấy công hiệu. Năm hết Tết đến bệnh lại tái phát, nhà nghèo không biết kêu đâu, dùng thuốc Tây cũng không quen, nên đến chùa xin thuốc. Sư Tuệ Mẫn nghe vậy, bèn kêu bà vãi Khuê trông chùa, mình với tiểu Chính đến nhà con bệnh.

Nhà người bệnh nằm cuối làng, giáp với cánh đồng, vắng người qua lại. Căn nhà ngói đơn sơ, phảng phất mùi hoa thơm nồng ngát trong gió lạnh. Con bệnh nằm trên giường, cơn đau khiến mặt bà tái dại. Ban thờ Phật sáng lấp lánh ánh nến. Bài kinh Pháp Hoa thâu trong chiếc đài radio nhỏ vang lên trầm mặc. Sư Tuệ Mẫn bắt mạch, rồi bảo người em gái đem thuốc sắc.Người bệnh uống thuốc được một lát, tuy điệu bộ vẫn còn mệt mỏi, nhưng sắc diện đã không còn xanh xao nữa. Trước khi về chùa, sư lưu lại uống chèn trà nóng. Nhân hỏi chuyện, mới biết  chồng bệnh nhân mất sớm, cô con gái duy nhất đi học xa, chưa kịp về nghỉ Tết với mẹ.

Mùa xuân năm thứ ba sư Tuệ Mẫn về chùa Nam Thiên, trời ấm lắm. Cuối tháng 11 Âm lịch, hoa đào đã nở rộ, bung hết cánh. Đến sáng 29 Tết, hoa rụng gần hết. “Thầy ơi, năm nay không có đào cắm trên ban thờ Phật rồi”, tiểu Chính thất vọng nhìn những cành đào trơ khấc chỉ còn vài bông hoa lưa thưa. Năm nào, vào đêm ba mươi, chùa Nam Thiên cũng đều cắt một cành đào rất nhỏ, cắm vào chiếc bình sứ cổ màu trắng để trên ban thờ, rồi mới thắp hương giao thừa. Lâu dần, nếp ấy trở thành một nghi lễ. Năm nay, khắp vùng, đào đều tàn sớm, chẳng mua được ở đâu, nên lệ ấy phải bỏ.

Chiều 29, sư Tuệ Mẫn đang ngồi lặng lẽ đọc kinh trong phòng, nghe bên ngoài sân tiếng tiểu Chính reo rối rít: “A, hoa đào. Chị Lê kiếm đâu ra cành hoa còn nguyên nụ hàm tiếu thế này?”. Giọng con gái thanh thanh cất lên: “Nhà tôi có người từ trên miền ngược về mang biếu. Trên đó trời lạnh, đào nở muộn. Mẹ tôi sai tôi mang cành đào này đến cúng dường.” Tiếng guốc của bà vãi Khuê loẹt quẹt trên sân gạch nghe như tiếng phách rộn ràng. “Quý hóa quá! Cô Lê hẵng ngồi uống nước đã”.

Sư Tuệ Mẫn khẽ gấp cuốn sách, đặt mục kính xuống rồi bước ra sân. Thấy cành đào phai nhỏ nhắn, duyên dáng  trên tay bà vãi Khuê, lòng nhà sư cũng rạng rỡ. Nghe tiếng bước chân rất nhẹ của sư trụ trì, cô gái quay đầu lại, theo lẽ thường chắp tay định vái chào. Bất chợt, đôi mắt to tròn của cô khẽ dừng lại vài giây trên khuôn mặt cương nghị và tuấn tú của nhà sư trẻ, rồi cúi xuống rất nhanh. Lúc này, sư Tuệ Mẫn cũng chợt nhận ra cô rất xinh trong chiếc áo len màu nâu và chiếc khăn quàng đỏ thắm. Khuôn mặt thanh thuần, có chiếc mũi nhỏ hơi hếch lên vừa dễ thương, vừa tinh nghịch. Chút xao động trần tục khiến đôi mắt nhà sư thoáng bối rối.

“Bạch thầy. Mẹ con dặn con đem biếu nhà chùa cành đào để cắm bình trưng Tết”.

“Nhà chùa cảm ơn gia đình ta. Chẳng hay cô ở làng nào mà hiện thời tôi chưa nhận ra”

“Thưa thầy”- bà vãi Khuê đỡ lời- “Đây là cô Lê, con bà Thu ở cuối làng, đang học trên thành phố. Cô ấy có đến chùa một vài lần nấu cơm chay, dọn vườn. Chẳng qua thầy chưa gặp nên không nhớ đấy thôi”.

Sư Tuệ Mẫn chợt à lên khe khẽ. Bà Thu chính là Phật tử nghèo mà sư đến bắt mạch trong đêm năm ngoái. Hóa ra, người con gái duy nhất đang đi học của bà ấy là cô gái này. Trời đã sẫm tối, mùi nhang đâu đó vắt vẻo trong không khí. Lê chào sư Tuệ Mẫn và bà vãi Khuê rồi về. Nhà sư trẻ hướng mắt nhìn theo chiếc khăn đỏ ra tới ngoài cổng chùa, rồi mới lặng lẽ trở về phòng. Đêm ấy, tiếng gõ mõ tụng kinh có đôi nhịp lạc. Bà vãi Khuê ngồi vê tràng hạt bên khung cửa sổ, khẽ giật mình.

Năm ấy là năm cuối đại học, Thu về quê thực tập ở trường cấp II trong xã. Vì vậy, cứ thứ 7, chủ nhật, cô lại cùng mẹ và mấy bà phật tử già trong làng lên chăm sóc vườn thuốc nam. Lê có giọng nói đặc biệt, nghe như tiếng kim khánh, nhẹ và trong veo. Mỗi khi nghe giọng nói ấy ríu rít ngoài vườn, hay trong căn bếp nấu đồ chay nghi ngút khói của chùa, sư Tuệ Mẫn đã không còn cảm thấy lòng mình thanh tịnh như trước nữa. Cái cảm giác chộn rộn khi gặp Lê khiến nhà sư vừa hạnh phúc, vừa khổ đau. Ban đầu, sư cố tỏ ra bình thản, xem như không có chuyện gì. Nhưng một ngày, sư sợ hãi nhận ra, mình đang mong nhớ cô gái xinh đẹp có nụ cười rất hiền ấy. Đôi lần, trái tim Tuệ Mẫn như ngừng đập, khi bắt gặp ánh mắt Lê giao nhau với ánh mắt mình…

“Tội lỗi. Mình thật là tội lỗi”. Tuệ Mẫn tự dằn vặt mình mỗi khi ý nghĩ về cô gái trẻ ào về trong buổi đêm, xâm chiếm đầu óc rồi lan ra thân xác. Đêm cuối xuân, trời vẫn còn rất lạnh, vãi Khuê nghe thấy tiếng nước ào ào ngoài khuôn viên chùa. Bà khẽ lần cửa. Trong ánh sáng mờ ảo của mảnh trăng lưỡi liềm, bà nhận ra sư Tuệ Mẫn  đang vục từng gầu nước lạnh dội lên mình. Bộ áo nâu ướt đẫm. Lòng bà nhói đau.

Hôm sau, sư Tuệ Mẫn lên cơn nóng lạnh. Cơn sốt khiến nhà sư nằm ly bì mấy ngày trên giường. Bệnh nhà sư đã bớt, tiểu Chính bê lên tô cháo nấm nấu chay nóng hổi. Khi nhấm nháp thìa chào đầu tiên, nhà sư khẽ hỏi: “Tiểu Chính, ai nấu cháo này cho thầy, có phải vãi Khuê không?”. Tiểu Chính hồn nhiên: “Dạ, thưa thầy không ạ. Chị Lê nghe tin thầy ốm nên nấu cháo rồi bảo con mang lên cho thầy từ sớm”. Sư Tuệ Mẫn để chiếc thìa con xuống, cố ngăn niềm hân hoan chợt đến. Vị cháo chay ngọt ngào nơi đầu lưỡi, xua đi cái vị đắng sít trong cổ họng của người đang ốm nặng.

Cuối tháng tư, Lê lên chùa tìm sư Tuệ Mẫn. Hai người thong dong dạo trong vườn chùa vắng lặng. “Thầy ơi, Lê thực tập xong rồi. Ngày mai Lê quay trở lại trường”. Lê đã không còn xưng “con”. Giọng cô trở nên tha thiết, và ánh mắt cô nhìn Tuệ Mẫn đăm đăm: “Lê sẽ nhớ… nhà chùa lắm”.

Tuệ Mẫn nghe như cơn gió cuối xuân đang ào ào thổi trong lòng mình. Sư hiểu ánh mắt của Lê nói lên điều gì. Nhưng mà… Sư khẽ cúi mặt… Biết phải làm sao đây? Nhìn vào đôi mắt đẹp long lanh đã bắt đầu ngân ngấn nước của Lê, nhà sư muốn thả trôi tất cả thanh quy giới luật vào trong ấy. Ánh mắt Tuệ Mẫn thăm thẳm, khẽ đậu lên đôi má đang ửng dần của Lê.

“ Thầy… có thể vì Lê mà hoàn tục không”? Câu hỏi của Lê thốt ra với biết bao nhiêu chất chứa ẩn ức, mà hẳn người con gái nhỏ bé ấy đã kìm giữ lâu rồi. Có thể vì Lê mà hoàn tục không ư? Sư Tuệ Mẫn thấy lòng mình chới với. Đúng lúc ấy, tiếng chuông buổi sáng ngân lên thánh thót.

