Truyện ngắn Dương Đức Khánh: Khăn rằn vắt vai & Anh Bảy Văn Nghệ

Vanvn- Nhà văn Dương Đức Khánh sinh năm 1960, quê quán Thừa Thiên – Huế, hiện sống ở Đồng Nai, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông đã xuất bản các tác phẩm: Nợ Làng (Tập thơ – NXB Hội Nhà văn 2006), Người Chợ Kệ (Tập truyện ngắn – NXB Hội Nhà văn 2018), Nghệ sĩ vườn (Tập Truyện ngắn – NXB Hội Nhà văn 2018), Nửa ngày chiến tranh (Tập truyện ngắn NXB Hà Nội 2019) và đã được nhận Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn 1200 chữ Báo Tuổi Trẻ, Giải khuyến khích Cuộc thi Truyện ngắn 2012 – 2013 Báo Văn Nghệ, Giải tư Cuộc thi Truyện ngắn Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 2013 – 2014.

Chuyên đề Văn học Đồng Nai của Vanvn.vn trân trọng giới thiệu hai truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Dương Đức Khánh.

Nhà văn Dương Đức Khánh

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Lý Văn Sâm từ nhà văn đường rừng đến hiện thực và cách mạng

>> Chuyên trang Chi hội Nhà văn Việt Nam trên Văn Nghệ Đồng Nai

>> Trao giải Cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II

>> Phác thảo về Nguyễn Trí

>> Người viết bền bỉ nhất Đồng Nai: Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải

>> Mưa trên rừng chồi – Truyện ngắn Lê Đăng Kháng

>> Nhà văn Lý Văn Sâm: Người kể chuyện một mình

>> Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Đồng Nai: Một miền văn chương trù phú

>> Nhà văn Hoàng Văn Bổn: Người lực điền trên cánh đồng chữ

>> Văn học Nam Bộ 1932-1945: Một cái nhìn toàn cảnh

>> Diện mạo của văn học Đông Nam Bộ từ 1975 đến nay

>> Cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II trao 12 giải thưởng

 

Khăn rằn vắt vai

 

Anh cao to lừng lững như dân châu Âu, màu mắt nâu nâu dài dại. Hút nhất ở anh là cái mảng râu với tóc, màu tóc tàn tro pha những sợi bạch kim, gợn bồng bềnh như mây trên đầu núi  quê anh. Bộ râu thì cứ như của ông Ốp ông Ép nào đấy ở bên xứ đông bắc nước Nga. Tóc và râu ria ấy thường hợp với áo kẻ quần bò, giày “khủng bố”, cưỡi cái mô tô to đùng, mốt bụi bặm hầm hố thường ngày của anh. Vậy mà hôm đó bất ngờ, lần đầu tiên tôi thấy anh đóng quân phục kiểu cựu binh: Áo “bay” Nga, quần “ga” rêu đậm, giày đen trung úy láng bóng. Đó là hôm anh chuẩn bị ra sân bay đi Hà Nội. Nhìn bộ dạng râu tóc phấp phới gắn với bộ quân phục trông nó quai quái thế nào, cười chết được. Biết anh gốc lính nhưng trước giờ tôi chỉ gặp qua bức ảnh trắng đen trên một bài báo hay trang mạng nào đó – một anh bộ đội trẻ măng ốm tong, cao lêu khêu, mang ba lô ôm mũ cối, đầu cổ nhẵn nhụi ngơ ngác giữa quan cảnh đường phố Sài Gòn ngày mới giải phóng. Tôi kém anh chục tuổi. Về quá khứ, tôi chỉ biết lơ mơ anh là lính pháo cao xạ miền Đông Nam Bộ, đóng ở R gì đó. Rồi anh viết văn, và được chuyển về báo Văn nghệ Giải phóng… Quen biết anh dăm năm, rồi về làm thằng lính lác phụ tá với anh cũng hơn năm, ngoài những cuốn sách đã đọc của anh, tôi chỉ biết về anh có vậy.

Tôi mê văn anh từ giữa những năm chín mươi. Hồi đọc được cái truyện ngắn của anh vẻn vẹn hơn nửa trang báo, đọc xong sướng đê mê cả tháng trời. Tên anh găm luôn với tôi từ đó. Ngày đó tôi sống tuốt vùng quê miền Tây, cũng tập tò viết lách, rồi có vài chùm thơ được in tạp chí trung ương, mừng lắm nhưng chỉ  giấu nhẹm sướng một mình, chẳng dám khoe ai. Lý do là tôi có thằng bạn hơn tôi vài tuổi, dân làm ruộng, ngày trước cũng học tới trung học đệ nhất cấp. Thấy nó cũng hay đọc tờ báo tỉnh, mấy trang về nghề nông, có lần tôi đưa nó đọc chơi mấy tờ báo, tạp chí văn chương. Mấy hôm sau đem trả, nó buông một câu tỉnh bơ: “Ở ngoài Hà Nội bây giờ nhà dzăng nhà thơ còn sống nhiều quá héng mầy, chắc già khằn khú đế hết rồi!…”. Có nghĩa theo nó biết từ hồi đi học, nhà văn nhà thơ là những con người thời cu ki cụ kị, chết mất đất tám kiếp rồi, hồi xưa họ viết ra văn chương thơ phú rồi để lại tới đời nay. Chớ bây giờ không còn ai làm cái việc ấy nữa!

Tới hồi tôi chuẩn bị xuất bản tập thơ đầu tay, nghe anh giờ về làm quản lý cái địa chỉ mình đang cần tới, tôi càng nôn nao được gặp mặt anh, nhưng cũng chỉ dám gửi bản thảo qua đường bưu điện. Hơn tuần sau có cú a lô: “… Thơ cậu đọc khá đấy! Hôm nào ghé lên chơi!… Nhớ mang theo mấy cái báo, tạp chí ngoài kia đã in thơ của cậu luôn nhé!”

Hôm tôi ló mặt lên vừa tự giới thiệu, anh nhướng mắt vểnh râu cười khoái trá, bỗ bã như anh em gặp nhau lâu rồi: “Mày hả! Ô, tao mới đọc cái truyện của mày, viết sướng, văn viết được!”. Tôi hỏi anh đọc đâu? Anh giơ cái đài PANASONIC cũ mèm chắc từ thời bộ đội của anh đặt gần kệ sách nói đây đây, rồi vào máy tính gõ gõ nhấp nhấp. Bỗng từ loa máy phát ra: “Trong chương trình đọc truyện đêm khuya của Đài tiếng nói Việt Nam hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu truyện ngắn…”. Tôi quá bất ngờ, sướng tới mây! Anh cũng rung đùi gục gật cười hơ hơ: “Được được, văn viết được!… Sau này gần gũi hơn tôi mới biết, dân viết lách từ già tới trẻ cả thành phố này anh chưa khen ai lấy nửa câu!

Ít lâu sau đó nghe tin tôi được giải truyện ngắn, anh a lô chúc mừng nói: “Cái giải của mày là tầm quốc gia rồi!… Công việc mày hiện tại ổn định không, tao đề nghị mời mày về làm việc với tao, được không?”. Được mất gì nhưng cứ được đi là sướng cái đã. Vậy là tôi mang ba lô về thành.

