Truyện ngắn Đặng Thuỳ Tiên: Lão Gàn & Sa ngã

Vanvn- Tác giả trẻ Đặng Thuỳ Tiên sinh năm 1990, tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành bảo hiểm của Trường Đại học Lao động – Xã hội vào năm 2013, hiện đang sinh sống và làm việc tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

Đặng Thuỳ Tiên bắt đầu sáng tác từ tháng 5.2020, đạt hai giải thưởng văn học mạng, có truyện ngắn và tản văn đăng trên một số báo chí và sách in chung. Cô tâm sự: “Tôi chọn viết. Viết để giải tỏa căng thẳng trong cuộc sống của chính mình, ghi nhận những trải nghiệm và cảm nhận của tôi về phận người, phận đời. Viết để mong lưu giữ được một phần bản sắc văn hóa dân tộc đang ngày càng mai một đi trên quê hương Tây Bắc yêu dấu của tôi”.

Chuyên đề Văn học Lai Châu xin giới thiệu hai truyện ngắn của cây bút trẻ triển vọng từ vùng biên cương Lai Châu.

CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC LAI CHÂU:

>> Văn học Lai Châu: Nhìn từ Pu Ta Leng

>> Đỗ Thị Tấc – trụ cột của văn học Lai Châu

>> Hà Phong viết để yêu thêm đất núi quê mình

>> Huỳnh Nguyên thuộc thế hệ tiên phong văn học Lai Châu

>> Thơ Đinh Hồng Nhung: Nỗi niềm của cô giáo cắm bản

>> Thanh Phương – người đa tài của văn nghệ Lai Châu

>> Thơ Phạm Đào: Gom thương nhớ gửi vào miền xưa cũ

 

 LÃO GÀN

 

Gàn là tên người ta đặt riêng cho lão. Tên cha sinh mẹ đẻ của lão là Vàng, Lù A Vàng. Chắc hẳn lúc đặt tên cho đứa con trai cả, bố mẹ lão đã mong cho lão được giàu sang, sung sướng cả cuộc đời. Điều ấy, bố mẹ nào cũng ước ao, mong mỏi nhưng sự thật, cuộc đời thường tréo ngoe lắm nỗi, đôi khi nó trái ngược, vượt mọi suy nghĩ tầm thường của con người. Lão sinh ra và lớn lên ở cùng một nơi với tôi, tính theo họ hàng xa tít mù tắp, thì tôi phải gọi lão bằng anh.

Tác giả trẻ Đặng Thuỳ Tiên

Thời niên thiếu, Vàng là một gã trai trầm tính, hiền lành và dễ bị bắt nạt. Tôi thường phải đứng ra bênh vực gã bằng cách giơ giơ những nắm đấm và đưa đôi mắt gườm gườm ra với những kẻ trêu chọc gã. Cũng may cho tôi vì bố tôi là công an xã nên bọn chúng không dám động đến, chứ ngoài môn võ “cào cào” ra thì tôi còn gầy gò, tong teo hơn cả Vàng. Vàng đi học trên tỉnh, trở về gã như một con người khác, hoạt bát và rất mạnh bạo. Gã đi làm cán bộ của xã. Tôi đi học và làm nghề gõ đầu trẻ mấy năm trên biên giới. Thi thoảng trong những lần trở về tôi mới gặp gã một cách chóng vánh bên mâm rượu tết.

Vàng lúc này đã trở nên to béo, lời nói nghe như sấm bên tai, ra dáng một anh cán bộ nói được làm được. Đường quan lộ của Vàng lên như diều gặp gió, chả mấy chốc gã đã lên chức phó chủ tịch xã. Tôi cứ nghĩ như vậy là đã êm xuôi với với thằng anh họ. Tôi đã yên tâm về Vàng. Tôi còn thường kể về gã với những đồng nghiệp thân thiết của mình với sự trịnh trọng và nể phục thực sự. Vàng lấy một cô vợ xinh đẹp ở cùng bản và sinh được ba người con, hai gái một trai. Hai đứa con gái học hết lớp năm thì nghỉ. Tôi hỏi thì Vàng bảo con gái sau cũng lấy chồng nhà người, học làm gì nhiều. Câu nói của gã làm tôi sửng sốt. Sau đó thì tôi thấy bực tức vì cái lối suy nghĩ cổ hủ của gã. Tôi hết lời khuyên bảo gã cho con đi học lại nhưng vô ích.