“Trong đời này, ý muốn thoáng qua thì nhiều, còn nhân duyên thực sự thì ít. Phật ở trong tâm con, không phải trên màu áo tu hành”.

Lời bổn sư phụ Tuệ Nhẫn vọng lên trong tâm tưởng Tuệ Mẫn. Ánh mắt Tuệ Mẫn nhìn Lê thật trìu mến, đoạn nhà sư quay lưng bước đi, để lại đằng sau câu nói nhẹ nhàng:  “Cô Lê. Nhà chùa cảm ơn tấm lòng của cô. Cô lên thành phố bảo trọng nhé”. Bà vãi Khuê đứng từ xa quan sát hai người, đôi mắt lênh loang nước.

Mấy hôm sau, vãi Khuê rời chùa mà không nói trước một lời. Bà chỉ để lại chiếc bọc nhỏ màu lam. Khi sư Tuệ Mẫn mở ra, trái tim ngài khẽ thắt lại. Bên trong có một chiếc vòng màu bạc và một lá thư tay. Chiếc vòng bạc giống hệt chiếc vòng mà Tuệ Mẫn bao năm vẫn giữ bên mình, mặt bên trong  khắc nửa vầng trăng rất đẹp.

“Sư thầy! Người đàn bà nhỡ độ đường ghé chùa này trong đêm mưa  của hơn 30 năm trước là ta. Ta đã phạm một sai lầm duy nhất trong đời này, khi trót yêu nhà sư ra mở cửa cho ta ngay trong phút giây đầu gặp gỡ. Chúng ta vì yêu mà phạm vào sắc giới. Ta bỏ đi khi cái thai hoài hình trong bụng mình. Đứa trẻ ấy được để lại trong ngôi chùa bên kia núi, rồi, như một nhân duyên, lại trở lại ngôi chùa này làm trụ trì. Ba mươi mấy năm qua, người mẹ tội lỗi vẫn luôn dõi theo nó, lúc ở xa, khi ở gần.  Mong nó hãy tu hành trọn đạo, thay mẹ cha chuộc lại lỗi lầm năm xưa…”

Sư Tuệ Mẫn gấp trang thư lại, nước mắt nhòa đi. Hai chiếc lắc bạc trên tay sáng lấp loáng. Ngoài sân, mùi quả đào non tơ phả vào buổi sớm cửa thiền hương thơm dìu dịu.

Mùa xuân năm nay, đã gần 2 năm kể từ khi bà vãi Khuê ra đi, cây đào  cổ thụ góc sân chùa Nam Thiên lại nở hoa rực rỡ. Tết xong, hoa mãn khai, sắc hồng tươi thắm mà tao nhã. Như lệ thường, sư Tuệ Mẫn sai tiểu Chính mang ghế tre ra sân ngồi thưởng hoa uống trà. Có tiếng  đàn hát rộn ràng cuối làng vọng vào.

“Tiếng hát ở đâu thế nhỉ”, sư Mẫn nâng chén trà, khẽ hỏi. Tiểu Chính mắt đen lay láy tủm tỉm cười: “Hôm nay đám cưới chị Lê thầy ạ. Chị ấy lấy chồng trên phố”.

Lại một ngọn gió thổi ào qua lòng sư Tuệ Mẫn. Hoa đào rơi tan tác. Sư nhìn tiểu Chính, im lặng rất lâu. Mãi sau, sư khẽ hỏi: “Này, con có nhớ mấy năm trước thầy hỏi con về chuyện của thiền sư Linh Vân không?”. “Dạ nhớ”. “Thật ra, ta nghĩ không phải nhờ có hoa đào rơi mà ngài ngộ ra chân đạo. Mà kỳ thực, trong lòng ngài, chân đạo đã đến từ trước đó rồi. Hoa rơi, chỉ là cái cờ mà thôi”. Tiểu Chính vẫn mở đôi mắt to đen láy, chừng như không hiểu, mà cũng chừng như đã hiểu rồi.

Phía trên, những đóa hoa xuân vẫn rung rinh trong gió dịu dàng…

Tranh của họa sĩ Nguyễn Khôi

TRÊN ĐỈNH RỪNG MA HÓN

 

Cơn mưa sập đến vào cuối buổi sáng. Tiếng mưa gõ ràn rạt trên mái lá giữa rừng Ma Hón. Ở trong lán, Nhuệ đang chuẩn bị bữa cơm trưa. Mùi cá khô bốc lên khăn khẳn, hòa với mùi ngòn ngọt của niêu canh rau rừng  vừa hái lúc sáng sớm, làm Nhuệ nhớ bữa cơm đủ đầy với Liên. Một tháng mới được ăn cơm với vợ vài hôm. Phải những hôm ấy, chỉ cần nhìn cái eo thon và mái tóc đen lòa xòa sau chiếc gáy trắng ngần của Liên, Nhuệ  sẽ thấy lòng thổn thức, bất kể  trên mâm là món ăn gì. Chỉ có điều… Nhuệ khều than, nén tiếng thở dài. Liên dạo này đổi nết, dễ cáu bẳn, hay gắt gỏng vô cớ dù Nhuệ không hiểu mình đã làm sai chuyện gì.

– Hết đợt mưa này, mà xuống bản được, tôi sẽ mượn xe máy phóng ra thị trấn, mua ngay cân thịt. Nhai cá khô chán lắm rồi.

Sang từ bên ngoài  nói vọng vào, giọng nửa chán nản, nửa háo hức. Trời mưa suốt nửa tháng nay, lúc nhỏ dầm dề,  lúc lớn ào ạt. Mưa khiến đường rừng trơn trượt khó đi. Nhưng cái chính là bọn lâm tặc thường lợi dụng thời tiết xấu để vào đốn gỗ. Thành ra,  ba  anh kiểm lâm trên đỉnh  rừng Ma Hón  phải ở lại bám chốt, ăn mì tôm, cá khô, măng khô trường kỳ. Từ đỉnh rừng xuống bản mất sáu, bảy cây số dốc đứng, chỉ có thể cuốc bộ; nên dù không mưa, một tháng ba, bốn lần các anh mới thay nhau xuống bản, khi mua cân thịt, lúc mua con cá suối hoặc đôi chục trứng gà, trữ thêm ít đồ khô. Mua xong, đem lên rừng kho mặn ăn dần. Không có tủ lạnh, muốn mua đồ tươi nhiều cũng không thể giữ lâu được mà ăn…

– Giá giờ có đĩa sâu măng thì thú, nhể!

Sang lại uể oải chép miệng. Là anh ta đang nhớ đến mấy hôm trước… Tài vào rừng suốt buổi, mang về được một ống tre dài, đổ ra toàn sâu măng, con nào con nấy béo mây mẩy. Tối ấy, nhờ tài  nấu ăn thần sầu của Nhuệ, ba anh em có món sâu rang lá chanh rừng thơm nhức mũi. Cái vị sâu béo ngậy như trồi lên trong cuống họng, đủ khiến Sang nuốt nước miếng liên hồi khi nhớ lại. Nhuệ ngồi im bên bếp, vun đám than hồng ủ lại nồi cơm.

Mưa tạnh được một lúc, vẫn chưa thấy Tài về. Chợt, có tiếng bước chân người từ xa vọng lại. Nhuệ dỏng tai nghe. Suốt 6 năm sống trong rừng, đôi tai Nhuệ đã luyện được khả  nghe rất nhạy. Anh có thể nghe thấy tiếng bước chân người từ cách xa  hàng vài trăm mét.  Không phải tiếng bước chân của Tài. Ai nhỉ? Chẳng lẽ là Thoái?

Chưa để Nhuệ kịp nghĩ xong, Sang đã reo lên the thé:

– Ồ, cô giáo lên đấy à? Mưa gió thế này cô lên làm gì?

– Em mang ít thức ăn tươi lên cho các anh đây mà. Nửa tháng nay không thấy các anh xuống bản rồi.

Ra là Thoái thật. Thoái cởi đôi ủng dính đầy đất thịt dẻo quẹo rồi bước thoăn thoắt lên thang tre. Gấu váy và hai tay áo ướt sũng nước. Mắt Sang sáng trưng khi thấy tay Thoái lôi từ trong gùi ra dễ đến 2 cân thịt lợn, một miếng sách trâu tươi, hai chục quả trứng gà. Còn có thêm ít gạo nếp nương, vài quả bầu non và ít gừng tỏi khô.

– Cô để đó vào đây ngồi cho ấm đã. Người cô ướt hết rồi kìa.

Nhuệ nhóm to bếp lửa, giục Thoái. Lúc này, Thoái mới ngẩng đầu lên. Lọn tóc đen láy che ngang mặt khiến Nhuệ chợt sững người. Nếu không phải Thoái đang khoác bộ váy Thái, Nhuệ hẳn đã tưởng Liên, vợ anh.

Thoái là cô giáo dạy tại điểm trường lẻ dưới bản. Năm nay đã 29 tuổi, trai bản lấy vợ hết rồi, mà Thoái chưa chịu lấy chồng. Năm năm về trước, Thân, chồng sắp cưới của Thoái, người Kinh, cũng là giáo viên  điểm trường không may gặp nạn.