Sáng đầu tiên tới cơ quan nhận việc, có mấy ông tóc dài râu ria, mặc áo chim cò khoác ghi-lê xồng xộc vô, tự giới thiệu là nhà nhạc nhà thơ ở câu lạc bộ gì đó đến bàn về việc xuất bản tập sách hai trăm tác giả, rồi rập rập lên phòng anh. Thấy chị tạp vụ chưa tới, tôi lui hui pha ấm trà. Một ông ngồi sô-pha thấy tôi nhỏ nhắn, mặt mũi non choẹt, ông ta móc tiền vẫy vẫy giọng rất hách: “Xuống dưới gọi giúp chú mấy ly cà phê với gói Con mèo!”. Trở lên vừa đưa gói thuốc, anh nhìn mấy ông nọ và đưa tay về phía tôi: “Xin giới thiệu với các ông: Quán quân truyện ngắn báo Tuổi Trẻ nhá. Tôi mới mời về làm biên tập ở đây. Phòng nó bên kia, nó sẽ tiếp nhận bản thảo và làm việc trực tiếp với các ông!”. Anh cười vểnh râu: “Mấy ông phải biết, dân đã về đây là- thứ-thiệt, các ông đừng có mà đùa nhé!”. Ông nhà thơ nọ râu ria xuôi xị, nắm tay tôi: “Thông cảm thông cảm nhe!… Mình gặp “trạng nguyên” mà chẳng biết!…”

Anh nói công việc đây chẳng có gì nhiều, tranh thủ mà viết, mày viết tiểu thuyết đi. Ra trận là phải chơi xe tăng đại pháo, truyện ngắn chỉ là anh bắn tiểu liên lẹt phẹt thôi!… Mẹ, tao hồi về đây tới giờ chẳng viết được gì!…

Anh đến cơ quan tùy hứng, không giờ giấc nào hết. Thường 8 giờ trở đi là có khách, có người chờ hơi lâu hỏi, thủ trưởng tới mấy giờ, tôi trả lời có hôm khoảng 5 giờ sáng, hôm chín mười giờ, hôm không đến, không chừng! Ông khách dòm thò lõ, nghĩ dân mấy ông này là chúa ưa cà rỡn!… Anh lao vào công việc cũng không kể giờ giấc. Sáng anh đến tay thường cầm cái bánh ú, bánh giò như kiểu cơm nắm hồi bộ đội, hoặc củ khoai lang to tướng như con chuột cống, thêm bi đông nước chè xanh xách toòng teng nữa. Vậy là đóng cửa chiến đấu tới chiều, có khi tám chín giờ tối là chuyện thường.

Phòng anh có tấm bảng, không phải để ghi lịch công tác mà để anh tự học tiếng Nhật và chữ Hán. Bạc đầu còn học vậy mà có lần anh bị mắc một vố liên quan tới chữ Hán Nôm cười chết được. Thường gần đến cuối năm, rất nhiều nơi đến xin giấy phép in lịch. Ngành nào in lịch theo nội dung, hình ảnh tượng trưng của ngành đó. Một trường đại học dân lập nọ mang tên của kinh đô xưa sưu tầm được tấm ảnh có bức tranh ý nghĩa tiêu biểu cho cái tên trường. Nguồn gốc bức tranh là do người Pháp thuê một thợ vẽ An Nam vẽ cảnh sinh hoạt của kinh kỳ hồi giữa cuối thế kỷ mười chín. Có phố xá mái ngói đơn sơ, có lò thợ rèn, có người buôn thúng bán mẹt, có người kéo xe v.v… Anh xem qua bức ảnh thấy quá hợp lý và ký duyệt cái rẹt. Tới lúc in lên tờ lịch, bức tranh lớn lên cả chục lần, nhìn thấy bên vách của một ngôi nhà đầu phố trong bức tranh có mấy dòng chữ Hán chữ Nôm chi đó viết nguệch ngoạc, người bình thường xem qua thấy cũng như mấy bức thư pháp tranh Tầu ấy. Nhưng xui khiến lịch vừa phát hành lại lọt vô mắt một ông nhà nghiên cứu Hán Nôm, ông này dịch ra mấy dòng chữ ấy có nghĩa là “Đéo mẹ cha thằng nào ở trong cái ngôi nhà này”. Chết chưa?! Một kiểu viết vẽ bậy như bây giờ ấy mà! Theo cách suy đoán thì chủ nhà trong bức tranh là một anh trọc phú đáng ghét, người viết chữ là anh học trò mất nết đổ đốn nào đó. Còn anh thợ vẽ thì phải vẽ sao y như chụp ảnh mới ra nông nổi bây giờ. Một vài tờ báo bắt đầu rùm beng. Tờ lịch lập tức bị thu hồi. Anh bị ngoài Cục “giũa” te tua, phạt hơn chục triệu, suy vi cả tháng. Ấy là tháng nào vào ngày mười sáu hoặc mùng hai âm lịch, anh cũng bảo chị kế toán kiêm thủ quỷ mua đủ thứ, có cả heo quay vịt quay bày cúng cô hồn, đốt giấy vàng mã, đốt muối nổ lốp bốp trước cửa cơ quan. Vậy mà chuyện xui rủi cứ tới liên tục.

Tôi cũng có lần gặp xui, suýt đứng tim mất mật. Cứ tưởng đêm hôm đó bị bọn cướp lấy mạng mười mươi rồi. Tòa nhà có bốn tầng cũ kỹ, tường vôi vàng ố tróc lở, bụi bám nhện giăng. Cơ ngơi này ngày trước nghe đâu là của một nhà giàu thời chế độ cũ đi vượt biên bỏ lại, mấy chục năm nay chưa được tu bổ. Văn phòng của cơ quan chỉ chiếm chưa hết lầu 1. Ba tầng còn lại tranh thủ cho người ngoài thuê làm trạm làm kho chứa hàng… Anh nói mày cứ ở lại đây cho tự do thoải mái mà sáng tác, rồi anh giao tôi cái Dream “lùn” của anh nói muốn đi đâu thì đi, cuối tuần về nhà. Tôi cũng biết, với mức lương ba tờ bạc xanh mỗi tháng, lúc đó chưa đủ thuê nửa cái phòng trọ hạng bét ở cái quận trung tâm thành phố này. Đêm đầu tiên anh cứ lo tôi sợ ma, anh nói: “Chẳng có gì đâu, ba con chuột hay phá phách thế thôi!”. Chiều trước khi về anh giao tôi cái chìa khóa cổng. Cửa trước tầng trệt đóng thường xuyên, phía sau lối lên lầu không cửa. Anh nói: “Mày cứ vào phòng tao mà ngủ tự do. Đài đây, nghe truyện đêm khuya nhá. Rượu đây, Tây Tàu đều có nhá. Chè Thái Nguyên tao mang ngoài quê vào nhá!…”. Thiệt tình là mấy đêm đầu tôi hình như thức trắng. Một lúc lại ngồi dậy, rót liền tù tì mấy cốc rượu Tây rất mạnh vẫn không thể chợp mắt được với những tiếng động từ tầng trên, nghe như có người đang làm gì suốt đêm trên đó. Tới đêm thứ tư thứ năm gì đó, tới tầm quá nửa đêm đuối quá tôi thiếp đi. Khoảng 3 giờ tôi giật mình bởi có tiếng người rồi tiếng chân của nhiều người rầm rập lên cầu thang. Chân tay bủn rủn, tôi định hô lên nhưng cổ họng cứng ngắt. Cướp đột nhập rồi, hô lên là chết uổng mạng! Đứng lên không nổi, tôi nín thở vớ cái điện thoại rồi trườn tới cánh cửa vô kho sách tìm chỗ núp. Lách vô một khe hở giữa các thùng sách, thu mình bó gối nghe trống ngực đánh loạn xạ. Tôi định bấm máy gọi cho ai đó kêu cứu, nhưng gọi ai bây giờ, gọi cho anh, cho 113 à? Không được, đang trốn mà lên tiếng là chết ngay lập tức. Tôi tưởng tượng nó xộc vô, dí mũi súng lạnh ngắt hay mũi dao nhọn hoắt xỉa thẳng vào cổ vào ngực mình, mồ hôi cứ tuôn ra như tắm. Chúng nó đi đứng mạnh bạo thế chắc đúng là bọn cướp rồi, trộm thì không thế. Mà lâu nay có vụ cướp nào không có án mạng giết người dã man, trừ những vụ cướp giật lẻ tẻ ngoài đường phố. Nó lên mấy tần trên vơ vét rồi sẽ xuống đây. Nó sẽ lục lạo. Toàn sách là sách chắc nó điên tiết lên, phát hiện người là khử gọn ngay!… Khoảng gần một giờ sau, nghe tiếng nói, tiếng chân bọn nó rầm rập đi xuống, nó đang xuống tầng này! Cái chết đang đến với tôi từng tích tắc!… Hồi nhỏ lớn lên giữa bom đạn, tôi từng hụt chết mấy lần, nhưng cái khủng khiếp thường tới bất ngờ. Còn bây giờ, tim sẽ ngưng mật sẽ vỡ trước khi chết! Chết oan nghiệt, chết không thấy mặt vợ con, chết đau đớn phải đề hai chữ “hưởng dương” trên dòng cáo phó!… Những bước chân ập xuống! Nó không quẹo vào tầng tôi mà lao luôn xuống trệt, ra sân. Chờ dứt tiếng bước chân, tôi ôm ngực nín thở, lồm cồm vừa bò vừa lết qua phòng anh, đứng dậy nhìn qua kính cửa sổ. Ngoài trời cũng lờ mờ sáng. Tôi thấy bốn bóng đen đội mũ sùm sụp, mang ba lô, hình như có nai nịt gì đó bên hông. Một thằng rọi đèn pin loang loáng, rồi nghe tiếng nó khóa cổng xủng xoảng, cả bọn bước ra đường, vù đi. Ồ, cướp mà còn khóa cổng, bọn này bản lĩnh, cao tay. Tôi hoàn hồn thoát chết, vuốt ngực thở phào. Việc đầu tiên là phải a lô báo liền cho anh. Tôi bấm điện thoại bàn đến lần thứ hai anh mới nhấc máy giọng ngái ngủ. Tôi lập cập tường trình sự việc, anh nghe xong liền “Ồ… ô! Không sao đâu. Cái bọn bên Viễn thông FPT đấy. Tao quên bảo với mày, chúng nó thuê trên tầng bốn để đặt trạm gì gì đấy. Bọn nó thường đến làm việc sửa chữa vào giờ ấy. Nó có chìa khóa cổng riêng, cứ để nó vào không việc gì đâu.” Tôi buông máy thở cái phào. Thấy trời sắp sáng, tôi liền nhào lên mấy tầng trên xem thử, hôm giờ cũng chưa bước lên đó lần nào. Đúng là cái phòng máy móc điện đài nằm tầng bốn. Một đống dây nhợ cáp cung to đùng từ cái buồng “tổng đài” chạy thẳng ra ngoài qua cửa chính mở toang. Vậy có nghĩa là trộm cướp thứ thiệt cũng có thể đột nhập tòa nhà qua cửa này dễ ợt như không. Tôi lại tiếp những đêm hồi hộp mất ngủ. Có chập chờn thì cũng gặp toàn cơn mơ kinh khủng.