Tôi giận gã, sau đó tôi lấy vợ và chuyển tới nơi ở mới, cũng là nơi hai vợ chồng tôi công tác để an cư lập nghiệp. Cuộc sống quay tôi như chong chóng, bẵng đi một thời gian dài tôi không gặp Vàng. Nhưng câu chuyện của gã thì luôn có cách để được những người thân chuyển đến cho tôi trong những dịp cuối năm, bên mâm cơm gặp gỡ của gia đình. Câu chuyện về gã lần nào cũng không phải chuyện vui, nó khiến người nghe thấy sửng sốt và khó hiểu nhiều hơn. Ví như, đang dưng thì gã nghỉ làm việc, chỉ bởi sau một cuộc họp tổng kết ai đó nói lời chạm tới lòng tự ái của Vàng. Nhưng tất cả chưa đủ để khiến người ta thay cái tên Vàng đẹp đẽ của gã sang cái tên Gàn như một kẻ ẩm ương, dở hơi. Đang yên đang lành, gã bán quách nhà cửa, ruộng vườn để đến một nơi cách xa vài trăm cây số, một nơi khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn sỏi. Vàng bảo với mọi người, ở nơi này nộp thuế đất cao quá, làm ăn không ra, gã phải tìm về nơi đất mới để khai phá làm giàu.

Hai đứa con gái của Vàng bỏ nhà sang bên kia biên giới lấy chồng, nghe đâu cũng biệt tăm biệt tích không mấy khi trở về thăm bố thăm mẹ. Được đứa con trai vớt vát lại, có công việc ổn định, khuyên bố không được, nó mặc kệ lão muốn làm gì thì làm, nó ở lại giữ đất của ông bà tổ tiên chứ nhất quyết không đi theo lão Vàng. Thế là hai vợ chồng lão gói ghém ra đi. Cũng kể từ ấy, tôi không nghe tin tức gì về lão. Tôi nghỉ hưu và trở về quê cũ sinh sống.

Một buổi sáng mùa đông, trời âm u, không mưa nhưng rét kinh người. Tôi không ngủ được, trở dậy thật sớm, pha cốc trà gừng uống cho nóng người. Tôi đứng trước khoảnh sân nhà ngắm nghía mấy nàng hồng đang e ấp trong gió lạnh. Những giọt sương long lanh đậu trên những cánh hồng càng tôn thêm nét đẹp hấp dẫn của loài hoa biểu trưng cho sức sống mãnh liệt của tình yêu. Vợ tôi thấy thế lại lầm bầm và bắt tôi đi vào trong nhà. Tuổi già nó thế đấy, nhiều khi đến cơ thể còn không nghe lời mình, lạnh quá cũng mất ngủ, nóng quá cũng mất ngủ. Nửa đêm không ai đánh động cũng tỉnh giấc, nghe tiếng lá rơi cũng thấy buồn một nỗi gì không rõ nghĩa. Có lẽ càng về già người ta càng lẩm cẩm và thích sống trong những hoài niệm về tuổi trẻ.

Tôi đang trầm ngâm nghĩ ngợi thì nghe thấy tiếng gọi giật lên từ ngoài cổng. Là con trai lão Vàng. Nó vừa nói vừa khóc, mãi mới lên lời. Mẹ nó, tức vợ lão Vàng vừa chết. Nó muốn tôi đi cùng họ hàng nhà nó lên đám ma, với mong muốn của nó là khuyên bố nó trở về. Tôi không có thời gian để nghĩ ngợi nhiều, vào trong nhà gấp vài bộ quần áo ấn vội vào cái ba lô, dặn vợ vài câu rồi tấp tểnh đi theo con trai lão Vàng. Đường đi xa thật là xa, lại dốc lên dốc xuống quanh co, toàn ổ voi ổ gà, nếu không phải cậu thanh niên chở tôi có tay lái cứng thì tôi cũng đến xin dừng lại giữa đường.

Nhà lão Vàng ở cuối bản, một căn nhà sàn cũ kỹ, xập xệ. Tối đầu tiên ở nhà lão, tôi không dám ngủ, tôi cảm tưởng như dưới sức nặng của mấy người chúng tôi, căn nhà có thể sập bất cứ lúc nào. Đám ma vẫn diễn ra theo phương thức truyền thống, sau hai ngày thì đem đi chôn. Lão Vàng khóc đỏ hết cả mắt, khuôn mặt già nua sạm đen của lão rúm ró lại đến tội nghiệp, tôi nhìn dáng vẻ khổ sở của lão mà cũng không cầm lòng được. Dù lão có gàn dở tới đâu nhưng lão là người sống có tình nghĩa với vợ của mình. Tôi dám chắc, về điều này thì nhiều người thua lão Vàng.

Người trong bản này cũng không thiếu những hành động lạ kỳ làm tôi phải để ý. Họ đến đám ma tầm hơn mười phút, ăn uống qua loa rồi gói ghém đồ mang về. Cả tối, ngoại trừ vài cán bộ đến nhắc nhở công tác phòng dịch thì người trong bản tịnh không có một ai ở lại động viên, an ủi nỗi đau của khổ chủ. Tôi không dám hỏi lão Vàng về sự khó hiểu ấy. Tôi nghe loáng thoáng những người thân của lão xì xầm với nhau, rằng người ta ghét vợ chồng lão, căn nguyên là do đứa cháu ngoại của con gái với người chồng trước gửi về cho vợ chồng lão Vàng nuôi hộ. Nó đã quậy phá ngang ngược, hay trộm cắp vặt, người ta thù nó rồi người ta ghét lây cả vợ chồng lão Vàng vì không dậy nổi cháu.