Hôm đó, trời nắng ráo sau trận mưa lâu ngày, Thân vào rừng kiếm nòng nọc về cải thiện bữa ăn. Khi anh chỉ còn cách trường độ 300m, thì lũ quét ập đến. Cơn lũ như con trăn gió, rú rít cuồn cuộn đổ xuống bất ngờ không báo trước. Đất đá, bùn lầy, cỏ cây đều bị cuốn đi ùng ục. Thân bị kéo vào giữa dòng bùn  đá sủi bọt, cánh tay chấp chới được vài giây thì chìm nghỉm. Lúc ấy, Thoái đang phơi chiếc váy thổ cẩm trên dây, tận mắt thấy người yêu lút thẳm không dấu vết. Tấm đai váy như con bướm sặc sỡ rơi xuống đất, hoen đầy bụi.

Bốn hôm sau người ta mới moi được xác Thân dưới lòng suối bản Poọng. Mềm nhũn, bấy bứa, tròng mắt trái đã văng đi đâu mất.  Thoái quỵ xuống bên xác người yêu, khóc không thành tiếng. Từ đó đến giờ, cô giáo Thoái xinh đẹp nhất vùng Ma Hón không yêu ai, không cưới ai.

– Trên bản Sáng vừa rồi lại có lũ ống đấy, các anh ạ. Lũ quét qua bản vào giữa buổi trưa. Hai đứa trẻ đang chơi gần suối bị cuốn. Bản ấy bao năm nay có bị lũ ống đâu. Dân trên nguồn phá rừng nhiều, giờ đâu đâu cũng lũ.

Giọng Thoái trầm buồn. Từ ngày được Nhuệ cứu giữa con suối chảy siết, sau buổi vào bản Mìn vận động trẻ em ra điểm trường đi học, Thoái trở nên thân thiết với ba anh kiểm lâm trên  đỉnh rừng Ma Hón. Thỉnh thoảng, cô hay ghé lán, mua giúp  các anh chút đồ ăn. Lâu dần, Thoái như cô em gái của cái chốt kiểm lâm cô đơn nhất núi rừng miền Tây này.

Tài về đến nơi cũng là lúc đồ ăn vừa chín. Xong bữa, Tài lúi húi rửa bát bên ống nước. Sang nằm đu đưa trên võng, miệng  nhầy mỡ, mắt lim dim thỏa mãn. Gấu váy Thoái cũng đã khô. Thấy cô sửa soạn gùi, Nhuệ bảo:

– Cô Thoái để chiều hẵng về chứ.

– Thôi, em về sớm, còn đi qua bãi Hổ Vồ. Để chiều thì sợ chết khiếp.

Sang lè lưỡi cười cười:

– Cô giáo mà cũng tin vào chuyện ma mãnh à?

Thoái mủm mỉm không trả lời. Nhuệ vác súng tiễn cô một đoạn. Càng đi xuống, rừng Ma Hón càng dày,  toàn cây lâu năm cao lút mắt, đứng ken nhau xanh sẫm. Trong cái thảm xanh trùng điệp ấy, có một tán lim cổ thụ vươn cao hẳn lên nền trời. Người Ma Hón gọi đó là cây thiêng. Cây lim ngàn năm tuổi, cành lá trùm cả một vùng rộng lớn. Bên dưới tán lim, là nghĩa địa Hổ Vồ. Đến gốc cây thiêng ấy, Nhuệ và Thoái không ai bảo ai, tự nhiên đứng lại. Cơn mưa rừng vừa đi qua, mọi thứ còn đẫm ướt âm u, bãi Hổ Vồ trông càng thê lương. Mấy chục ngôi mộ xếp đá, hình thù kỳ dị, nằm im lìm cạnh con suối rụng đầy lá lim. Bao năm nay, rất ít người trong bản Ma Hón dám bén mảng đến nơi này.

-Anh có nghe thấy không? – Thoái chợt quay lại nhìn Nhuệ bằng đôi mắt sâu thăm thẳm.

– Cô nghe thấy gì? Tôi chỉ nghe tiếng nước chảy.

– Em nghe thấy tiếng của “nó”. Cố em bảo, “nó” vẫn ở đâu đó trong cánh rừng này. Thỉnh thoảng, em vẫn nghe “nó” gầm âm âm trong tiếng suối. Nhất là khi đi qua bãi Hổ Vồ. Hay em tưởng tượng nhỉ?

Nhuệ không trả lời, nhưng bất giác thấy sống lưng gai ướt. Thoái đang nhắc đến con hổ chột một mắt của rừng Ma Hón. Con hổ trong trí tưởng tượng của dân bản, hay con hổ có thật?

Tiễn Thoái nửa đường, Nhuệ quay lại. Ngang qua bãi Hổ Vồ, anh dừng thật lâu. Vẫn chỉ có tiếng suối chảy ào ào. Thỉnh thoảng một vài cơn gió trườn qua, mang theo tiếng lá cây xào xạc. Chuyện về bãi Hổ Vồ và con hổ chột một bên mắt, Nhuệ đã nghe nhiều lần. Người kể lại cho anh chính  là cụ Thàn già nhất bản. Ông cụ có phiến ngực cứng như  tấm phản và mái tóc trắng muốt.

Cụ Thàn là cố nội của Thoái. Ông bà nội rồi cha mẹ của Thoái đều đã qua đời, mà cụ Thàn vẫn như cây lim xanh giữa rừng Ma Hón. Nhà sàn của cụ chon von trên mô đất cao đầu bản. Dân  trong  bản nói cụ đã gần trăm tuổi. Mấy năm ở đây, Nhuệ thấy cụ chẳng già đi. Da mặt hồng nâu,  đôi mắt hấp háy sáng, lấp lánh niềm vui hồn hậu. Lần nào ghé nhà, Nhuệ cũng được cụ mời uống rượu ngô trong bát, ăn thịt chua ủ trong ống tre và kể chuyện về rừng Ma Hón.

-Cán bộ Nhuệ biết đấy, khắp cả vùng này, rừng đã bị chặt phá nhiều, chỉ có rừng Ma Hón là còn giữ được. Vì bản  ta tin vào con Ma Trành. Rừng Ma Hón trước nhiều hổ. Mẹ ta đi lên nương, bị hổ lôi vào rừng. Ta có đứa bạn gần nhà, chỉ vì mon men đến bìa rừng chơi, mà cũng vị hổ vồ. Đến khi tìm được, bộ lòng nó đã bị moi ra hết…

Giọng ông cụ khàn khàn, vang vang. Mỗi lần nghe cụ kể, Nhuệ đều thấy một quá khứ hoang hoải từ đâu đó vọng về.

Ngày ấy, người bản Ma Hón bị hổ vồ nhiều lắm. Những năm động rừng, hươu, nai, lợn lòi, cầy cáo… tràn về bản ăn ngô, ăn sắn, bắt gà. Hãi nhất là bầy hổ đói mồi. Chúng lảng vảng bên nương vắng bắt bò và ngựa. Nhiều con liều lĩnh vào tận bản săn người. Bản Ma Hón nhà ai cũng dựng bằng gỗ lim vững chãi, trang bị cung tên, lao độc… Mặt trời chưa lặn hết, người đã phải đóng cửa cài then. Vậy mà cứ sểnh ra lại có người bị hổ vồ mất xác.

Cái bãi Hổ Vồ giữa rừng chính là nghia địa, nơi bản Ma Hón chôn người chết do bị hổ giết hại. Trong những ngôi mộ ấy, chẳng cái xác nào nguyên vẹn. Người còn lại cánh tay, người còn cái đầu, người còn khúc chân… Có người hổ ăn gần hết, chỉ còn mấy dẻ xương, cũng đành đem về táng.

Người Ma Hón tin những người chết vì hổ vồ sẽ biến thành Ma Trành, suốt đời phải đi theo hầu hạ con hổ ấy. Ma Trành hay hóa thành cô gái đẹp, trù quến, lừa bắt người cho hổ ăn thịt. Có như thế nó mới được đầu thai sang kiếp khác. Bởi vậy, người trong bản ít dám lai vãng vào bãi Hổ Vồ. Rừng Ma Hón trở thành nơi linh thiêng bao đời không ai dám phạm.

Đấy là chuyện của ngày xưa. Sau này, trai bản Ma Hón sắm được súng kíp, săn bằng hết hổ trong rừng. Chỉ duy nhất còn lại một con hổ chúa. Đạn có mắt tránh nó. Tên có chân chạy khỏi người nó. Bẫy biết nói bảo nó đừng giẫm lên… Có người thanh niên 18 tuổi trong bản từng liều chết vào rừng. Người ấy đứng trước mặt nó, giương súng bắn trúng vào  mắt trái của nó. Vậy mà nó không chết. Nó đứng nhìn thật lâu, một con mắt ròng ròng máu.  Rồi nó lừng lững bỏ đi. Đến bây giờ, nghe nói nó vẫn lẩn khuất đâu đó giữa rừng Ma Hón.

Lần nào kể đến đó, trán cụ Thàn cũng đầm đìa mồ hôi. Nhuệ không tin câu chuyện ấy. Bao năm đi tuần giữa rừng Ma Hón, anh nào thấy bóng dáng con hổ ấy đâu. Vả lại, làm gì có con hổ nào sống lâu đến thế?

Khi đợt mưa rừng dầm dề qua đi, Nhuệ xuống núi. Lần này, anh không ghé cụ Thàn mà đi thẳng về nhà. Đã ba tuần rồi anh không gặp vợ. Sóng điện thoại không vươn tới đỉnh rừng, chẳng biết Liên sống thế nào cho qua cữ mưa gió.