Cũng may liền mấy ngày sau đó, có người đến hỏi thuê mặt tiền tầng trệt để mở công ty cửa hiệu gì đó với một phần của tầng 2 để làm kho chứa hàng. Hợp đồng vừa ký xong là bên thuê cho bảo vệ chuyên nghiệp của công ty vệ sĩ đến ngay. Con bé xưng giám đốc mặt mũi non choẹt chừng hăm bảy hăm tám, cực kỳ chảnh. Hợp đồng thuê nhà anh ra điều kiện không thời hạn, nó cũng OK luôn! Hợp đồng ghi chỉ cho phép nâng cấp, trang trí không được động thổ (điều anh tối kỵ, tin sái cổ). Vậy mà nó cho thợ đào xây bức vách ngăn dọc, rồi ào ào thiết kế, trang trí sang trọng hoàn toàn, dòm lạ hoắc. Hôm nó tưng bừng khai trương tôi mới giật mình biết đó là phòng trưng bày sản phẩm giày cao gót, bóp đầm hàng hiệu với những thứ trang sức cao cấp dành cho giới chân dài người mẫu nổi tiếng. Bỗng tôi nghĩ thầm một ý ngồ ngộ: “Cơ quan ra đời của sản phẩm tim óc giờ bước vô nhìn toàn giày dép!”. Bóp đầm, giày cao gót nghe đâu giá mỗi đôi từ vài trăm triệu trở lên! Hèn gì toàn mấy tay vệ sĩ cao to kềnh càng như hộ pháp thay ca liên tục trên hai bốn, như tiệm bán hột xoàn kim cương không bằng. Kiểu này tới lúc mấy cái thằng FPT đột nhập như hôm nọ có mà bị ăn đòn, gô cổ như chơi!

Mấy bữa sau nó mời một đội ngũ toàn giới chân dài, người mẫu siêu hạng, tổ chức show biểu diễn thời trang bóp đầm giày cao gót tại chỗ để quay clip quảng cáo. Buổi sáng tôi thường ngồi cà phê cóc đối diện. Phải nói thiệt, từ hồi nào tới giờ ngoài xem màn ảnh ti vi, tôi chưa từng thấy bằng xương bằng thịt những vẻ đẹp hết hồn tới như thế! Từ những con xế hộp nhiều tỷ, những đôi chân dài váy xẻ tới eo bước xuống ẻo lả trước ống kính máy quay, cứ như đang làm phim tiên sa xuống trần.

Một lát sau anh cưỡi mô tô tới như mọi khi, quẹo cái ào vô cổng. Một tay vệ sĩ vừa mới đổi ca nhào ra vịn đầu xe giằng lại. Anh lúng ta lúng túng chưa biết phản ứng thế nào. Tôi liền chạy tới khoác lia lịa “Ôi anh ơi, sếp tôi sếp tôi! Chủ nhà này đấy!”. Tay vệ sĩ liền vuốt vai cầm tay anh xin lỗi. Anh lột mũ bảo hiểm cười cười: “Không sao không sao! Tôi phải xin lỗi ông mới đúng! Đáng lẽ lúc này vào nhà mình tôi phải trình!…”. Anh đảo cặp mắt chữ o miệng chữ ô phía dàn người đẹp rồi đi lên. Tay vệ sĩ nhìn theo hỏi tôi: “Bộ sếp anh nghệ sĩ à? Nhìn râu tóc biết ngay. Bộ dạng thấy “ngầu” vậy mà hiền, đúng là nghệ sĩ!”… Lát sau tôi đi lên lại gặp anh trở xuống, anh nói tao xuống mua gói thuốc, hết thuốc hút rồi. Sáng giờ mày ở dưới này à? Sướng nhể! Hề!…

Mấy bữa sau nữa, tôi bỗng thấy một em chân dài mơn mởn, đẹp sững sờ đi vào cửa hiệu. Cô nàng lựa chọn gì đó một lúc rồi ung dung đi lên lầu. Đúng là dáng điệu uyển chuyển thướt tha của người mẫu chính hiệu. Áo váy mỏng tang thoảng mùi nước hoa chết người. Gương mặt và ánh mắt có vẻ rất tự tin, không cần hỏi han dè dặt, cô nàng thả từng bước lắc mông như đang đi trên sàn diễn đến thẳng phòng anh, gõ cửa bước vào. Quái lạ. Quá khó hiểu?! Cứ như trong phim ấy. Tôi vừa làm việc vừa nhìn đồng hồ, một tiếng, rồi tiếng rưỡi. Vẫn im ỉm. Mà cái phòng của anh thì ôi thôi, đàn ông còn chịu nổi nhưng mấy lần tôi thấy mấy bà mấy cô bước vào là cứ nhào ra ngay, bưng mồm bưng mũi bởi cái mùi thuốc lá với mùi rượu nồng nặc lưu cữu. Cái máy lạnh cũ mèm thì cứ chạy khò khè như lão già lao phổi. Vậy thì động cơ nào khiến một nhan sắc ngọc ngà tầm cỡ ấy bị hút vào. Nếu vì cái mã đẹp trai cao to phong trần thì các nam ca sĩ, nghệ sĩ, đại gia vây quanh nàng có thừa. Tôi cứ ngồi đoán già đoán non, nếu do quen biết tình cờ lúc xuống lên thì anh tán tỉnh vào lúc nào, tôi sẽ biết ngay, không qua mắt tôi được. Tới xế chiều, cô nàng bước ra cũng ung dung như lúc vào. Trên tay có cầm thêm cuốn sách với tập giấy gì đó dày dày. Anh vẫn ngồi riệt chỗ bàn làm việc, không thấy bước ra tiễn chân người đẹp. Vậy là sao?