Thằng cháu ngoại trong lời mọi người nói ngồi bên cạnh lão Vàng, tóc nó nhuộm màu rêu, khuôn mặt nó có nhiều nét rất dữ, một bên tai nó đeo tới mấy cái khuyên inox càng tôn thêm cái vẻ bất cần đời. Người nó gầy nhom trốn trong một bộ quần áo rộng thùng thình, cái môi nó thâm xì, trông dáng nó không khác gì một thằng nghiện thuốc nặng. Bà ngoại chết mà mặt nó lạnh tanh, dường như nó chả kịp rơi một giọt nước mắt tiếc thương nào. Trông nó, tôi lại ngao ngán thay cho lão Vàng.

Công việc xong xuôi đâu đấy, tôi ở lại thêm một ngày để xem có khuyên được lão già cứng đầu ấy trở về nhà cho thằng con trai độc nhất, (theo như ý nó) có cơ hội phụng dưỡng lúc tuổi già bóng xế hay không? Tôi tỉ tê, gợi lại cho lão những kỉ niệm lúc chúng tôi còn bé, để lão vơi bớt nỗi đau thương. Rồi lão kể cho tôi nghe những nỗi đau trong cuộc đời của lão, tất cả những quyết định sai lầm khiến lão phải trả giá bằng sự khổ sở của người thân yêu nhất. Hóa ra, lão đã biết mình sai từ lâu, lão biết mình thất bại nhưng lão cao ngạo với sự tự ái của mình mà không dám trở về quê hương bản xứ. Lão đúng là kẻ ngang ngạnh và gàn dở hết sức.

Dù rất bực, nhưng tôi cũng cố lựa lời khuyên bảo lão. Bây giờ biết như thế rồi thì về với con, với cháu, cho bố con được ở gần nhau, sau này, các cháu không phải ân hận mà mình cũng đỡ buồn. Lão Vàng nghe tôi nói thì im lặng một lúc lâu, mắt lão nhìn xa tận đâu đâu. Tôi uống mấy ngụm trà, chờ xem quyết định của lão. Cuối cùng lão Vàng nói với tôi, nguyên văn thế này:

– Tôi về thì cũng được thôi, nhưng chú xem đấy, tôi còn thằng cháu. Tôi mà về thì nó không nương tựa được ai. Tôi có lỗi với con gái vì không động viên chúng nó học hành cho tử tế. Giờ tôi nuôi con thay nó cũng như một sự trả giá về quyết định dại dột khi xưa của mình…

Mắt lão rưng rưng. Dừng một lúc, lão nói tiếp:

– Chú ạ, nhà tôi đi theo tôi thì khổ lắm. Tôi từng ước lúc hai bà mụ nặn hồn vía chúng tôi thì đừng nặn chung, để bà ấy theo tôi cả kiếp này phải khổ sở. Bây giờ bà ấy về mường trời trước tôi, nhưng tôi không muốn xa bà ấy, tôi ở đây còn được ra nói chuyện với bà ấy mỗi ngày, tôi mà đi rồi thì bà ấy buồn lắm. Cảm ơn lòng tốt của chú với tôi, với gia đình tôi. Bao giờ chú rảnh thì lên thăm tôi, ta làm chén rượu. Mà chả biết tới bao giờ…

Lão nói mà nước mắt cứ chảy ra. Tôi xúc động quá không nói được gì. Vậy là tôi đã thất bại, lão sẽ không trở về. Đêm ấy, tôi ở lại ngủ cùng lão Vàng trong căn nhà sàn lụp xụp của lão. Tôi mơ thấy một chiếc quan tài bằng gỗ, bên trong rải đầy tiền vàng mà không thấy xác người chết. Tôi lạnh hết cả người. Trong khi tôi đang loay hoay tìm kiếm thì nhìn thấy lão Vàng nằm dưới gầm sàn, mặt lão tím lịm đi, đôi mắt lão mở trừng trừng nhìn tôi kinh hoàng lắm. Tôi cứng đờ cả người, khi tôi định chạy tới thì cả căn nhà sàn đổ sụp xuống. Thằng cháu lão Vàng đứng bên cạnh đưa đôi mắt ác độc nhìn tôi, bỗng nó cười phá lên một cách man rợ.

Tôi choàng tỉnh. Đang là nửa đêm, bên cạnh tiếng lão Vàng thở đều đều, tiếng mọt nghiến gỗ cọt kẹt, xa xa tiếng con chim “bắt cô trói cột” đang kêu lên từng hồi.

Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng

SA NGÃ

 

1. Một ngày sau tết, khi những cánh đào đã phai ra một màu trắng hồng nhờ nhờ và rụng đầy quanh những gốc đào mốc xám ngắt, nhường chỗ cho những lá non xanh mơn mởn, cái bánh chưng cuối cùng cũng đã được những người phụ nữ đảm đang xắt nốt ra để nướng, thì nhà Vạn cũng đã chuẩn bị xong xuôi đâu đấy để làm “lễ tủ cải” cho con trai. Cậu bé Vạn năm nay đã lên mười hai, Vạn là một cậu bé ngoan và sáng dạ, học một biết mười, chăm chỉ làm việc nên ông bố mong muốn con mình sớm được làm lễ cấp sắc để cậu bé được đặt tên âm và có thể thay bố thắp hương, thờ cúng tổ tiên. Nói ra miệng là thế, nhưng trong suy nghĩ đã ăn sâu vào tiềm thức cộng đồng dân tộc ông thì việc này là một niềm kiêu hãnh rất lớn của ông với họ hàng làng mạc. Không chỉ riêng với ông mà với bất cứ một người bố người mẹ nào thuộc cộng đồng của ông đều hạnh phúc và hãnh diện khi con mình thực hiện thành công nghi thức này.

Sự kiêu hãnh ấy khác với kiểu ngày nay đi ra ngoài đường mà mặc hàng hiệu hay đi xe sang, sự kiêu hãnh ấy ngoài mặt về vật chất, tiền bạc đầy đủ làm lễ cúng và cơm thịt đãi dân bản, còn là một sự thiêng liêng về tâm linh rất lớn. Tuy Vạn còn bé nhưng cậu đã ý thức được sự tự hào của gia đình về cậu nếu cậu thành công và được công nhận là con cháu của Bàn Vương. Những ánh mắt ngưỡng mộ của đám bạn bè cùng trang lứa, sự mến mộ của dân bản dành cho Vạn càng khiến cho cậu thêm quyết tâm để vượt qua mọi khó khăn của lễ cấp sắc lớn nhất bản lần này.

Trong suốt bảy ngày làm lễ với thầy mo cao tay nhất và giỏi nhất với lễ cấp sắc “thập nhị tinh” (mười hai đèn – cấp cao nhất trong lễ cấp sắc), Vạn ăn chay và khổ luyện đến độ vượt ngoài mọi sự tưởng tượng của cậu về lễ công nhận sự trưởng thành này. Ba ngày trước khi làm lễ, cậu phải ở riêng cùng bố, không được nói chuyện cùng mẹ. Người ta dựng tạm một căn nhà trên một khoảng đất trống, lợp cỏ gianh xung quanh để làm lễ, Vạn và thầy mo ở trong đó. Trong bảy ngày này, mỗi ngày Vạn chỉ được ăn một bát cơm trắng với muối và uống một chén nước, kiêng không nói chuyện với bất cứ một cô gái nào. Ngày đầu tiên, Vạn thấy bình thường. Đến ngày thứ hai thì Vạn bắt đầu thấy hoa mắt và bụng thì cồn cào đến không ngủ được. Ngày thứ ba là đỉnh điểm để Vạn đấu tranh với cái đói bụng, cái thèm khát hương vị tầm thường của con người. Trong điệu múa nghiêng ngả, trong sắc đỏ của chiếc áo thầy mo cùng những tiếng kèn tiếng chiêng xập xòe, đầu Vạn lởn vởn hình ảnh của những món thịt xào ớt, món rau cải làn luộc tới mát ruột, món thịt gà luộc mềm ngọt, nước rỉ ra từ kẽ răng Vạn. Không được, thật là tội lỗi, Vạn tự nhủ. Vạn cố xoa dịu sự ham muốn trong lòng mình bằng những câu chữ nôm trong những bài cúng được thầy mo truyền dạy, đắm mình vào những nét vẽ tranh Tam Thanh, ca tụng vẻ đẹp của ba vị thần linh có sức mạnh siêu nhiên bảo vệ cho con người khỏi những điều tà ác.

Ngày thứ tư, thứ năm, thứ sáu, Vạn tiếp tục tranh đấu với chính mình. Mỗi khi cậu cảm thấy yếu mềm trước sự cám dỗ, mỗi khi cậu mệt mỏi và muốn bỏ cuộc thì ánh mắt nghiêm nghị của người thầy truyền dạy cậu, cùng những lời dặn dò của người cha về việc giữ gìn danh dự của người đàn ông và danh dự của gia đình, về việc cậu sẽ bị người ta khinh thường đến thế nào nếu cậu thất bại. Tất cả khiến cho Vạn gồng lên chống chọi với đói, với khát, với sự khổ hạnh của sự tu luyện để có được tên âm, được thờ cúng tổ tiên và có thể trở thành một thầy cúng nổi tiếng nếu như cậu muốn. Cậu cầm cây bút lông để viết mà tay cứ run run, Vạn đã cảm thấy cơ thể mình yếu hẳn, cậu cảm tưởng như nó có thể mềm mỏng và dẻo quẹo đi nếu cậu tiếp tục nhịn đói và nhịn khát. Tới bữa cơm, vẫn lượng cơm ấy, vẫn lượng nước ấy mà cậu cảm thấy như nó đang ít đi, cậu ăn ngon lành, ăn nhanh hơn, dù trước đó cậu đã có ý định chia nhỏ ra và ăn làm nhiều lần để chống lại cái bụng đang cồn cào và thi thoảng lại réo lên “rọoc rọoc”.