Căn nhà tre tạm bợ của Nhuệ nằm ngoài trung tâm xã, cách Ma Hón độ năm cây số đường rừng. Liên bảo, cô không thích vào bản, buồn lắm. Ở trung tâm xã tuy vẫn vắng heo vắng hút, nhưng muốn mua chút bánh trái dưới xuôi còn dễ. Vào bản, điện không, nước sạch không. Cả bản trăm nóc nhà mà  có mỗi cái cửa hàng tạp hóa bé tẹo, trên bày lơ phơ ít gói mì tôm, vài lạng cá khô, ba bốn hộp pin, cùng lắm là thêm vài túi bim bim và bánh gạo.

Liên đẹp, vẻ đẹp phốp pháp, mềm mại. Người con gái đẹp ấy đã bỏ quê hương, theo Nhuệ lên chốn rừng xanh núi đỏ này được bốn năm.  Vợ Tài và Sang đều ở quê, không ai lên trên này cùng chồng cả. Với Liên, ngoài tình yêu, Nhuệ còn có lòng biết ơn là vì thế.

– Anh còn biết đường về cơ đấy- Liên đón Nhuệ bằng khuôn mặt rầu rĩ, lạnh lùng.

– Thôi nào, anh xin lỗi. Mưa rừng, bọn anh phải tăng cường tuần tra, phòng  bọn lâm tặc phá rừng, nên anh không về được.

Nhuệ tiến sát ôm vòng eo thon mềm của vợ. Liên dằn dỗi đẩy chồng ra.

– Trời mưa tầm tã. Cái nhà thì dột. Đến củi trong bếp cũng ướt rỉ ướt rả, nấu bát cơm  không nấu nổi mà ăn. Điện mất. Tối đến có mình tôi. Anh định để tôi sống thế này đến bao giờ?

Liên khóc. Nhuệ ôm đầu ngồi xuống bên chiếc giường tre vẹt mỏng. Ngày mới lên đây, Liên nhìn con đường quanh co dốc lên dốc xuống, gập ghềnh sỏi đá, nén tiếng thở dài. Được hai năm, Liên không nén nữa.

– Anh xem, đầy người có chồng làm kiểm lâm đều ăn sung mặc sướng. Còn tôi, bốn năm rồi ở trong cái căn nhà rách rưới nơi rừng rú này. Cứ tưởng theo anh lên rừng vài năm, rồi vợ chồng có tấm có món, cùng nhau về quê. Anh cứ bám riết lấy cái xó xỉnh này làm gì? Anh còn đi biền biệt, đến mụn con cũng không có.

Bao nhiêu lần Liên dằn dỗi, là bấy nhiêu lần Nhuệ nín nhịn. Nín nhịn vì yêu. Và vì thấy mình có lỗi không lo cho vợ được cuộc sống đủ đầy. Buổi tối, cơn giận dỗi của Liên cuối cùng cũng dịu. Khi đã qua cơn ân ái nồng nhiệt, hai vợ chồng ôm nhau trên chiếc giường tre, da sát da, má kề má. Liên nũng nịu:

– Anh à, em chỉ muốn vợ chồng mình có cuộc sống yên ổn, vài năm nữa tìm đường rời khỏi đây. Chứ sống mãi thế này thì sống sao được?  Anh Phát mấy hôm mưa đều đến. Anh ấy bảo em khuyên anh đừng cứng nhắc quá…

Máu nóng dồn lên trên thái dương Nhuệ. Anh nghiến chặt răng:

– Em đừng nhắc đến tên nó trước mặt anh. Thằng khốn.

– Người ta có ý tốt cả. Anh ấy cũng vì thương vợ chồng mình. Nếu không, anh ấy đã không đưa cả cục tiền cho em bảo cầm lấy mà sửa cái nhà…

Nhuệ ngồi bật dậy:

– Cái gì? Hắn đưa tiền? Em có lấy?

Liên phệu phạo:

– Đấy, chưa gì mà lại thế. Người ta đưa mà em chưa cầm.

– Em nghe đây. Anh cấm! Tuyệt đối không được cầm của hắn, dù chỉ một xu.

Liên nhìn chồng bằng ánh mắt sắt lại, lạnh lùng. Cô cười khẩy, để tấm thân lõa lồ, ôm gối ra chiếc ghế tre bên ngoài. Đến cánh cửa buồng, Liên buông một câu mỏng khoẻn:

– Anh sợ mất rừng, mà không sợ mất vợ à?

Nhuệ nằm xõa xượi trên giường. Câu hỏi của Liên khiến anh đau đớn đến rúm ró khuôn mặt. Cái dáng tay Phát béo tròn mũm mĩm,  mặt nhầy mỡ, đeo kính đen, mặc bộ đồ bóng bẩy hiện về trong tâm trí Nhuệ. Phát tiếng là chủ một xưởng gỗ mỹ nghệ ngoài thị trấn, nhưng Nhuệ biết, thật ra hắn là tay lâm tặc trùm sò. Hắn mua chuộc được quan huyện, mua chuộc mấy tay kiểm lâm biến chất, mua chuộc được cả đám trai bản nghiện ngập của  vùng miền Tây. Chỉ cần có ít tiền, đám trai ấy sẽ liều mạng vào rừng chặt gỗ, ruổi qua mấy con đường mòn bí mật mang về cho Phát. Việc của y  là tìm cách tẩu tán xuống xuôi.  Nguyên một dải rừng nguyên sinh khắp miền Tây, một tay Phát phá giãn. Chỉ còn rừng Ma Hón là hắn chưa chạm tới được.

“Vàng trong nhà nó đã chắc cũng đựng đầy cả cái ếp khẩu đựng xôi của nhà ta”. Có lần, cụ Thàn đã nói với Nhuệ câu ấy. Nhuệ thì biết, điều mà Phát thèm muốn nhất chính là cây lim xanh nghìn tuổi trên bãi Hổ Vồ. Khắp cả núi rừng miền Tây, không có cây lim nào như thế. Có người sẵn sàng trả rất nhiều tiền, chỉ cần y đốn hạ được cái cây ấy mang về dưới xuôi. Người bản Ma Hón tin câu chuyện Ma Trành, tin con hổ một mắt còn sống, tin cả cụ Thàn và mấy anh kiểm lâm trên đỉnh rừng, nên Phát không làm gì được. Đã mấy lần, hắn nhờ người đánh tiếng với chốt kiểm lâm của Nhuệ, nhưng đáp lại là thái độ từ chối kiên quyết, lạnh lùng. Một sáng nắng, Sang đi tuần, phát hiện gần lán có ba chiếc quan tài rỗng xếp gần nhau…

Ý nghĩ về Phát khiến Nhuệ không ngủ suốt một đêm. Khi anh rời nhà vào sáng hôm sau, Liên vẫn nằm ngoài ghế tre, quay lưng vào vách, làn áo mỏng mặc vội, trễ nải. Tia nắng sớm lọt qua liếp tre, soi rõ chiếc eo thon và phần gáy nõn nà.  Sương mai lành lạnh khiến lòng Nhuệ thoáng co rút lại trong niềm âu lo xa xôi ập đến.

Nhuệ ghé nhà cụ Thàn. Bên bếp, Thoái đang dỡ xôi. Mùi nếp nương thơm lừng và ấm rẫy trong sáng mai vùng biên ải. Khi nghe tiếng bước chân, Thoái ngẩng lên, nhìn thấy Nhuệ, mắt cô bừng sáng.

-Cán bộ Nhuệ xuống núi đấy à? Ở đây, ăn bữa xôi với già.

Cụ Thàn đang ngồi giữa nhà, vững chãi như cây Lim xanh giữa rừng Ma Hón. Giọng nói của cụ, lúc nào cũng thế, khàn và vang. Thoái dọn trước mặt Nhuệ và cụ một ếp khẩu xôi đầy vun, thêm 2 quả trứng vịt dầm nát trong bát mắm nhiều mắc khẻn, rồi vội vã mang cặp trở lại trường. Đi đến thang gác, cô quay lại bảo Nhuệ:

– Anh Nhuệ, em thấy mấy hôm nay lão Phát cứ lảng vảng chỗ anh em nhà  Thậm. Anh cẩn thận nhé.

Nhà Thậm sống ở cuối bản, ngay dưới chân khe nước nhỏ chảy ra con suối lớn. Cả hai anh em Thậm đều nghiện thuốc phiện rất nặng. Căn nhà sàn của chúng bạc phếch, toang hoang. Dân bản không thương, bởi chúng lười làm, lại có tật hay trộm vặt. Con gà, con dê non thả rông lỡ đi ngang qua gầm sàn nhà chúng, kiểu gì cũng biến mất không dấu vết.

– Có khi phải họp bản thôi cụ ạ. Con thấy tay Phát đang muốn đốn hạ cho bằng được cây lim xanh ở bãi Hổ Vồ. Cây lim mà ngã xuống, thì rừng Ma Hón cũng tan tác mất.

Cụ Thàn im lặng châm mồi lửa vào nõ thuốc. Khói phả thành từng vòng mờ ảo xung quanh cụ. Khuôn mặt nâu hồng góc cạnh chìm dần trong màn khói trắng. Chỉ cần một lời của cụ Thàn, dân bản sẽ không dám trái. Đã bao lần những kiểm lâm như Nhuệ phải nhờ đến cụ để lấy lòng tin của bản…

– Ừ. Phải họp thôi. Mà, cán bộ chờ ta một chút.

Cụ Thàn trở vào chỗ nằm, lát sau cầm ra một chiếc vỏ đạn súng kíp, đưa cho Nhuệ.

– Ta tặng anh vật này. Đây chính là vỏ của viên đại bắn vào mắt con hổ chúa. Ta biết anh không tin con hổ ấy còn sống. Nhưng mà ta tin. Người trai bản 18 tuổi vào rừng tìm con hổ năm ấy chính là ta…

Nhuệ thảng thốt ngẩng mặt nhìn lên. Đôi mắt cụ Thàn nheo lại, lấp lánh nụ cười quắc thước.