Mấy hôm sau lại thấy bóng hồng ấy tiếp tục xuất hiện. Cũng đi một mình. Gõ cửa, vô. Mất tiêu mấy tiếng đồng hồ. Không hiểu nổi. Lúc này trên báo chí thường nghe cụm từ “Đường dây chân dài người mẫu” gì đó, nhưng dạng này nếu vào tay mấy đại gia được tính bằng xe hơi nhà lầu, biệt thự. Loại bắn bỏ nghe nói cũng vài ba nghìn đô một chuyến bay tốc hành. Còn anh, bề ngoài trông hào hoa là vậy nhưng gần anh lâu nay tôi biết, anh vẫn sinh hoạt như một anh bộ đội gốc nhà quê ngày nào. Vẫn cơm rau tương cà là thứ anh thích nhất. Mấy lần có khách tới quan hệ rồi kéo cả hai anh em ra nhà hàng, lần nào anh cũng gọi đúng hai món: Cá rô ron chiên giòn với đậu hủ lướt ván, thêm dĩa rau luộc chấm tương là phần anh xong tiệc. Cũng một lần sau có người mời, phòng anh còn lưng chai Chivas, anh bảo tôi xách theo, ra đấy loại này đắt lắm. Đến lúc đưa phiếu tính tiền, thấy có thêm khoản phụ thu hai trăm nghìn do các anh mang rượu nhà vào, nhà hàng phải phục vụ… bốn cái ly con. Đó là “luật” lâu nay rồi, nhưng thấy anh cứ xuôi râu ngơ ngác, nên tôi chắc chắn, anh không thể chơi như kiểu đại gia được.

Rốt cũng vỡ ra, hơn tuần sau, mấy tờ báo nổ đùng về một người mẫu vừa cho ra mắt cuốn tiểu thuyết “Dây Xiềng”, viết về tình dục quá trớn. Tiếp theo là cuộc rượt đuổi chí mạng với búa rìu và gạch đá đối với nội dung cuốn… dâm thư. Có cả gạch đá đúng nghĩa đen của cư dân mạng. Lúc đó chưa có phây búc, toàn chơi blog. Có thằng không biết có từng đọc trang sách nào không, hùa vô bình luận trên một blog: “Mấy ông mấy bà nào cho phép in cuốn sách này ở đâu, tìm mà liệng cho nó mấy cục đá bể đầu chết mẹ!”

Tôi có cảm giác ngôi nhà bốn tầng đang xuống cấp như chao đảo. Anh đột ngột đóng blog. Mấy ngày này đúng là anh đến năm giờ sáng như một bóng ma và ở riệt trong phòng, cắt đứt mọi liên lạc. Tới gần chín giờ tối thấy bóng anh đội sẵn mũ bảo hiểm loại trùm gáy trùm ót từ trong phòng bước ra, phóng lên xe cái vù mất hút. Tôi cũng chết khiếp, sợ run hơn vụ “bọn cướp” hôm nọ bởi cuộc tấn công sẽ bất ngờ nhưng đã có báo trước. Mỗi ngày tôi nhận hơn chục cuộc gọi hỏi, sếp ông sao rồi, máy lão không gọi được. Tôi nói chắc đang đi Tây Nguyên, trên đó sóng không phủ. Anh nhà thơ kiêm luật sư, bạn chí cốt của anh, chiều nào cũng tới rủ đi nhậu hà rầm, nay gọi hỏi, tình hình căng lắm phải không? Tôi nói căng thẳng vô cùng. Hình như đang bị bao vây phong tỏa, bất xuất bất nhập, mấy ngày này nhờ bà con khu phố tiếp tế bánh mì nước khoáng. Tình hình rất nguy hiểm, anh khoan hãy tới nhe. Ô kê mình không dám tới đâu.

Cái Shop của “Công ty giày cao gót” đang tưng bừng tuần trước nay cũng tự nhiên vắng hoe. Bảo vệ còn một, nhân viên bán hàng loe ngoe một hai đứa. Thấy con bé giám đốc từ xe con bước xuống, sắc mặt bợt bạt. Tôi bước ra ngồi chỗ bà bán bột chiên trước cổng, hai ba bà hàng xóm đang dòm vô cửa hiệu xầm xì: “Nó vừa bị sụp vụ làm ăn gì đó lớn lắm, kiểu này chắc phá sản. Thằng chồng nó nghe nói buôn bán hàng quốc cấm mới bị công an hốt rồi. Tui nói có sai không, cái nhà này linh lắm. Dzậy mà nó dám đập dám đào không thèm cúng kiến thổ thần đất đai. Thấy chưa.” Bà kia nói mắt lấm lét: “Chủ cũ nhà này vượt biên, có về xin ghé thăm mấy lần, không biết có thuê ếm bùa ếm ngải chi không. Hổm nay nghe hết chuyện này tới chuyện kia.”

Vậy là cái rủi ro xui xẻo của anh cũng do chính cái “Công ty giày cao gót” mà ra. Do cái cô người mẫu đổ đốn ra viết sách bậy bạ. Rồi nhân tiện đi sắm giày cao gót gặp cái biển của “nhà cấp phép” in sách, mới ra tội vạ!… Lúc nghe mấy bà hàng xóm xầm xì, tôi giật mình liên tưởng tới cái kho chứa hàng nó thuê trên tầng hai. Trong đó chứa hàng gì? Có phải giày dép hay cái thứ chết người nào khác? Tại sao nó không thuê nhà tư nhân ngoài mặt tiền mà phải thuê trong ngõ, cơ sở của một tổ chức? Tại sao nó phải thuê vệ sĩ chuyên nghiệp trên hai bốn? Tại sao tay vệ sĩ có hành động hơi quá trớn với anh?… Càng suy nghĩ tôi càng lo ngại cho anh.

***

Một thời gian sau anh lật đật làm thủ tục xin về hưu, thấy vậy tôi cũng xin anh nghỉ việc luôn. Anh nói mày về trước đi, rồi tao cũng về gần mày đấy. Hóa ra anh có người anh em bạn rể ở cùng xã với tôi, cách chừng vài cây số. Ba bốn năm trước, anh nhờ người em mua giúp lô đất để dành chuẩn bị về vườn. Anh có mua sẵn một ngôi nhà gỗ cũ loại nhỏ từ ngoài Bình Thuận đưa về xếp để đó. Với ý tưởng là sẽ dựng lên cho thật giống ngôi nhà, mảnh vườn ngoài quê nơi anh sinh ra, để bắt đầu một cuộc sống tuổi xế chiều… Buổi sáng nọ anh a lô cho tôi nói hôm nay tao xuống vườn, mày rỗi chạy xuống chơi.

Thêm một lần nữa tôi thấy anh mặc áo cựu binh với quần bò cũ, đội mũ cối tay cầm cái xẻng đang đứng trên một đống đất đỏ cao ngất vừa mới đổ nâng nền. Tôi bật kêu: “Giống lính pháo cao xạ miền Đông nhệ.”. Anh cười hô hô, nói ở nhà mày có cuốc không? Có cây rựa cây búa gì không? Chạy về lấy xuống tao mượn. Mẹ, đụng thứ gì cũng thiếu.

Hôm sau tôi mang xuống cho anh mấy con gà bằng nắm tay để anh làm giống nuôi đỡ buồn. Mấy bữa sau anh đọc cho tôi mấy câu thơ anh vừa làm: Anh đang chơi với một bầy gà/ Bới nhặt mà ăn rỉa nhau mà sống sót/ Cất tiếng gáy tự mình thảng thốt/ Ngẩn ngơ nhìn hoa lá biết gì đâu… Rồi anh nói lúc này tao đi chơi thôi. Không viết nữa. Hôm gặp anh trên phây, đứng đâu đó bên một bờ sông với câu Chiều chiều lại nhớ chiều chiều… Vẫn râu tóc ấy, phong trần và kiêu bạc. Mấy người còm Nhớ nồi cơm nguội… Rồi Nhớ về quê mẹ… Tôi còm Nhớ người quân tử khăn rằn vắt vai…

Tranh của họa sĩ Nguyễn Khôi

Anh Bảy Văn Nghệ

 