Hàng đêm, trong mỗi giấc mơ Vạn đều mơ thấy một mâm thức ăn thịnh soạn, thức ăn thơm ngon bày biện ê hề chờ cậu. Thế nhưng mỗi lần gắp để đưa lên miệng thì khoảng cách từ miếng ăn tới miệng cậu cứ bị kéo dài ra mãi. Vạn kinh hãi thấy một đôi mắt trắng dã lồi ra, con ngươi chỉ là một chấm nhỏ màu đỏ, đang trợn trừng nhìn mình từ trên cao. “Con cháu Bàn Vương không có ai như mày”. Nhiều tiếng nói lặp đi lặp lại xung quanh nơi Vạn ngồi khiến cậu càng thêm sợ hãi và gần như suy sụp. Mỗi lần mơ đến đoạn ấy, cậu bé Vạn thường tỉnh giấc và một mình khóc giữa đêm rừng hoang lạnh.

Ban đêm thì thế, nhưng ban ngày thì Vạn không để lộ ra một sự yếu đuối nào, cậu chăm chỉ học chữ nôm, vẽ tranh và thường có kết quả xuất sắc trước sự kiểm tra của thầy dạy mình. Những cơn co bóp dạ dày Vạn dần dần cũng qua đi, và giờ cậu tự tin nếu buổi lễ có diễn ra tới ngày thứ mười cậu cũng vẫn có thể tiếp tục. Người Vạn xanh xao hơn và môi khô lợt lạt, nhưng trong đầu óc cậu lại cảm thấy sảng khoái vô cùng, trong người cậu cảm thấy có một sức mạnh kỳ lạ đang lớn dần lên, nó như là hân hoan, nó như là niềm vui của sự chiến thắng trước sự dụ dỗ tầm thường của quỷ vương.

Đến ngày thứ bảy, buổi lễ cúng có sự góp mặt của ba thầy mo cùng sự chứng kiến của rất nhiều dân bản. Thầy truyền dạy cho Vạn trong buổi lễ này là một thầy cao tay, nổi tiếng khắp vùng, Vạn là nhân vật chính của ngày hôm nay, người ta hồi hộp chờ đợi kết quả “lễ rơi đài” của cậu còn hơn xem kết quả của một trận cầu kinh điển trên ti vi. Cả người Vạn chìm trong bộ quần áo màu đỏ tươi, cái nón cậu đội có treo những đồng xu bằng bạc xung quanh vành nón, Vạn ngồi lẩm rẩm theo những chữ nôm học được để tránh cho tâm hồn mình bị xao động theo những lời nói chuyện nhốn nháo bên ngoài. Vạn chỉ còn nghe thấy lời hát của thầy mo, những lời kể lể của thầy về nguồn gốc tổ tiên, về sự phát triển tươi đẹp của cộng đồng trong quá khứ và hiện tại, cùng những ước muốn về tương lai.

Đến giờ đẹp, sau khi đã hoàn tất các thủ tục cúng lễ, Vạn bắt đầu đi từng bước tới cái đài đã dựng trước đó cách nhà làm lễ khoảng chừng một trăm mét. Đài làm từ bốn thân gỗ thẳng, chắc chắn, dựng theo hình trụ, buộc bằng dây rừng và có thang để đi lên. Trên mặt đài có phủ một lớp cỏ gianh tượng trưng cho vảy rồng, ý nghĩa là sức mạnh và sự may mắn cho người thực hiện nghi lễ “rơi đài”. Vạn ngồi trên mặt phẳng ấy, quay lưng xuống dưới. Gió thổi vi vu, Vạn thấy người man mát, mồ hôi tay rịn ra, cậu hơi hồi hộp. Đoàn người vây quanh không ai bảo ai mà đều im lặng, dõi theo mỗi cử động của Vạn. Vạn đọc một câu thần chú bằng chữ nôm, với niềm tin bất diệt cậu nhắm mắt và thả tay rơi tự do xuống miếng vải được chăng ra với những người đỡ ở bên dưới và trong tiếng la hét reo hò cổ vũ của mọi người.

2. Đêm rơi vào tĩnh lặng, những tiếng côn trùng giờ cũng im lìm hẳn, hơi lạnh luồn qua ô thoáng của căn phòng khẽ thấm tháp vào da thịt, hắn trở mình. Mấy đêm nay hắn vẫn mơ thấy những ngày hắn còn bé, những buổi chiều nghỉ học đi thả trâu cùng đám bạn trong bản. Con trâu của nhà hắn có cặp sừng đen bóng, lông mượt, to khỏe nhất trong bầy trâu thả. Nó thong dong gặm cỏ và thi thoảng lại đưa đôi mắt hiền từ nhìn hắn. Hắn vẫn thường có những giấc mơ hoài niệm như thế và thường thì người ta mới gặp sẽ thấy ở hắn là một người hiền lành. Hắn cũng khéo léo ngụy tạo ra một vỏ bọc thiện lành để người ta tin tưởng và vị nể. Thế nhưng cái vẻ đẹp tâm hồn hắn trên thực tế đã chết từ lâu lắm rồi, cái vỏ bên ngoài đẹp đẽ nhường kia chỉ là bề ngoài giả tạo, dù đôi lúc nó quá khéo để khiến ngay cả hắn cũng tin là thật.