Nhưng cụ Thàn không kịp họp bản.

Khuya  ấy, mưa bay lất phất. Căn nhà của cụ Thàn  đột nhiên bùng cháy lên  như tháp lửa. Mưa không ngăn được ngọn lửa hung dữ liếm ngoàm ngoạp vào từng thớ gỗ trăm năm. Dân bản nháo nhào chuyền tay từng xô nước suối dập lửa. Thoái gào khóc.  Đám khói đen ngùn ngụt bốc lên, kéo theo mùi xăng nồng nặc. Khi Nhuệ vào đến nơi, đám cháy tan, ngôi nhà giờ chỉ còn tro tàn nham nhở, lấp lánh than đỏ. Tiếng người dáo dác vọng lên: “Là anh em thằng  Thậm đây mà.  Lúc chập tối thấy nó  quanh quẩn ở nhà cụ Thàn mãi”. “Khi nãy từ xã vào, tôi thấy em thằng Thậm dẫn thằng Phát với người phụ nữ đẹp và mấy đứa trai nữa đi lên rừng Ma Hón. Trời mưa, lại tối, nó vào rừng làm gì”?

Nhuệ như sực tỉnh. Anh nói thật to: “Thôi chết, chúng nó lợi dụng trời mưa, đốt nhà cụ Thàn, để đánh lạc hướng dân bản. Chắc nó vào rừng đốn trộm cây lim xanh rồi”. Cuống cuồng, anh mang theo khẩu súng định  chạy ngược lên đỉnh Ma Hón. Bí thư Thước ngăn Nhuệ lại. “Chúng nó phá rừng thiêng của bản ta, giết hại cụ Thàn. Các anh kiểm lâm cho dân bản tham gia với”. Không đợi Nhuệ gật đầu, trai bản, không ai bảo ai, tự về nhà lấy gậy gộc, cuốc xẻng, đèn pin  rầm rập theo chân Nhuệ.

Trời tối, đường rừng đứng trơn tuột vì mưa nhỏ, nhưng Nhuệ thấy bước chân mình thoăn thoắt.  Trong anh sáng lấp lóa của đèn pin, mọi thứ đều mông lung mờ ảo. Ý nghĩ về cây lim xanh chiếm trọn trong tâm khảm Nhuệ , khiến anh gần như quên tự hỏi: “Người đàn bà đẹp đi với Phát là ai”?

Leo lên được vài cây số, đến đoạn đèo nhỏ quanh co, um tùm lá, chuẩn bị vào khu nghĩa địa Hổ Vồ, mưa trở nên nặng hạt, gió cũng vật vã hơn. Chợt, Nhuệ dừng lại, lắng tai nghe. Có tiếng bước chân của nhiều người, đang chạy lại rất gấp.  Nhuệ còn như nghe thấy cả tiếng thở hổn hển, cuống cuồng. Chỉ vài phút sau, từ trong đám lá đen ngóm, hàng chục  bóng người xô tới. Thấy ánh sáng đèn chúng rú lên, mọp xuống. Thì ra là anh em thằng Thậm cùng mấy đứa trai bản khác. Mặt thằng Thậm trắng bệch dưới ánh đèn pin, bàn tay loang lổ máu. Nó líu lưỡi: “Cứu… cứu với. Nó đang đến. Nó đang đến”. Có ai đó quát lên: “Nó nào”. Thậm úp mặt xuống đất ướt, giọng càng hoảng loạn: “ Con hổ. Con hổ một mắt. Nó chắn ngang giữa đường, nhìn chúng tôi. Mắt nó có lửa. Mồm nó phì ra hơi nóng. Tha tội cho tôi. Tha tội cho tôi…”

Tất cả đột nhiên im lặng, sững sờ. Có tiếng gầm gào đâu đó vọng vào mưa gió, nghe vừa xa, vừa gần, vừa như thực, lại vừa như mơ…

– Thằng Phát đâu?- Nhuệ hỏi.

– Nó bảo không có con hổ nào. Nhưng tất cả chúng tôi đều thấy. Khi chúng tôi bỏ chạy, nó bắn theo, làm tay tôi chảy máu. Rồi nó dẫn người đàn bà đẹp đi sâu vào rừng. Nó loạn trí rồi.

Tim Nhuệ nhói lên khi nghe Thậm nhắc đến người đàn bà đẹp. Lẽ nào…

– Anh em dẫn mấy tên này về bản đi. Bây giờ chỉ còn hai đứa thôi, nó lại có súng, rất nguy hiểm. Cứ để việc này cho kiểm lâm chúng tôi xoay xở.

Nói rồi, Nhuệ vác súng, cầm theo chiếc đèn pin chạy ngược vào bãi Hổ Vồ. Mưa đã ngớt hạt, nhưng gió càng lúc càng rú rít. Tiếng suối chảy âm âm át cả tiếng gió. Đến bãi Hổ Vồ, anh soi trên đường, thấy mọi dấu chân đều biến mất. Biến mất vào đêm. Không vết dấu.  Có 4, 5 tiếng súng đì đùng hoảng loạn ở phía bên kia  bãi Hổ Vồ. Rồi tất cả lại chìm vào im lặng. Nhuệ dừng lại. Ánh đèn pin nhỏ nhoi xuyên vào bóng tối. Cây lim xanh vẫn còn đó, sừng sững trên nền trời đen thẫm. Nhuệ thở phào. Chợt, tim anh ngừng đập. Bên kia con suối, ở bãi Hổ Vồ, một con mắt thú sáng quắc, đỏ lòe đang nhìn anh chăm chú. Con mắt vừa rực rỡ, vừa kiêu hãnh, lại vừa hoang dại đến ghê người. Con mắt không hề chớp. Nhuệ như bị thôi miên, chân tay không cử động được. Mọi thứ xung quanh dừng như  đều đông cứng. Con mắt nhìn anh hồi lâu, rồi quay đi, chìm vào bóng tối. Có tiếng gầm vang vọng trong óc Nhuệ, rồi lan khắp núi rừng…

Gần sáng, Nhuệ lên tới lán, mới biết cả Sang và Tài đều bị anh em thằng Thậm và lũ trai bản khác đánh úp, trói nghiến vào cây cột gỗ trong lán từ chập tối hôm qua. Khi được Nhuệ cởi trói, Sang lắp bắp:

– Khi nãy tôi nghe có tiếng gầm. Như tiếng hổ ấy. Các anh có nghe thấy không? Lạ thật, rừng này làm gì còn hổ nhỉ?

***

Khi những cơn mưa mùa thu đi qua, rừng Ma Hón xanh lấp lánh, um tùm trong nắng. Cỏ trên mộ cụ Thàn cũng lên xanh mơn mởn. Nhuệ dọn hẳn vào trong bản. Căn nhà ngoài trung tâm xã, kể từ hôm  Liên bỏ đi theo Phát đêm ấy, Nhuệ chưa về lại một lần. Cả hai mất tích trong đêm mưa, không thấy vân mòng. Lũ lâm tặc bị giải về trại giam; còn thằng Thậm thì hóa điên, ngày ngày ngồi bươi đống phân bò, phân dê dưới thang gác nhà sàn.

Đàn ông trong bản đi rừng về, kể chuyện gặp con  hổ  một mắt lang thang, lúc ẩn lúc hiện trong  bãi Hổ Vồ.  Người ta rỉ tai nhau: Đi theo sau nó là một người đàn ông béo tốt cùng một người đàn bà đẹp, có chiếc eo thon và gáy cổ trắng ngần lòa xòa tóc rối…

Tranh của họa sĩ Nguyễn Khôi

HOA TRÊN ĐỈNH PÙ NGÙA

 

Mỷ nhìn xuống bàn chân. Bàn chân gầy guộc, gót đã chai vì leo nương leo đồi nhiều. Ngoài kia trời hoác hơ là nắng. Sau mấy ngày mưa nhũn cả núi đồi, nắng lên khiến ngón chân cái của Mỷ lại đau giần giật. Ngón cái đã mất đi chiếc móng từ lâu, thịt cộm lên thành sẹo. Cái sẹo khiến Mỷ đau mỗi khi trở trời, khiến đôi mắt Mỷ nhồn nhột mỗi khi nhìn xuống. Cứ ngỡ rồi nó sẽ mọc lại, như mái tóc cắt đi rồi sẽ lại dài, như ngón tay bị gai mây cào sẽ liền  mau chóng. Mà không… Cái móng chân đã rời bỏ Mỷ trong một buổi sáng của 4 năm về trước, nó nằm lại trên một con dốc chơ vơ sỏi đá, mãi mãi không quay về.

Có tiếng leng keng dưới  đèo xa. Ba con dê thả rông trên núi lặng lẽ tự trở về. Bóng lão May A, bố Mỷ, loạng choạng khuất vào lùm cây. Mỷ phủi váy đứng dậy  vào bếp. Hoàng hôn buông trùm xuống Pù Ngùa, mùi cơm ngòn ngọt dậy lên trên những mái ngói xỉn màu hoen mưa hoen nắng.