Bảy Dũng có biệt danh Bảy Văn Nghệ. Anh mê tân nhạc và có giọng hát mỗi lần cất lên làm người nghe cứ nổi gai ốc. Nay ngoài sáu chục nhưng chất giọng anh vẫn trầm ấm, truyền cảm lạ lùng. Thời sau bảy lăm thất nghiệp, anh từng đạp xe lôi chở khách với bốc vác lúa mướn kiếm sống. Lúc vắng khách anh thường đứng vỗ thùng xe hát say sưa giữa ngả ba đường. Cả cỗ xe lôi của anh đủ tạo ra âm thanh chát chát bùm của một dàn trống jazz. Nhìn gương mặt điển trai, mái tóc chấm vai bồng bềnh nghệ sĩ, người qua đường mới nhìn cứ tưởng ca sĩ gạo cội lừng danh nào hết thời về xứ này làm anh cu-li. Sau mỗi chuyến gồng lưng đạp xe, vác lúa đổ mồ hôi, anh phanh áo để lộ mấy chữ Đời trai binh lửa xăm trước ngực còn nét mờ nét tỏ. Đồng nghiệp vác lúa đọc “Đời trai rinh lúa”! Dân bến xe lôi ưa nhậu nhẹt đọc “Đòi chai bình nửa”! Lúc sắp hết một chai nửa lít, cả bọn nằng nặc đòi anh kể chuyện “ Đời binh lửa” nghe chơi!…

Bảy Dũng kể, hồi đó anh thuộc loại chống quân dịch ngoan cố. Tụi cảnh sát, quân cảnh bắt anh cũng như bắt cóc bỏ dĩa. Xứ này bước ba bước là sông với rạch. Đêm anh chủ động ngủ luôn dưới ghe, rục rịch là nhảy sông liền. Ban ngày thấy bóng tụi nó là anh phóng cái đùng, lặn như tôm, chui như chạch vô bụi lùm nổi lên nghe tiếng tụi nó trên bờ đứng chửi thề “Má nó, bắt được thằng này là tao cho nó đi Vùng I ngay lập tức!”. Ngày đó, “đi Vùng I” là mấy tiếng ám ảnh với lính tráng Vùng 4, nghe tới là thằng nào thằng nấy lạnh cẳng xanh mặt!… Đêm đó đang ngủ trong ghe nghe một loạt AR 15 nổ sát rạt hai bên lườn ghe, hai chiếc tắc ráng vỏ vọt áp sát hai bên, năm sáu nòng súng chĩa vô. Bảy Dũng bị túm cổ!… Tụi nó tìm cách tống anh ta vô trung đoàn 2, sư đoàn 3 bộ binh. Đẩy thẳng ra vùng 1 chiến thuật, chảo lửa Quảng Trị!…

Ngày cuối tháng ba năm bảy hai, trung đoàn 2 của Bảy Dũng với trung đoàn 56 đang hoán chuyển vùng đóng quân, bất ngờ bão lửa của Việt Cộng bên kia Bến Hải trút qua, sư đoàn 3 địa đầu giới tuyến lãnh đủ, te tua tan tác! Tướng tá tới lính lác cứ vắt giò lên cần cổ, mạnh thằng nào nấy chạy. Bảy Dũng với thằng Sánh cùng tiểu đội, cũng dân Định Tường Long An gì đó, hai thằng vừa chạy bộ gặp xe khách dân sự thì đu lên, được khúc nào hay khúc nấy. Vô tới Huế, hai thằng đang lang bang xấc bấc bỗng gặp một toán tụi Lữ đoàn Nhảy Dù trong Nam vừa mới đổ quân ra ngồi trên một chiếc jeep không mui nhào xuống chỉ ngay mặt: “Đú má tụi mầy sư đoàn 3 “chạy làng” hả mầy?…”. Thằng Sánh kịp bỏ chạy, tụi nó đè cổ Bảy Dũng xuống lột súng rồi xúm nhau nện tới tấp. “Đú má lính tráng cái con c. ! Chưa đánh đã chạy! Chạy làng nè, chạy làng nè!…”. Từng cú đá bằng bốt-đờ-sô vô bụng, từng bá súng thẳng tay dộng vô lưng muốn gãy xương sống.

Bảy Dũng ngửa cổ ực cạn trăm phần trăm ly xây chừng rồi đấm ngực kể tiếp: “Mẹ cha nó, cùng mặc áo lính ông Thiệu, cùng đồng hương nói giọng Nam với nhau mà tụi nó đấm tao còn hơn đấm kẻ thù! Đá tao như đá trái banh! Một thằng kêu: “Đú má lột áo nó quăng đi, cho khỏi xấu hổ, khỏi nhục lây Quân lực Việt Nam Cộng Hòa!” Tụi nó lột áo tao thấy mấy chữ Đời trai binh lửa xăm trên ngực, nó đấm còn bạo hơn nữa!. “Binh lửa nè! Binh lửa há mầy! Đồ quân chuột nhắt, chưa cháy nhà đã chạy! Muốn tụi tao moi lá gan mầy dồn trấu vô không?! Hả?!”… Tao quỳ không nổi mà chắp tay lạy tụi nó rồi đổ gục xuống, máu mũi máu miệng ướt cả tấm thẻ bài đang đeo trên ngực. Tụi nó bỏ đi. Một hồi tỉnh lại, thấy cái áo có huy hiệu sư đoàn 3 với cái tên DUNGZ (Dũng) còn quăng đó, tao lột lẹ cái thẻ bài nhét túi quần. Cũng may tụi nó chưa nện tao cái tội tên Dũng oai phong, ngon lành quá mà chưa nổ súng đã “chạy làng”. Tao rờ túi quần vẫn còn cả tháng lương mới lãnh. Bị nện một trận hội đồng gần chết những cũng còn may. Không có vố đó chắc thằng bộ binh sư đoàn 3 Trương Minh Dũng dân miền Tây này bỏ xác ngoài Bến Hải, hồn thì lên ngồi bàn thờ lâu rồi!…

Thằng Sánh vừa trốn chui đâu đó hớt hãi chạy tới xốc tao lên, dìu xuống một bến nước của dòng sông Hương xanh biếc mà lâu nay chỉ nghe qua sách vở. Rửa mặt mũi máu me rồi ực cả bi-đông nước sông mát lịm. Một hồi tỉnh táo, hai thằng tiếp tục nhảy xe khách quá giang vô Đà Nẵng. Sau khi rã hàng ngũ, Bộ Tư lệnh rút về đóng trong Hòa Khánh, Quảng Nam để bổ sung quân và tái trang bị. Tới đất Quảng, cảm thấy trong người mệt rã rời bởi trận đòn vừa thấm. Hai thằng tao cố tình lang thang kiếm đường đào ngũ! Đi bộ vô một xứ quê rồi tấp vô cái lều bà cụ bán nước chè xanh ngồi thở muốn đứt hơi. Vừa rót nước ra hai cái bát, bà cụ hỏi ngay: “Má anh đáng ở đâu?…”. Cả hai thằng nhìn nhau ngẩn tò te, lắc đầu ú ớ. Tao nói, dạ tụi cháu từ Quảng Trị mới dzô, đâu biết nhà má anh Đáng nào đâu?!. Bà cụ lặp lại rõ ràng từng tiếng: “Tui hủa, má anh đáng ở đâu? Hỉ?!”. Liền lúc đó có đứa cháu gái bước ra, nó nói: “Mệ con hủa má chú “đáng quân” ở đâu?!”. À, thì ra bà cụ hỏi “Mấy anh đóng ở đâu?”… Cũng là tiếng Việt, giọng Nam với nhau mà chịu, không “thông dịch” được!.