Nửa đêm nay, hắn lại thức giấc vì cơn ác mộng dày vò. Những chiếc áo màu đỏ không có người mặc mà cứ nhảy múa trước mặt hắn. Những ngọn đèn bay lòng vòng trong không trung như có linh hồn điều khiển. Những tiếng chuông nhỏ lắc xắc, tiếng chiêng xập xòe ma mị, đầu hắn ong ong, mắt hắn hoa đi, cả người hắn vô thức quay quay trong điệu nhạc truyền thống. Nhưng thứ đánh thức hắn khỏi cơn ác mộng là một giọng ồm ồm rè rè như mở đài mà đoạn dây băng cát sét bị rối nhưng nó lại nghe rõ từng lời khiến hắn kinh sợ “Con cháu Bàn Vương không có ai như màyy…”

Vại chính là tên âm được đặt lại của cậu bé Vạn năm nào. Nó có ý nghĩa là phúc lộc. Nó chính là lời chúc và cũng là tâm nguyện của người thầy truyền dạy đặt vào Vạn. Nhưng đó là lúc Vạn còn ngây thơ và trong sạch. Sự trong sạch toàn vẹn kể từ trong suy nghĩ, sự trong sáng của một đứa trẻ mới lớn và chưa trải sự đời. Đến bây giờ, hắn công nhận rằng tổ tiên hắn thật khéo lựa chọn độ tuổi để làm lễ tủ cải. Vì chỉ cần thêm dăm, mười tuổi nữa thì chưa chắc đã có mấy người vượt qua được cám dỗ của ngày thứ ba trong bảy ngày làm lễ. Sau ngày làm lễ thành công, hắn lớn lên kiêu hãnh như cây rừng trước sự tung hô của mọi người, tiếng tăm của người thầy truyền dạy cao tay càng khiến người ta thêm vị nể hắn.

Hắn cứ mải mê bồng bềnh trôi trong niềm vui của kẻ chiến thắng. Hắn không hề biết rằng, quỷ vương vốn là kẻ ranh mãnh, gã đã khiến sự kiêu căng lớn dần lên trong hắn, gã thả vào người hắn một mầm độc rồi gã ngồi trong bóng tối quan sát hắn và cười thầm.

Sự tung hô quá lời của mọi người khiến Vạn nghĩ mình tài giỏi, hắn coi thường tất cả những kẻ thất bại, những kẻ không vượt qua nổi cám dỗ của ngày thứ ba để bị đổ máu mũi và bị đau đớn khi “rơi đài”. Hắn coi thường cả Dùng – thằng bạn thân nối khố của hắn. Dù bằng tuổi nhau, nhưng Dùng luôn tôn trọng và gọi hắn bằng anh, điều này càng khiến hắn cảm thấy khinh bỉ Dùng. Hắn nhớ, chính hắn đã bày trò trêu tức Dùng cùng đám bạn. Hắn cười gằn, đưa đôi mắt hả hê và thâm độc nhìn Dùng khóc lóc, quần áo tả tơi, bê bết những đất và máu. Dù kết thúc tình bạn với Dùng, hắn vẫn thỏa lòng lắm, hắn ấm ức và đố kị với tình yêu mà Ninh- cô gái xinh nhất bản dành cho Dùng. Hắn với Ninh mới xứng là một cặp, thế mới đúng cho câu trai tài gái sắc, cơn cớ gì Ninh lại dành cho tên Dùng hèn mọn. Vạn còn căm phẫn vì mặc cho hắn đã cố hết sức tỏ tình với Ninh nhưng cô chỉ trao cho hắn ánh mắt lạnh như đá, khi hắn cố ôm ghì Ninh, hắn nhận ngay cái tát như trời giáng và ánh mắt sắc lẹm như dao găm.

Lúc này, hẳn quỷ vương đã cười, mầm độc hắn gieo vào lòng Vạn đã mọc. Sự đố kỵ sẽ dày vò Vạn và nhanh thôi, nó sẽ khiến cho đầu óc hắn mụ mị, u mê. Sự ảo tưởng vốn sẽ là một cú đẩy Vạn rơi xuống, nhẹ nhàng và đau khổ. Bây giờ thì gã quỷ vương lại giăng ra một bức màn bịt mắt hắn để Vạn không nhận ra sự biến đổi nguy hiểm của mình.