“Chiều mai nhà thầy Pó làm lễ cúng ma cho thằng Dính. Mày lo mà đi xuống đấy, không thì…”

Tiếng May A nhừa nhựa cất lên, sau khi lão tợp nguyên chén rượu sắn đắng khé cổ. Mỷ ngoan ngoãn cúi đầu. Mỗi lần bố nói chuyện, Mỷ đều cúi đầu như thế. Lão May A chẳng cần biết con có đồng ý hay không. Chỉ cần Mỷ cúi đầu, là lão không nói thêm điều gì nữa. Mỷ cắm cúi chan nước lã vào bát cơm nấu nát, tra thêm mấy hột muối trắng. Trời hôm nay mới nắng sau trận mưa dài, đường lên nương còn trơn trượt, nên Mỷ ở nhà.  Ở nhà thì không có rau rừng, không có gì ăn cả. Bát cơm chan nước lã trôi tuột vào cổ Mỷ, để lại vị mằn mặn chan chát nơi cuống lưỡi.

Đêm buông vào Pù Ngùa tiếng  con nai tác ở rừng xa. Mỷ kéo chiếc chăn con công đã sờn rách lên ngang ngực. Chiếc chăn làm Mỷ nhớ mẹ. Mẹ Mỷ chết lâu rồi, từ độ Mỷ vừa lên 5 tuổi. Nghe nói, chiếc chăn ấy là của hồi môn bà ngoại trên Na Tao cho mẹ mang về nhà chồng. Bà chỉ có một mình mẹ. Trước ngày bố sang bắt mẹ về làm vợ, bà ngoại gùi một gùi gạo nếp nương từ đỉnh núi cao nhất bản Na Tao, kẹp nách thêm con lợn mán chục cân, vượt 2 ngọn núi, 6 cái đèo, xuống dưới chợ huyện đổi cái chăn con công rực rỡ nhất. Mụ chủ hàng tạp hóa người Kinh béo núc ních chê gạo không đều hạt, lợn không béo, nên đòi đổi cái chăn kém sắc hơn cho bà. Tức mình, bà không nói một lời, gùi gạo, vác lợn, lầm lụi đi bộ gần 2 chục cây số đường núi về nhà, mặc mụ chủ hàng to béo gọi ời ời đằng sau. Phiên chợ sau, bà lại mang từng ấy gạo, với đúng con lợn ấy, quay lại đúng cái hàng tạp hóa của mụ chủ người Kinh, để đổi đúng chiếc chăn rực rỡ mà bà ưng bụng. Mụ chủ hàng không dám mặc cả một lời, đổ vội đổ vàng gùi gạo vào bao, nhét lợn vào rọ tre, rồi trao chăn đẹp cho bà ngoại.

“Nó mà không đổi nữa, tao lại gùi gạo vác lợn về chứ. Cái bụng người Mông tao không thích nói hai lời”. Mỗi khi kể lại câu chuyện ấy, bà đều móm mém cười, phô hàng lợi hồng hồng đã rụng răng gần hết…

Mẹ Mỷ mang chăn về nhà chồng, đắp được đúng 6 mùa nương thì mất. Mỷ như cây cỏ tranh bơ vơ. “Mẹ con Mỷ bị ma bắt về trời. Con ma rừng ác lắm”. Người lớn trong bản Pù Ngùa nói với Mỷ điều đó, khi bỏ nó trong chiếc gùi, gùi lên nương, hay khi thả nó trần truồng, chơi lê lết bên cối giã gạo đặt ở cái hiên đất ẩm thấp mùi gió mưa cũ kỹ…

Mỷ lớn lên, đắp cái chăn con công mẹ để lại. Có lẽ thế nên Mỷ giống mẹ. Mỷ có đôi mắt sáng và đen như mắt nai rừng. Đôi mắt ấy lúc lên 6,7 tuổi đã biết cúp xuống mỗi khi lão May A trở về nhà, người nồng mùi rượu sắn, khật khà khật khưỡng đá niêu cơm đen xỉn, lèm bèm quát Mỷ vì sao để con gà vào bươi tro bếp. Thêm một hai mùa nương nữa đi qua, Mỷ biết thổi niêu cơm bé xíu, biết giã gạo, xay ngô đồ mèn mén, rồi Mỷ biết đi nương. Những con đường lên nương nhà Mỷ dài thật là dài, cao thật là cao. Đi hết con đường  ấy, đàn trâu và đàn dê còn mệt muốn hết hơi. Vậy mà Mỷ lầm lụi đi suốt từ lúc tuổi con thơ cho đến thời con gái.

Những đứa con gái khác của bản Pù Ngùa thường lên nương cùng mẹ hay chị em của chúng, còn Mỷ đi một mình. Bố Mỷ nếu không xuống chợ phiên tìm người đàn bà của ông, thì sẽ tụm năm tụm ba nơi nào đó uống rượu say nhè. Mỷ đã quen đeo gùi một mình, quen hái rau rừng một mình, quen chăm con lợn mán đen một mình.

Các bà già ngồi bên gốc đào trong bản thường dặn Mỷ, đi nương một mình, nếu có ai gọi từ phía sau thì đừng quay lại. Trong núi Pù Ngùa có con ma ngón ác lắm. Con ma ẩn trong sắc hoa vàng rực rỡ của cây lá ngón.Chúng hay giả làm cô gái đẹp, tìm những đoạn đường hoang vắng để bắt hồn người. Nếu lỡ chẳng may mà nghe tiếng gọi lạ, ai quay lại, sẽ bị ma ngón bắt mất hồn, đi lạc vào rừng sâu, hay ốm đau mà chết. Ai không chết vì bệnh tật, rồi cũng sẽ lên núi, tìm ngọn lá ngón hay hoa ngón ăn để lên trời.

Mỷ rất sợ màu hoa vàng của cây ngón. Màu vàng ấy như màu nắng quái của một buổi chiều tai nghiệt, ám vào lòng Mỷ nỗi đau đứt ruột. Ngày ấy, Mỷ mới 5 tuổi, đang chơi con quay với mấy đứa trẻ trong bản, bỗng nghe tiếng chân huỳnh huỵch huỳnh huỵch. Tiếng gọi tao tác ời ời. Một người đàn ông to lớn cõng một người đàn bà gầy gò đi như chạy về phía nhà Mỷ. Khi người ta đặt người đàn bà xõa xượi ấy xuống giường, Mỷ chen vào đứng dưới chân người lớn. Mỷ khóc ré lên. Đúng là mẹ rồi, đúng cái váy mẹ mặc, đúng cái vòng đồng mẹ đeo. Nhưng mặt mẹ đã tím bầm lại. Mẹ như con ếch, bụng trương phình, chân tay co quắp trên chiếc chăn con công. Chiếc chăn rực lên như màu máu. Dân bản nhốn nháo. Mỷ gào khóc tèm lem mặt mũi. Lão May A đi uống rượu đâu đó vẫn chưa về.

Mẹ Mỷ chết vì một cọng  ngón đầy hoa… Khi những cơn gió lành lạnh kéo về, nắng nhạt bớt đi, thì đỉnh núi Pù Ngùa của Mỷ cũng rờn rợn trong sắc vàng của cây lá ngón. Những cọng dây xanh um tùm như đàn rắn lục bò lan trên mặt đất, vắt vẻo trên tán mấy cây xoan rừng, sà xuống cả lối đi. Hoa ngón đẹp như hoa lý hoa vằng, nhưng con ma trong nó thì tàn độc. Ma ngón lại dễ dẫn dụ người trong bản.

Thì đó, năm kia bà Pa Cú mất con ngan trống. Con ngan to cồ cộ, mào đỏ như hoa huyết rồng, bà nuôi suốt một năm trời mà chẳng dám ăn. Bà định để đến Tết, đợi thằng Tẩn con bà đang làm thợ kéo luồng dưới bản người Thái trở về sẽ thịt, thế mà đứa nào đang tâm nỡ bắt mất của bà. Tiếc quá, xót quá, không làm sao được, bà đứng dạng chân nói vống sang nhà Sùng Văn Ly. Vợ Ly không vừa cũng chỉ tay cãi lại. Pa Cú nói to, vợ Ly nói càng to hơn nữa. Cãi một hồi không lại, giận quá, Pa Cú bỏ lên nương ăn 9 ngọn lá ngón. Khi khiêng về thì đã chết cứng rồi.

Ma ngón ác lắm, nào có phải chỉ rủ những người già như Pa Cú về trời đâu. Con Xua, bạn của Mỷ, biết mẹ có hai tờ 50 nghìn. Nó xin mẹ đi chợ huyện chơi, mẹ  tiếc tiền không cho. Nó ở nhà, vạch gối mẹ, lấy cả hai tờ 50 nghìn ấy. Xuống chợ, nó mua một chiếc áo phông, một cái vòng đồng. Còn thừa tiền, nó lại mua thêm khoanh thịt ba chỉ. Mẹ Xua về, thấy trong bếp thơm lừng mùi thịt luộc, thấy cái áo phông sặc sỡ treo trên dây mắc áo, lại thấy chiếc vòng đồng mới  lúc lỉu trên tay Xua thì điên ruột lên vì xót của.

“À! Con Xua này. Mày hư hỏng rồi. Tao làm cả nương ngô mới để ra được hai tờ tiền  ấy mà mày nỡ lấy mua vòng mua áo. Mày làm khổ tao rồi. Đợi bố mày về nó đánh chết mày.…”. Bà mẹ nói xong bỏ ra hiên ngồi khóc bên cối đá. Buổi chiều, Xua ngồi ngơ ngẩn bến cửa số. Sáng sớm hôm sau, người trong bản đi nương đã thấy Xua nằm chết dưới gốc ngô, miệng trào ra thứ nước dãi vàng nhơn nhớt… Năm ấy Xua 16 tuổi.