Đêm đó xin tá túc nhà một bác nông dân, kể sự tình rồi được bác đãi một nồi cháo ếch, tỉnh hẳn cả người. Mờ trời bác vác cuốc dẫn hai thằng quay trở ra trên con đường đất cặp mé ruộng. Bất ngờ gặp một toán lính Mỹ đang chuẩn bị tập kích, hai nòng đại liên 30 đang chĩa ra một mục tiêu xa xa ngoài ruộng. Một thằng Mỹ cầm ống nhòm đang xí lô xí la, gặp hai thằng lính tao đi tới, thằng Mỹ vẫy vẫy rồi đưa cái ống nhòm kêu tao nhìn. Trong ống nhòm hiện lên hai người đội mũ lá đang lúi húi bên một cái giàn, hai bên hai bánh xe màu đen hình nan quạt, giữa là một cái khối dài dài dựng nghiêng bốn lăm độ trên bờ ruộng đang chĩa về hướng tụi Mỹ, trên thân nó có cái gì đó như kiểu xích xe tăng. Trong đầu tao và có lẽ tụi Mỹ cũng nghĩ, một loại pháo tối tân nào đó của Nga Sô, Trung Cộng mới viện trợ cho Việt Cộng. Tao định phất tay cho tụi Mỹ khai hỏa loạt đại liên nhưng vẫn còn  ngờ ngợ, liền giơ ống nhòm chỉ tay nói với ông già, bác nhìn giúp cháu coi ai làm cái gì ngoài đó. Ông già giơ tay che trán nheo mắt: “Chu choa, cái xa độp nước! Ngừi ta độp nước lên ruộng má ông ơi!!”. Tao liền xua tay với tụi Mỹ “Nô Vi-xi, nô Vi-xi! Nông dân đạp nước lên ruộng!”… Ông già chống cuốc đứng kể, hôm tụi Mỹ mới đổ bộ càn vô làng lúc chập choạng, gặp ba bốn bóng người đang lúi húi bên hai cái ống đen sì như hai nòng đại pháo, lửa ra phụt phụt. Dzậy là tụi nó lập tức “quạt” ngay mấy loạt AR 16. Ba bốn anh thợ rèn đang thụt ống bễ chết tức tửi, oan mạng!… Còn cái cỗ xe guồng đạp nước lên ruộng làm bằng gỗ đen thui, hình thù như cái giàn pháo của dân miền Trung, chính tao dân miền Tây làm ruộng ba đời cũng không tưởng ra nổi, nói chi tụi Mỹ. Trong Nam xứ mình ruộng bát ngát cò bay, đâu có cái gì na ná giống dzậy đâu?! Cũng may, suýt nữa là tao mắc tội đồng lõa bắn giết thường dân, ân hận cả đời!…”

Sau trận thất thủ Quảng Trị Bảy Dũng dông về đào ngũ luôn, rồi đâm đơn vô binh chủng Tâm lý chiến – lính văn nghệ! Y mê ca hát đờn địch, mê thứ lính này từ hồi đi học. Lúc đó trường trung học của y kết nghĩa với đơn vị Tâm lý chiến của Chi khu. Mỗi dịp trường có lễ lộc, đội “lính tài tử” đi cả chiếc Dodge quân đội về trường, chở nguyên dàn trống jazz, dàn organ, mấy cây đờn điện bóng loáng. Tay chân y cứ cà giựt cà giựt, sướng đê mê. “Ui chao, lính không ôm cây súng mà ôm cây đờn tằng tắng tăng. Lính mà múa hai cây dùi vung lên từng loạt trống chát chát bụp bụp xèng chớ không bóp cò tành tành tành! Lính mà cầm mi cờ rô vút lên: “Mẹ Việt Nam mắt ngời sáng quắc/nghe đâu đây tiếng vọng hòa bình/lệ mừng nhòa đôi mắt long lanh/nghe tin con vẫn còn ngày xanh…”. Mê nhứt là đôi song ca nam Hoàng Thân – Tấn Sĩ, đúng là ca sĩ thứ thiệt chớ không phải kiểu “lính hát lính nghe” nữa! Cả hai đeo một bông mai – thiếu úy, mái tóc bồng bềnh đúng mốt nghệ sĩ vừa đàn vừa hát “Áo anh sứt chỉ đường tà” nhạc Phạm Duy phổ thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Một giọng thanh một giọng trầm hát bè: “Nàng có ba người anh…”. Trời ơi nó hay không đường nào tả, hay lạnh lùng tê tái! Tới điệp khúc lại chuyển qua nhịp hành khúc “Ngày hợp hôn/tôi mặc đồ hành quân/bùn đồng quê/bết đôi giày chiến sĩ…”. Rồi trở lại lắng dịu “… Tôi về/không gặp nàng/má ngồi bên mộ vàng/chiếc bình hoa ngày cưới/đã thành chiếc bình hương….”. Thầy trò cả trường lặng đi! Y nhớ cô Kim Chi dạy Văn lớp y đã ôm mặt vô vạt áo dài, rưng rức! Thầy Khoa dạy Hội họa, thầy Mai dạy Sử Địa thì vừa vỗ tay vừa rút khăn mùi soa lau cặp mắt đỏ hoe!”

Rồi cũng tới cái ngày y toại nguyện ước mơ: Ngày được lệnh gọi nhập ngũ. Nghe y đăng vô Tâm lý chiến, tụi thằng Phúc, thằng Long… bạn y sắp sửa đi Thủy quân lục chiến nó chửi “Mẹ mầy ngu! Sao không vô Hắc báo, Biệt động quân, rồi đi tìm cái tụi Dù uýnh mầy, nện lại một trận cho nó hộc xì dầu mà trả thù! Đi lính là phải vô thứ dữ, khỏi sợ thằng nào ăn hiếp, biết chưa?!”

Bảy Dũng được thẩm vấn, có chứng chỉ học xong lớp Đệ ngũ, được đưa vô Trung tâm huấn luyện ba tháng rồi nhận quân số, ra Tiểu đoàn 40 (phục vụ quân khu 4). Vô đơn vị được sát hạch có khả năng ca hát, y được chọn đi học khóa nghiệp vụ của Nha Chiến tranh tâm lý tại đường Lê Thánh Tôn Sài Gòn. Vô đó gặp toàn lính văn nghệ “tầm cỡ” của Tiểu đoàn 50 (Phục vụ Biệt khu Thủ đô) với những gương mặt nghệ sĩ “thứ thiệt” của Biệt đoàn Văn nghệ Trung ương. Đúng là các nghệ sĩ mặc áo lính, đứng huấn luyện các lớp học làm báo, phát thanh truyền hình, lớp học nhạc công… Rồi dân viết văn, làm thơ làm nhạc đủ cả. Y chọn môn thanh nhạc và đánh trống jazz. Lần đầu tiên được ngồi lên bộ trống jazz mới cáu của Nhựt mà gõ rum-ba, cha cha cha… “Trời đất ơi nó sướng rêm mình!”… Hồi nhỏ mê trống jazz, y lò mò đi kiếm ruột áo giáp của lính, bịt vô mấy cái thùng gánh nước làm được bộ trống, gắn luôn lên chạng ba cây sung sau hè uýnh chát bùm bùm tối ngày. Y lấy cái nắp nồi nấu bánh tét của má y làm cái sam-pan, uýnh tới móp méo bả mới phát hiện chửi cho một trận như tát nước!…

Chừng nửa tháng sau, má y dưới quê đánh điện tín lên báo tin cậu Hai, cậu ruột y ngoài Biên Hòa đang đau nặng, má không thể đi được, con tranh thủ xin phép ra thăm Cậu. Quê ngoại y ngoài đó, ngoại y chỉ có hai người con là má với cậu Hai. Mấy năm súng đạn loạn lạc, chạy tản cư mỗi người mỗi ngả. Má lên Sài Gòn làm công nhân rồi gặp ba y, dân Lục tỉnh lên thành phố mưu sinh… Hồi nhỏ ba  có đưa y ra thăm cậu một lần…

Chiều hôm đó Bảy Dũng cầm cái giấy “Sự vụ lệnh” nhảy xe đò đi Đồng Nai. Đóng bộ quân phục ủi hồ, mang đôi bốt-đờ-sô láng bóng, oai oách như anh sĩ quan. Nhưng nhìn lại thấy mình thằng “lính chay” binh nhì chưa cấp bậc gì, trước lúc lên xe y tạt vô chợ trời bán quân trang quân dụng mua hai cái “bông mai” bằng đồng gắn hai bên ve áo – thiếu úy!

Nhà cậu ở dưới một thung lũng gần Dốc Cổ Ngựa, đường đi Vũng Tàu. Y cứ nhớ cái chóp đồi có tượng đầu ông Phật mà nhắm hướng. Tìm được nhà Cậu trời sắp tối, thấy thằng lính sĩ quan mang huy hiệu Tâm lý chiến, cả nhà hoảng hồn. Cậu đang bệnh nằm trên cái giường tre, mặt mày xanh dờn. Nghe nói cậu là dân hoạt động nằm vùng, vô tù ra khám như cơm bữa… Tới lúc y xưng con là thằng Dũng, má con là bà Ba Bùng, cậu cầm tay y run rẩy, nước mắt trào ra… Khuya đó nghe tiếng chó sủa, mợ Hai ra mở cửa sau, nói xù xì với ai đó, rồi mấy bóng người cả đàn ông đàn bà mang AK, giắt lựu đạn lách cửa bước vô. Hai người đàn bà nhào tới ôm siết y “Trời ơi em tui, thằng Dũng con cô Ba! Chị đây, chị Tư chị Sáu đây!… Anh Tư anh Sáu đây!… May mà mợ Hai báo trước, không thì chắc chị em bắn nhau. Em đi lính hồi nào?!…”. Chị khoác tay hai anh ra ngoài canh chừng… Nhớ lần nghỉ hè ra thăm quê ngoại hồi đó y còn nhỏ xíu. Hai chị còn thả bò trên đồi, chiều nào cũng dắt thằng Cu Dũng theo, cho cỡi bò rồi hai chị chạy đi hái cò ke, ổi rừng cho thằng em ăn. Nhớ vui nhứt là hai chị rượt bắt được con sóc rừng, bỏ vô lồng cho nó mang về quê chơi. Tụi con nít cả xóm xúm tới coi chật nhà!… Chị em ôm nhau chuyện trò rù rì “Ui chao! Thiếu úy Tâm lý chí à em!… Thôi, đào ngũ đi, ra đây theo anh chị vô rừng, tao nướng thịt thỏ thịt chồn cho mà ăn, sướng lắm!…”. Tới gần sáng, hai chị ôm y hun miết… Chị Tư ngồi suy nghĩ một hồi “À, em còn phép tới bao giờ?”. “Dạ, tới chiều mai!”. “Vậy chị nhờ em một việc này… Trưa nay, có người dắt em lên chỗ dưới chân cầu sông Buông, rồi có người giao cho em một đứa nhỏ ba tháng tuổi, nó là con của chị. Em ẵm về đây cho cậu mợ. Có mặt bà con xóm giềng, em cứ nói: Con đi lính lỡ quan hệ với một cô gái bán bar gì đó, nay cổ đem giao con, giờ con nhờ cậu mợ nuôi giúp một thời gian rồi tính sau, đem về quê là ba má con rầy lắm!… Giúp chị nghe em! Thôi anh chị đi đây!”. “Dạ! Em nghe chị!…”

Mấy anh chị vừa ra khỏi nhà chừng một lát bỗng có tiếng chó sủa, tiếng giày thình thịch ngoài sân cùng tiếng quát: “Yêu cầu các ông đứng im! Quăng tất cả vũ khí ra sân, các ông đã bị bao vây!…”. Y đứng dậy nhìn cửa sổ thấy một toán địa phương quân với cảnh sát dã chiến rằn ri đang lên đạn rốp rốp. Y bước ra dập chân chào cái rụp “Các ông tìm ai? Tôi – thiếu úy Trương Minh Dũng, tiểu đoàn 40 thuộc Nha Tâm lý chiến – Trên đường công tác xe hư nặng dọc đường, tá túc ở đây từ đêm qua đến giờ. Các ông muốn tìm ai nữa, cứ việc lục soát!”. Y móc cái giấy “Sự vụ lệnh” con dấu đỏ chót nhá ra, tay thượng sĩ Cảnh sát dã chiến mặt mày sượng ngắt, đút cây col vô vỏ bước tới bắt tay y “Xin lỗi thiếu úy, chúng tôi vì nhiệm vụ! Khu vực này đang “mất an ninh” hoàn toàn. Thiếu úy cần bảo trọng tính mạng! Xin phép, chào thiếu úy!”…

Tới mười giờ trưa, “thiếu úy” Dũng đi theo một người xưng dì Sáu tới chân cầu. Chiếc xuồng đậu sẵn với một người ẵm đứa nhỏ đang nựng nịu “Con gái về với ba mày được uống sữa bò sướng nha!… Nó dễ lắm cậu, ai ẵm cũng được, không khóc la chi cả!”. Lúc ẵm nó đi bộ ngang Ủy ban hành chánh xã, y bỗng nãy ra sáng kiến rồi quẹo vô, thẳng tới phòng hộ tịch, kể hoàn cảnh rồi xin làm giấy khai sanh cho đứa nhỏ. Tay Cuộc trưởng cảnh sát đứng bật dậy chào cái rụp, rồi nhìn nhếch bộ râu cá trê cười cười: “Chà, thiếu úy đẹp trai quá! Lính đàn hay hát giỏi như thiếu úy chắc đàn bà có gái theo nườm nượp! Con rơi con rớt chắc đếm không hết! Đủ “tiểu đội” chưa? Gom về đây tụi tui làm khai sinh cho một lượt luôn!…”. Y đặt tên cho nó Trương Thị Lành, tên cha Trương Minh Dũng, nghề nghiệp: Quân nhân!… Cậu mợ y mừng run ẵm đứa cháu ngoại, cầm cái giấy khai sanh đóng dấu chưa ráo mực: “Ui chao con giỏi quá! Dzậy là an tâm rồi!… Con của anh sĩ quan Cộng hòa có khai sanh hẳn hoi, không đứa nào dám khảo tra hạch hỏi chi nữa!”… Mấy ngày sau, nghe tin anh Tư chồng chị, cha đứa nhỏ, anh nhớ con quá, tìm về thăm bị lính Địa phương quân phục kích bắn chết ngay gần nhà!…

“Tới sau giải phóng, tao cưới vợ. Chị Tư dẫn con bé Lành ba tuổi về dự đám cưới. Lúc đang đứng với cô dâu, chị dẫn con gái tới nói “Con thưa cậu Bảy đi con, Cậu cũng là cha của con trong giấy khai sanh đó, tên con cũng do cậu đặt!…”. Vợ tao đứng chớp chớp ánh mắt mấy giây, chẳng hiểu chuyện gì!… Để tao kể duyên cớ gặp vơ tao bây giờ…

Năm đó xong khóa học tao về lại đơn vị đóng ở Cần Thơ. Hôm cả tốp xuống bo bo đi phục vụ tụi bộ binh Sư đoàn 9 ở mặt trận Vị Thanh, Chương Thiện, lúc chạy vô con kinh dài ngút ngàn, cả tốp đang đồng ca “Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn/đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang…. Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại/xương da thịt này ông cha ta miệt mài…” Bỗng sóng bo bo đánh dạt mấy đám lục bình hai bên, một cô gái mặc bà ba đang chèo xuồng lảo đảo, xuồng lật nhào! Bo bo liền giảm tốc, cả tốp lính quýnh quáng. Nhanh như chớp tao phóng cái đùng như mọi lần bị rượt bắt quân dịch, định bơi tới cứu cô gái nhưng tới nơi cổ đã đứng trên bờ, không ngờ cổ bơi giỏi quá! Cả tốp lính tranh nhau ríu ran xin lỗi người đẹp sông nước. Một thân hình trắng nõn trong bộ bà ba ướt sũng đang đứng cười ngặt nghẽo “Em bắt đền mấy anh nè!…”. “Ờ, mai mốt lãnh lương anh mua đền em mười cái áo bà ba đủ màu hết nha!…”. Tao vừa kéo xuồng xao nước mắt không rời nàng tiên ướt đẫm. “Ha ha, tụi nó đồ đểu cả! Anh mới là người thiệt tình thương em nè… đúng hông?! Thôi tụi anh chia tay đây!… À, mà từ đây tới chợ Kinh Mương còn bao xa nữa em? Tụi anh đi tới đó. À mà em tên gì?…”. “Gần tới rồi anh, đi bộ cũng chừng mươi phút à, nhà em cũng gần chợ í! Em tên Út Thắm”… “Dzậy anh đi xuồng theo em luôn nha, anh bơi xuồng giỏi lắm!…”. “Thôi, kỳ lắm, má em thấy bả rầy chết luôn á!”. Tao liền phất tay nháy nháy mắt cho bo bo tụi nó chạy trước “Gần tới địa điểm rồi, tao đi xuồng, 5 phút nữa tới!”  Bo bo nổ máy, cả tốp lại nhao lên tranh nhau “Mai mốt hòa bình anh về cưới em nha, anh đẹp trai hơn thằng đó! Ha ha!!… Mẹ, cái thằng mê gái, kỳ nầy chắc dính luôn rồi… mà công nhận con nhỏ đẹp thiệt, quá đẹp há tụi bây! Mẹ, cưới một cái rồi đi trận chết cũng sướng cái đời!!… ”