Vạn lấy vợ. Dù đó không phải là Ninh, cô gái Vạn lấy không xinh đẹp nhưng bù lại nhà cô ta giàu có và bề thế. Vạn đã nghỉ học từ lâu, bây giờ có vốn, Vạn bỏ cày cuốc, bỏ cả nghề hái chè để đi buôn trâu bán sang bên kia biên giới. Vạn vốn thông minh, cuộc đời dạy thêm cho Vạn sự lừa dối và bịp bợm, Vạn chà đạp lên mọi sự thương hại, hoặc mọi thứ có thể là chướng ngại để vươn tới giàu có. Vạn mua trâu với giá cực rẻ nhờ ép giá và lợi dụng sự không thông thạo mặt tiền và giá cả của người bán, sau đó hắn bán với giá cao cho lái buôn nước ngoài.

Vạn nghĩ “buôn gian bán lận” nên những gì Vạn làm là chuyện thường chứ có gì. Vạn điềm nhiên xem là như thế, mặc cho nụ cười méo xệch của người bán, mặc tiếng khóc nức nở của thằng bé chăn trâu vì đã lỡ coi con trâu như một người bạn. Vạn cho trâu lên xe ô tô với vẻ mặt lạnh tanh, đếm tiền trả cho chủ trâu một cách dứt khoát, mặc cho người cầm tiền run run, mắt đỏ hoe vì phải bán thứ giá trị nhất trong nhà lo tiền thuốc thang cho bố. Vạn bước vào xe, với tay đóng cửa xe cái “rầmm” khất tay ra hiệu cho anh tài chạy xe. Cái xe tải cùng món hàng là con trâu chạy xa dần khỏi cái nhà gỗ cũ kỹ, thỉnh thoảng vẫn vẳng ra vài tiếng ho sù sụ.

3. Mấy năm nay, nghe nói trên thế giới đang bùng phát một đại dịch khủng khiếp chưa từng thấy. Biên giới đóng cửa, việc buôn bán của Vạn cũng vì thế mà ngưng hẳn. Vì tiền kiếm dễ nên Vạn tiêu tiền không tiếc tay, sự hoang phí đó đã ăn vào tiềm thức của Vạn, khiến hắn không thể sống tiết kiệm được. Vợ hắn từng nhắc nhở Vạn về sự chi tiêu phung phí của chồng, nhưng cô chỉ nhận từ hắn những nụ cười nhạt khinh bỉ.

Lại nói về vợ chồng Ninh Dùng, sau khi lấy nhau, họ chí thú làm ăn, cùng nhau cấy lúa, làm chè, trồng thảo quả. Dùng lại mở ra một xưởng chuyên buôn bán vật liệu xây dựng, anh bán rẻ, lại cho chịu không lấy lãi của những người nghèo khó trong bản nên ai cũng yêu quý và tôn trọng Dùng lắm. Dường như mọi người đã quên hẳn hình ảnh thằng Dùng yếu ớt đến ngày lễ cuối cùng, đứng trên đài gỗ mà sợ đến chảy máu mũi khi xưa.

Còn Vạn thì không quên. Hắn càng ghen ghét và tức với Dùng vì sự giàu có và danh tiếng của Dùng, nhất là với sự hạnh phúc của hai vợ chồng Dùng. Hắn nghĩ một cách ngang ngược rằng, đáng lẽ mọi thứ Dùng đang có phải thuộc về hắn, hắn mới là người xứng đáng. Vạn bắt đầu lại với nghề làm thầy cúng. Nhờ danh tiếng của thầy truyền dạy cho mình mà Vạn nhanh chóng trở nên nổi tiếng khắp vùng. Có những lần, hắn đi lễ tới ba bốn ngày mới về. Mặc dù, ngày ngày đọc lời chú nguyện và khấn những văn nôm dạy đạo đời tốt đẹp nhưng mọi thứ không hề đọng lại trong đầu Vạn. Lòng hắn nguội lạnh, mọi thứ trong đầu của hắn giờ chìm trong một màu xanh của tiền bạc và danh vọng.

Hôm nay Vạn lại đi cúng, chủ nhà là gia đình có điều kiện, không ngại ngần mà trả trước cho hắn năm triệu tiền lễ bái. Nhà chủ đang có tranh chấp đất đai với người em, cãi nhau qua lại đã gần ba năm chưa xong, nghe danh tiếng của Vạn, bà chủ nhà muốn hắn cúng cho con ma xui xẻo nào ám hại nhà bà mau bỏ đi để bà hoàn thành được ý nguyện xây nhà cho con trai. Vạn đi cúng mà nghĩ mỉa mai trong bụng, nếu điều gì cũng có thể nhờ cúng bái mà thành hẳn hắn đã là bậc tiên thánh chứ không phải người phàm. Với ý nghĩ khinh mạn ấy nên Vạn cố tình làm khó bà chủ nhà. Vạn nói rằng cần chuẩn bị cho lễ cúng là mười lăm cân bạc, bốn lạng vàng ròng, ba mươi sáu triệu đồng tiền mặt thì thần linh mới chứng giám cho lòng thành của bà.

Vạn thấy bà chủ đăm chiêu thì ra chiều hả hê lắm. Hắn chêm lời nếu bà thấy khó thì thôi để hắn về. Đã quyết là phải làm tới nơi, làm xong thì vàng bạc vẫn còn nguyên chứ có ai lấy mất đâu mà sợ. Nghĩ vậy nên bà chủ nhà nhất quyết giữ Vạn ở lại mời cơm, thết đãi hắn tử tế, còn mình đi mượn họ hàng nội ngoại. Đến chiều, mọi thứ đã đầy đủ như ý muốn của Vạn. Nhìn đống vàng bạc và tiền xếp chồng đống trước mặt, Vạn hoa hết cả mắt, mọi ý nghĩ tốt đẹp tiêu biến, hắn ao ước, hắn thèm khát sở hữu chúng. Đích đến, phần thưởng giàu có Vạn mong muốn bấy lâu nay đang ở ngay trước mắt hắn.

Sau giây phút choáng váng, với bản tính ranh ma có thừa, Vạn vờ mở lịch xem ngày và hẹn bà chủ hai hôm nữa sẽ quay lại cúng vì ngày hôm nay sát chủ, có lễ cũng không thành. Sau khi dặn bà chủ giữ bí mật về chuyện cúng bái và danh tính thầy cúng không thì sẽ mất thiêng, Vạn nhanh chóng lên xe máy trở về nhà mình. Vạn ra đồi chè sau nhà, đào rễ cây lá ngón hoa vàng, loài độc dược mọc ra từ tâm địa rắn rết của ma vương. Hắn mang về, đun lấy nước thật đặc rồi cho vào chai nhựa để mang theo tới lễ cúng đã hẹn.

Vạn hẹn bà chủ mang đồ lễ lên một cánh rừng tái sinh cách nhà bà ba cây số đường rừng. Sau khi sắp xếp đồ lễ xong xuôi đâu đấy, Vạn đưa chai nước cho bà chủ nhà uống để thanh tẩy trước khi cúng bái. Ngửi thấy mùi lạ, nhưng vì sợ sẽ mất thiêng nên bà chủ nhà không ngập ngừng mà tu một hơi. Chưa hết nửa chai, bà đã ngã xuống, bà chỉ kịp ộc lên hai tiếng oan ức rồi chết. Gió thổi vi vu, những lá cây lao xao chạm vào nhau, chúng hoảng hốt trước sự tàn ác của con người. Vạn thản nhiên vơ vàng bạc và tiền vào cái ba lô màu đen hắn chuẩn bị sẵn. Vạn để nguyên cái xác chết đang úp mặt xuống đám cây cỏ, hắn ung dung ra về.

Hơi lạnh xộc tới, tiếng chim “bắt cô trói cột” vang lên vài hồi xao xác cả khu rừng thông hoang lạnh. Cái xác nằm bất động, gió thổi tung cái váy mỏng người đàn bà bất hạnh đang mặc. Gã quỷ vương cười hả hê, đưa đôi mắt đỏ lòm nhìn theo bước chân Vạn. Gã đã chiến thắng nhờ vào sự đố kỵ và kiêu ngạo gã gieo mầm trong lòng của Vạn ngày nào.

4. Cái chết của người đàn bà trên rừng thông sau ba ngày bị mất tích làm rung động một vùng. Cái xác còng queo, khô lạnh và biến dạng vì đang phân hủy khiến không ít người cảm thấy sợ hãi và ám ảnh. Vạn vẫn ung dung tới cúng đám ma, thậm chí hắn còn chỉ mọi hướng nghi ngờ tới một người thầy cúng đang là đối thủ của hắn. Hắn đã quên rằng “lưới trời lồng lộng”. Hắn bị bắt ngay sau khi đã hoàn thành lễ chôn cất cho người chết. Đến khi tra tay vào còng số tám và bị giải đi hắn vẫn còn quanh co chối tội.

Người ta hoảng hốt vì cái chết của người đàn bà bất hạnh một thì người ta sửng sốt vì sự ra tay tàn độc của một người vốn được tôn sùng như Vạn mười. Người ta truyền tay nhau xem hình ảnh cái cười ngạo mạn và khó hiểu của Vạn khi bị công an giải đi thực nghiệm hiện trường. Người ta kháo nhau rằng, có lẽ Vạn vẫn tin mình sẽ có phép thần thông nào đấy để ẩn thân khỏi sự trừng phạt của pháp luật. Người nói thì cười, mà không ít người nghe vẫn tin. Chỉ có quỷ vương là rõ nhất, nếu ngay từ đầu con người chiến thắng được sự ngạo mạn và đố kỵ thì cái ác sẽ không có cơ hội xâm chiếm vào bất cứ một trái tim thiện lương nào.

ĐẶNG THÙY TIÊN

Hội viên Hội VHNT tỉnh Lai Châu

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.