Bản Pù Ngùa của Mỷ có hơn một trăm nóc nhà, mà hầu như nhà nào cũng có người chết vì ma ngón. Nghe nói, những người phụ nữ nhai lá ngón đều được lên trời. Lên trời là không còn đói rách, không còn bị chồng đánh đập. Lên trời là được sống một đời hạnh phúc. Chẳng biết có phải không? Mỷ kéo chăn, nghe tiếng nai rừng tao tác vọng lại từ trong đêm tối…

Buổi chiều hôm ấy, nhà thầy cúng Pó trở nên nhộn nhịp. Nhà Pó to nhất bản Pù Ngùa, trong bếp lúc nào cũng xếp gần 20 bao lúa, bao ngô. Người nhà Pó không bao giờ bị đói mùa giáp hạt. Nhưng hơn nửa năm nay, thằng Dính, con trai út độc nhất của Pó cứ đau ốm thường xuyên. Nó gầy đi,  mắt lồi ra như hai con ốc suối, mà cái hõm mắt thì chìm sâu vào trong.  Nó ho khù khụ khù khụ suốt ngày. Thầy thuốc trạm y tế xã bảo Pó cho con đi bệnh viện huyện, nhưng Pó quả quyết Dính bị ma ngón bắt mất hồn.

Khi Mỷ đang cọ đám lọ nồi đặc quánh, đen kịt bám đầy chiếc nồi gang to bên vòi nước chảy nhà Pó, bỗng nghe thấp thoáng tiếng người. Tim Mỷ như ngừng đập. Ngón chân cái của Mỷ lại đau giần giật. Là Vá. Phải rồi ! Vá có họ với thầy Pó, nên lặn lội từ bản Lùng sang đây làm lễ cúng ma. Bốn mùa nương rồi Mỷ không gặp Vá. Mỷ những muốn quên đi…

Gặp nhau trong bếp, Vá nói to, Vá đi lại thản nhiên, như không nhìn thấy Mỷ. Mỷ thấy má mình nóng ran. Mỷ nép vào một góc, khi không ai  để ý, thì khẽ liếc sang Vá. Vá gầy đi nhiều, già hơn, mà đôi mắt một mí thì  vẫn sáng quắc như thế. Đôi mắt đã vì Mỷ mà tìm hoa tím trong đêm. Đôi mắt đã vì Mỷ mà nhìn đắm đuối, như làm mềm cả tiếng khèn môi. Nhưng đôi mắt ấy, cuối cùng, đã không vì Mỷ mà đến bắt Mỷ về làm vợ. Lòng Mỷ bối rối, vừa mong không gặp Vá, nhưng lại buồn khi gặp rồi mà Vá làm như không quen.

Trời bắt đầu tối. Trên nhà, thầy Pó đã vào lễ cúng. Không gian đặc quánh lại trong tiếng nguyện cầu rờn rợn « Con ma bắt mất hồn con trai ta… Mau trả hồn con ta… ma về nơi của ma, người về nơi của người ». Chùm tua vải đỏ rực  trong tay thầy lắc lên lắc xuống. Những hình nhân cắt bằng giấy trắng nhởn treo vật vờ trên cành tre gai cắm bên mấy bao ngô. Vá đã ngồi bên bậu cửa từ lúc nào, cùng một trai bản nữa. Mỗi người cầm một khẩu súng kíp chĩa ra màn đêm. Ngoài kia, núi Pù Ngùa sẫm tối…

Thầy Pó nhảy múa càng lúc càng nhanh, chiếc tua đỏ quật lên quật xuống vun vút. Khi Pó hét lên những tiếng cuối cùng trong bài cúng, hai tiếng súng chát chúa nổi lên. Hình nhân quằn mình dưới lửa. « Con Ma đi rồi ». Thầy Pó mồ hôi ướt đầm sống áo, hảo hển nói hắt ra. Thằng Dính ngồi trên giường, đôi mắt lờ đờ lóe lên niềm vui nhợt nhạt.

Dưới bếp  bắt đầu xôn xao dọn cỗ. Mỷ buồn… Mặc kệ mọi người bày cơm rượu, Mỷ lén đi ra cửa sau, bật đèn pin, một mình xuyên màn đêm trở về nhà.  Đêm nay, không còn tiếng nai tác. Con vật ấy có lẽ cũng bỏ Mỷ mà đi, như Vá…

Buổi sáng, Mỷ thức dậy, mắt sưng húp. Ở bậu cửa có mùi thơm thoang thoảng tỏa ra. Tim Mỷ lại thêm lần nữa ngừng đập. Cạnh cối giã gạo, mấy nhành hoa đêm tím biếc nằm chơ vơ, cánh vẫn còn ướt đẫm sương…

Giàng Seo Vảng, bí thư xã đoàn vào bản Pù Ngùa  lúc trời sầm sập tối. Nhìn thấy bóng Vảng từ dưới con dốc, Mỷ khép nhanh cửa lại. Mấy tháng nay, cứ vài ngày, Vảng lại ghé bản vận động thanh niên và bà con đi phát cây lá ngón.

“Ây dà. Thằng Vảng bị mất trí rồi. Cả bản ta không ai dám cắt cây ngón. Con ma sẽ  bắt chết để trả thù”.

Thầy Pó rền lên khi thấy bóng Vảng. Lão May A bố của Mỷ cũng không muốn nhìn thấy Vảng. Vậy mà Vảng cứ tới. Cửa đóng thì Vảng đứng ngoài nói vọng vào. Cái tiếng Mỷ ơi Mỷ ời nghe dịu dàng lắm chứ nào có giống đi vận động đâu. « Vận động » mãi mà người trong nhà không ra mở cửa, anh bí thư có đôi vai rộng như đỉnh Pù Ngùa còn đứng tần ngần mãi, rồi mới quay lưng bỏ đi.

“Con Mỷ, mày mà còn để hoa tím trong nhà nữa, là tao đánh mày”. Lão May A dấm dấm nắm tay vào khuôn mặt Mỷ trong bữa tối. Hôm nay Mỷ đồ mèn mén. Ngô để từ mùa trước, già đanh, xay thành bột vẫn già. Bát mèn mén khô bứ cổ, Mỷ đưa trôi vào họng bằng muôi canh rau rừng nấu suông lõng bõng. Mỷ cúi mặt. “Mày lại gặp thằng đó à. Phải rồi. Hôm qua cúng ma nhà lão Pó. Khốn kiếp”. Mỷ lý nhí: “Bố à, con không gặp…”. Choang! Mỷ định thần thấy chiếc bát trên tay đã bị bố hất văng xuống đất, vỡ tan tành. Mỷ khóc.

“Còn khóc nữa, tao đánh mày!” Bố Mỷ lại giơ nắm day dứ dứ vào mặt con gái rồi lảo đảo đi ra khỏi nhà. Mỷ ào đến giường, lật tung chiếc gối cũ, mấy cánh hoa tím xác xơ đã hết hẳn mùi hương. Mỷ gục mặt xuống gối nấc không thành tiếng. Móng chân cái giần giật đau.

Mỷ thương Vá, thương từ mùa nương năm Mỷ 15 tuổi. Nhà Vá bên bản Lùng, cách Pù Ngùa của  Mỷ 1 ngọn núi với 2 con đèo cheo leo dốc đứng. Mùa thu, đêm nào, bên vách nhà Mỷ cũng thoang thoảng mùi hương của loài hoa tím biếc. Cái miệng Vá đã thốt ra những lời thề hẹn. Lão May A biết có hoa tím để bên cối đá, lão khật khưỡng đi qua. Lão  nghe tiếng con gái trở mình, tiếng lạo xạo bên vách, tiếng khèn môi cứ thảng hoặc xa dần, lão im lặng. “Con Mỷ đến tuổi gả chồng rồi”…

Nhưng cái ngày May A phát hiện Vá là con trai lão Quảy bản Lùng, thì tất cả bát đũa, quần áo trong nhà đều bay ra ngoài trong cơn cuồng nộ.

« Con Mỷ !Mày theo nó, tao giết mày. Tao thấy bóng nó quanh bản Pù Ngùa này, tao giết nó».

Mỷ ngơ ngác khóc. Trái tim yêu của đứa con gái 16 tuổi vỡ hoác ra trong cơn giận điên cuồng của người cha. Sau này, Mỷ mới biết, mẹ của Vá đã từng là người mà lão May A thương nhất. Chỉ vì nhà lão nghèo, bà đã theo bố Vá về bản Lùng làm dâu. Phiên chợ huyện nào bà đi, phiên chợ đó bố Mỷ cũng đi. Vì thương mà hận ! Nỗi hận của đàn ông Mông nặng như đá trên đỉnh Pù  Ngùa, bao năm rồi May A vẫn không thể quên.

Mỷ toan muốn cãi cha, cha giết đi cũng được. Nhưng Vá không dám cãi lời lão Quảy.  Đầu nhà không còn hoa tím. Tiếng khèn tịnh không xuất hiện. Vá cưới vợ. Vợ Vá 14 tuổi, cùng ở bản Lùng, nghe nói xinh hơn Mỷ. Mỷ bỏ lên nương. Mùa thu, hoa ngón vàng hiu hắt. Loài hoa ma ấy đưa người ta lên trời rồi, người ở lại sẽ ân hận, nhung nhớ khôn nguôi…

Khi được tìm thấy, bụng Mỷ đã trương lên, nhưng đôi mắt sáng như mắt nai rừng còn chơm chớp.

Cuống cuồng.

Nhốn nháo.

Hệt như cái ngày người ta đưa mẹ Mỷ về.