Nàng ngồi trên triền đê cỏ xanh rì, rũ rũ mái tóc ướt xõa xuống lưng áo cũng ướt ròng, bày chiếc cổ non tơ mịn ngần rồi e ấp vén ống quần sa-tanh đen mướt gần tới gối, vắt vặn cho ráo nước, để lộ đôi chân tròn lẳn trắng tươi như hai củ khoai mì vừa bóc… Tao kéo xuồng vô sát bờ rồi níu đám cỏ leo lên, nàng nói: “Ui, giày anh dính sình dơ hết rồi kìa!”. “Có sao đâu “lính mà em!”. Trong ngực thằng lính văn nghệ lại vang lên Ngày hợp hôn/tôi mặc đồ hành quân/bùn đồng quê/bết đôi giày chiến sĩ… Tao tháo đôi giày òng ọc nước, ngồi xuống bờ cỏ, cách nàng chưa tới cái với tay. Gió chiều lồng lộng thổi dạt đám lục bình tím rịm dưới kinh. Sau lưng là con đê vắng. Cánh đồng vừa trổ đòng đòng, và những ngọn lúa như đang hát Trên đồng lúa vàng/một bầy sơn ca/… Ta yêu nhau trên đồng lúa vàng/ta quen nhau ngày lúa còn xanh/ta quen nhau khi bầy én liệng/đôi cò nào hạ cánh vu vơ… Nàng ngồi áp đôi má vào gối, bàn tay nõn nà đeo chiếc vòng cẩm thạch bứt bứt mấy ngọn cỏ: “… Mấy anh… đi lính mà đòi cưới vợ… gồi bỏ ngừi ta ở nhà mình ên à?… “Anh là lính văn nghệ mà, chỉ đi hát hò đờn địch loanh quanh, đâu phải lính tác chiến mà đi trận xa…”.

Từ đàng xa có người đánh xe bò leng keng đi tới, lại có hai chiếc xuồng đang chèo ngang. Nàng lấy hai tay che mặt khúc khích: “Ngồi dzầy lỡ gặp người quen về méc chắc tía má em ra rượt chạy không kịp!… À, mà tía em hay kể chuyện nầy, vui mà hay lắm, em kể lại anh nghe nha!… Mà kỳ hông ta?… Thôi em kể, chuyện như dzầy: Hồi đó có cái đám cưới đưa dâu qua sông, ra giữa sông xui rủi đò chìm. Mạnh ai nấy bơi. Cô dâu áo cưới lùng bùng bơi không được, chới với sắp đuối. Anh “rể phụ” nhào tới (giống như anh lúc nãy dzậy đó, hi hi!) lẹ như tép lặn tép lội, cắp nách cô dâu, bơi một tay vô bờ. Cũng may là ai cũng biết bơi nên không sao cả, chỉ có cô dâu, có phước gặp anh rể phụ lẹ làng… Lên tới bờ thấy chú rể chính đang đứng trố mắt dòm như thằng ngáo!… Lễ rước dâu phải dời lại ngày mai. Đêm đó cô dâu thức trắng, suy nghĩ, trằn trọc… Sáng ngày mai họ đàng trai vừa tới chưa kịp làm lễ, cô dâu chạy ra ôm chầm ngay anh rể phụ rồi lớn tiếng tuyên bố: “Anh nầy mới là chồng tui, là người cứu mạng sống cho tui!!…”. Rồi cổ cởi vàng vòng quăng ngay mặt chú rể, mắng te tát: “Anh bước ra khỏi nhà tui! Bản mặt của anh về mà đi cưới con ngỗng con vịt dưới mương kìa, nó lội giỏi. Còn tui coi như chết chìm hôm qua rồi, còn đâu mà anh đón với rước!!…”. Cả hai họ lặng phắc một hồi, rồi bên này bên kia cãi vả, lý sự thiếu đường muốn uýnh lộn. May sao lúc đó có ông làm việc ngoài xã, làm bên hôn ước hôn thú chi đó, có bà con với nhà gái, cũng vừa tới ăn đám cưới. Ổng phân giải tình lý một hồi rồi đứng ra tuyên bố giữa hai bên, chấp nhận lựa chọn của cô dâu là đúng hoàn toàn… Ông chủ hôn nhà trai kéo tay chú rể với cả họ thất thỉu kéo về, không thèm lễ kiếu lễ từ chi nữa… Hi hi, anh thấy chuyện hay hông?”. Tao dang hai tay suýt nữa ôm lấy tấm lưng tròn lẳn, ướt rượt mà nâng bổng lên! Thay vì trả lời nàng, tao hát luôn Trên đồng lúa vàng/một chiều yêu em/trên đồng lúa vàng/là mùi quê hương/là mùi yêu thương…. “Ui, anh hát hay như Chế Linh á, em mê giọng Chế Linh từ nhỏ tới giờ!”… “Anh là Chế “lính” nè, giờ mê Chế Lính nha!…”

***

Trưa ba mươi tháng tư bảy lăm. Đã có lệnh buông súng nhưng lính văn nghệ tụi y cứ nấn ná không muốn chia tay, cứ xúm nhau ngồi nghe đài phát thanh Sài Gòn. Bỗng nghe giọng nhạc sĩ họ Trịnh nói giọng Huế, kêu gọi anh em văn nghệ sĩ… Rồi ổng hát “Rừng núi dang tay….”. Lúc đó tại đài không có cây đàn, ổng hát “chay”!… Cao hứng, thằng Lâm liền nhảy tới chộp cây ghi-ta. Y phóc lên dàn trống, rầm rập hòa lên “Mặt đất bao la/anh em ta về…”

Cởi áo lính, Bảy Dũng ra chợ thị xã sắm bộ sơ-vin tới đăng ký trình diện Ban quân quản. Xong anh ta hối hả nhảy xuống tàu đò về quê tìm nàng và “trình diện” luôn với ông già vợ tương lai. Ít lâu sau đó là cưới luôn.

 

***

Về quê làm anh đạp xe lôi, vác lúa mướn ở Kho lương thực nhưng đôi lúc cái máu văn nghệ cứ sôi sùng sục trong người Bảy Dũng. Chiều hôm đó, có bốn năm anh em của Đội Văn nghệ quần chúng xã tới kêu xe y chở lên Nhà Văn hóa huyện dự hội diễn. Lúc chưa tới giờ mở màn, nhạc dạo trong băng cát-xét đang rộn ràng bài “Tiếng chày trên Sóc Bom Bo”. Thấy dàn trống jazz đặt trên sân khấu không người, tay chân y cứ ngọ nguậy. “Ngứa nghề” quá, y nhảy đại lên vung dùi gõ “chachacha”, đổ từng hồi nhịp nhàng như một tay trống thiện nghệ. Trong hội trường nháo nhác chạy ra, có cả mấy anh trong Phòng Văn hóa huyện, vén màn hậu thấy một anh chàng đang say sưa lim dim, mặc quần áo cũ rích, giống dân bốc vác cu-li ở đâu ra mà uýnh trống “ác đạn” quá! Nghe ăn đứt cả tay trống số một ở huyện! Dứt bản nhạc, y bước xuống chắp tay “Xin lỗi, xin lỗi!…”

Sau đợt hội diễn, mấy đêm tập dợt anh em trong Đội cứ tới kéo y bằng được. Tài văn nghệ của y xứng đáng làm “thủ lĩnh” của Đội Văn nghệ quần chúng mới đổi tên thành Nhóm Ca khúc chính trị. Những đêm xuống diễn ở các ấp, Bảy Dũng mặc bộ đồ mới keng, ăn-ta-ni bảnh toỏng, đạp xe lôi! Chuyến đầu chở anh em, chuyến sau chở dàn trống đờn, âm ly…

Tới hội diễn huyện năm sau, Đội đoạt giải nhứt toàn huyện. Riêng Bảy Dũng đoạt liền hai giải cá nhân về đơn ca bài “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” và giải nhạc công xuất sắc! Tấm giấy khen ghi nắn nót: “Ô. Trương Minh Dũng – Trưởng nhóm Ca khúc Chính trị. Đơn vị xã…”

***

Cho tới bây giờ, đã ngoài sáu mươi nhưng chất giọng trầm ấm của “Anh Bảy Văn Nghệ” vẫn làm tê tái người nghe trong mỗi cuộc vui…

DƯƠNG ĐỨC KHÁNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.