Hai trai bản khỏe mạnh kẹp Mỷ ở giữa, phóng xe Wave Tàu ọp ẹp đã tháo tung cả yếm, vượt đèo vun vút lao xuống bệnh viện huyện cách đó hơn 20 cây số. Đến cái đèo cuối cùng của Pù  Ngùa, ngón chân cái của Mỷ quẹt xuống đường đá mấp mô. Cái móng chân bật ra, tóe máu. Máu chảy tong tả thành một vệt đỏ dài thăm thẳm. Cái móng chân Mỷ nằm lại ở đoạn đường cô đơn hoang vắng.

Mỷ sống sót qua lần tự tử ấy. Cảm giác đau đớn kinh hoàng, ruột gan cào xé, ngực không thở được nặng như trái núi đè lên đến bây giờ vẫn khiến Mỷ sợ. Nhưng nó không dai dẳng bằng vết đau nhè nhẹ trên cái móng chân thành tật, mỗi độ trở trời lại nhưng nhức. (Nhưng nhức trên ngón chân, hay trong lòng Mỷ, Mỷ cũng không biết nữa).

Mỷ bây giờ 20 tuổi. Trai bản đã lấy vợ gần hết rồi, mà Mỷ thì chưa muốn tìm chồng. Lấy chồng khổ lắm. Ở bản Mỷ, có ai lấy chồng mà sung sướng đâu. Chồng đi uống rượu. Chồng chẳng chịu lên nương. Chồng xuống chợ hẹn hò các cô gái bản khác ; để mặc  vợ gùi gùi ngô đến gù cả lưng, chăm đàn con quanh năm trần truồng ốm nheo ốm nhóc. Hôm kia đi nương về, Mỷ gặp cái Sênh tắm cho 4 đứa con bên suối, mặt nó đã đầy nếp nhăn, mà nó mới 19 tuổi. Hôm qua, chị Chư ngồi vá áo, khoe Mỷ thêm một cái răng vừa rụng, và cười nụ cười trống hoác phô cả lợi. Chị mới 37 tuổi, mà đã làm bà ngoại được 5 năm nay.  Những mùa nương ở Pù Ngùa cứ buồn thê thiết với những bữa cơm chỉ ăn cùng muối trắng và bát canh rau lõng bõng; với những người đàn bà chẳng biết có bao giờ cảm thấy hạnh phúc hay không.

Là bởi vậy, nên trong một buổi chiều mùa xuân mưa rây rắc nào đó, có cô thiếu nữ ngồi bên bậu cửa, bỗng dưng thấy đời hoang hoải quá, liền nghĩ đến loài hoa vàng giúp bay lên trời, nơi có bộ váy áo rực rỡ và những bữa ăn đủ đầy. Lại một buổi chiều đông lạnh giá nào đó, một bà vợ bị chồng đánh sưng vều cả môi, nhìn ra con đường trước nhà, nơi bóng tối đang nhập nhoạng xuống, tự thấy bóng tối ấy cũng như đời mình, nên cũng lên nương tìm lá, bỏ lại đàn con bơ vơ, những mong khi ông chồng tỉnh cơn say, sẽ vì ân hận mà phải nhung nhớ vợ một lần.

Mỷ đã không còn muốn đi tìm lá kể từ năm 16 tuổi. Mỷ cũng không tin loài ma ngày nào sẽ bỗng dưng tìm đến. Nhưng, Mỷ sợ những lời rì rầm trong bản ; sợ vòng tua đỏ trên tay thầy Pó, sợ hơi rượu sắn nồng gắt phả ra từ người ông bố.

Một sáng, bản Pù Ngùa xôn xao…

Các bà già ngồi dưới gốc đào vuốt mặt than trời. Đàn ông hầm hè, phụ nữ rúm lại. Mỷ cũng chạy ra xem. Thì ra, Bí thư đoàn Giàng Seo Vảng cùng các cô giáo trong  điểm trường tiểu học đang phát cây lá ngón mọc đầy rẫy quanh trường. Mới mấy hôm trước, thẳng Pẩu 3 tuổi lên sân trường chơi với anh, thấy cái hoa vàng đèm đẹp, đói bụng, nó tưởng hoa có mật nên bỏ vào miệng nhai. Mươi phút sau, người nó giật lên như con nhái bén gặp mưa. May mà cứu được. Chắc Bí thư Vảng thấy không vận động suông được nữa nên tổ chức buổi phát cây này đây mà.

« Thằng Vảng ! Cho mày đi học, mày làm cán bộ để mày về hại người Mông ta à ? Không ai được phát cây ngón hết. Con ma sẽ về hại bản ta ».

Thầy cúng Pó cố giằng con dao trên tay Vảng mà không được.

« Tôi làm tôi chịu. Bà con xem. Trong trăm ngày tôi không làm sao, thì chẳng có con ma nào cả. »

« Cái đồ…Ma bắt mày ! Ma bắt mày đi ». Thầy  Pó phùng má  hùng hổ bỏ đi…

Vảng không chết, mà thằng Dính con của thầy Pó thì chết, chết mòn. Bác sỹ trên huyện bảo, nó bị lao phổi kèm suy nhược trầm trọng, nếu đưa đến bệnh viện sớm thì đã không sao.  Pó đứng nhìn xác con nằm đó với vệt máu chảy dài trên khóe miệng, khóc nấc. Lão đã cúng ma rồi mà, sao thằng Dính vẫn đi ? Trong cơn đau,  Pó giật tung chùm tua đỏ  ném xuống nền đất. Hình nhân bằng giấy còn sót lại rơi lảo đảo xuống đất, cái miệng bị cắt bằng kéo sắc lẻm trông như nụ cười man rợ.

Đi đám ma Dính về, Mỷ vẩn vơ suy nghĩ. Mỷ ngước lên nhìn trời. Trời Pù Ngùa xanh thăm thẳm. Mỷ tự hỏi: Mẹ có đang hạnh phúc trên trời không, hay xương thịt mẹ đã tan vào đất Pù Ngùa, cùng nỗi đau không lời của một người đàn bà Mông.

« Mỷ, nghe tôi. Không có con ma nào cả. Mỷ đừng u mê nữa. Bản Mông mình đã khổ lắm rồi, Mỷ không thấy sao. Nghe tôi. Đi phát cây lá ngón, đi tham gia sinh hoạt đoàn với tôi. Vui lắm. Còn được xuống miền xuôi. Miền xuôi đẹp lắm »

Lời Vảng như gió thoảng. Bờ vai Vảng rộng như núi Pù Ngùa. Nhưng, loài hoa tím mùa thu vẫn thoảng thơm cồn cào. Loài hoa ấy, thỉnh thoảng vẫn được ai lén đặt bên cối đá nhà Mỷ, khiến lòng Mỷ không yên…

Bốp ! Lão May A giáng vào mặt Mỷ cái tát điếng người khi bắt gặp Mỷ trên con đèo về nhà. Con dao quắm trong tay Mỷ vương vài cánh hoa vàng ởn. Bốp ! Bốp ! Hai cái tát bồi thêm khiến Mỷ khuỵu xuống .

“Con Mỷ. Ai cho mày làm chuyện ngu ngốc này? Mày muốn con ma giáng họa cho nhà ta à?”  May A gầm lên, mắt vằn như con thú dữ.

“Mẹ mày chết rồi đó. Mày có nhìn thấy bụng mẹ mày căng lên như bụng con ếch không? Mẹ mày bị ma bắt. Hay mày cũng  muốn như mẹ của mày, làm con ếch trương bụng lên mà chết?”

Con ếch ! Con ếch ! Tai Mỷ ù đi. Con ếch tội nghiệp giương đôi mắt như mắt nai rừng, dại đi trên tấm chăn con công đỏ chót. Màu đỏ trào lên trên đôi mắt Mỷ ; trào lên trong khuôn miệng rớm máu của Mỷ cùng cục hơi nóng giần giật nơi bầu ngực”.

“Con ma là ông!” – Mỷ gào lên.

“Mày nói cái gì?”

“Con ma là ông! Nếu ông không uống rượu về đánh mẹ, nếu ông chịu lên nương, nếu ông không xuống chợ huyện gặp bà ấy, thì mẹ đã không đi tìm lá . Mẹ  chết vì ông, vì ông, vì ông…” Tiếng Mỷ thét lên lanh lảnh, vọng xuống thung sâu, vù  lên đỉnh non cao, rồi quất vun vút vào dãy Pù Ngùa mây trắng. May A đứng như trời trồng. Đứa coi gái luôn cúi mặt đã thốt vào mặt lão những lời ấy. Lão thõng người, để mặc hơi rượu bay lên, còn bờ vai mỏi mệt trễ xuống. Phía xa, Mỷ đã chạy lên đỉnh dốc. Chiếc váy hoa bay phấp phới như con bướm nhiều màu.

Mỷ về ở với bà ngoại. Bà sống một mình trên đỉnh Na Tao cao vút. Buổi đêm, Mỷ đang chất củi đun nồi cám lợn sình sình trên bếp, bỗng có tiếng động như  tiếng  bước chân người. Mỷ gài thêm củi, mang khuôn mặt đỏ dừ vì khói bước ra. Mỷ khẽ giật mình… Ngoài sân, Vảng đứng đó, với cái khèn Mông bên tay trái, tay phải cầm mấy đóa hoa màu tím biếc. Loài hoa của đêm phả vào Pù Ngùa mùi thơm dìu dịu.

Mỷ quay mặt đi, bẽn lẽn cười…

AN THƯ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *