Trước hữu hạn thời gian      

Vanvn- Mùa thu là đề tài quen thuộc trong thơ của Đỗ Trung Lai. Mùa thu đã trở thành một không gian văn hóa, một thế giới nghệ thuật ám ảnh thi sĩ. Đỗ Trung Lai viết nhiều về mùa thu. Qua những bài thơ thu ấy, nhà thơ gửi gắm những tư tưởng, cảm xúc của mình trước thiên nhiên vạn vật. “ Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ” là một bài thơ như vậy.

ĐÊM THU, DẮT CHÁU VÀO PHỐ CỔ

(Thân yêu tặng Mũm – cháu ngoại đầu)

 

Dắt Mũm chơi hè phố xưa

Đèn đường xua tan sương mờ

Sáng rực trên nền lá biếc

Một chiếc lá bàng vàng mơ

Vàng mơ trỏ về Cuối thu

Cuối thu là nơi ông ở

Chỉ vì theo cháu bi bô

Mà đêm, ông còn ra phố

Cháu đòi, ông tìm mọi cách

Lấy cho bằng được lá vàng

Lá cầm tay rồi, cháu hỏi

Giả nhời, dễ phải ngàn trang

*

– Ông ơi! Lá vàng tên gì?

– Lá vàng tên là Hữu hạn!

– Ông ơi! Hữu hạn là gì?

– Nghĩa là Rồi xa muôn dặm!

– Ông ơi! Muôn dặm là gì?

– Ấy là Ra ngoài tầm mắt!

– Ra ngoài tầm mắt là gì?

– Là đã Hình xa bóng khuất!

– Hình xa bóng khuất là gì?

– Là Cuối giời hay Lòng đất!

– Cuối giời, Lòng đất là gì?

– Là Cháu không còn ông dắt!

– Sao cháu lại không còn ông?

– Kìa! Khéo lá vàng bay mất!

Lời bình:

1. Bài thơ là một câu chuyện. Bố cục bài thơ có hai phần rõ: nửa đầu là không gian nghệ thuật của thi phẩm, nửa sau là cuộc đối thoại giữa ông và cháu.

Một đêm “cuối thu” đầy “sương mờ” ông dắt cháu ra phố chơi. Không gian tịch mịch về đêm chắc có chút se lạnh. Rồi cảnh vật của phố cổ xưa cũ…Tất cả, sẽ gợi ở người đi dạo nhiều xúc cảm, suy tư.

Điểm sáng của bức tranh đêm thu là chiếc lá vàng:

“Sáng rực trên nền lá biếc

Một chiếc lá bàng vàng mơ”

Một chi tiết điển hình. Giữa biết bao biểu trưng của mùa thu: trời thu, gió thu, hoa thu, trăng thu, mưa thu…tác giả chọn “lá vàng”, bởi đây là hình ảnh mang tính biểu tượng nhất. Lá vàng thường được coi là thông điệp, là vị chủ nhân quý phái của mùa thu. Mùa thu cám dỗ người ta thường bằng chiếc lá vàng rơi.

Một chi tiết đáng lưu ý nữa trong hai câu:

“Vàng mơ trỏ về Cuối thu

Cuối thu là nơi ông ở”

“Cuối thu” vừa là không gian (nơi ông ở), vừa là thời gian. Đêm nay là một đêm “cuối thu”, tuổi của ông cũng đang ở chặng “cuối thu”, sắp bước sang mùa đông- chặng cuối của cuộc đời.

Như vậy, làm nhiệm vụ giới thiệu không gian thơ nhưng nửa đầu bài thơ đã hé lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình, trong cảnh đã có tình.

Nhà thơ Đỗ Trung Lai. Ảnh fb

2. Nửa sau bài thơ có thể coi là trọng tâm, “nặng” cái tình của nhân vật trữ tình và cũng là của người viết.

Đoạn đối thoại giữa hai ông cháu có những câu hỏi của cháu tuy ngây thơ nhưng mang tính chất vấn về những vấn đề nhân sinh, không dễ để ông trả lời, bởi : “Giả nhời, dễ phải ngàn trang”. Những câu trả lời của người ông mang những suy niệm giàu tính triết luận. Ông trả lời cháu nhưng thực ra là tự ngẫm, tự “nói” với mình, tự lang thang trong thế giới nội cảm của mình.

Qua chiếc lá vàng cuối thu được đặt tên là “Hữu hạn”, người ông cảm thấy sự chóng vánh của thời gian trần thế, sự vô thường của kiếp người trong cõi phù sinh.

“Sinh, lão, bệnh, tử” là quy luật tất yếu của đời người. Dù người có địa vị cao hay thấp, giàu hay nghèo, nam hay nữ hầu hết đều trải qua bốn giai đoạn này. Chặng cuối (“tử”) đã được người ông “hình tượng hóa” để cho cháu dễ hiểu, dễ tưởng tượng.“Hữu hạn” là “Rồi xa muôn dặm”, là “Ra ngoài tầm mắt”, là “đã Hình xa bóng khuất”, là “Cuối giời hay Lòng đất”. Và cuối cùng: “ Là Cháu không còn ông dắt”. Liên tiếp, người ông dùng khái niệm này để giải thích, làm rõ nghĩa cho khái niệm kia, mà bắt đầu từ khái niệm “Hữu hạn”. Tất cả đều giống nhau ở nghĩa chia ly, xa thẳm, mất mát… Thời gian trôi qua nhanh chóng. Thời gian một đi không trở lại. Sự mất mát đang diễn ra ngay trong hiện tại. Dường như con người đương sống ấy đã nghĩ mình đang dần thuộc về quá khứ ?!

Những câu thơ thật ám ảnh, thật khắc khoải, thật buồn; buồn đến tê tái, thấm thía. Đó là nỗi buồn cho cái hữu hạn của đời người trước vô hạn của thời gian thiên nhiên vũ trụ, nỗi buồn nhân sinh, nỗi buồn của rời xa mãi mãi. Buồn và cả bất an, bất lực, cô đơn…Đời người, ai cũng phải đối diện với điều sâu thẳm ấy.

Cảm nhận  của người thơ ở đây thật sâu sắc. Bi kịch của đời người là chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên. Thời gian là cái chết, một cái chết không thể đảo ngược, không thể cứu vãn, vì thế nó trở thành ám ảnh. Ám ảnh về cái chết có lẽ là ám ảnh lớn nhất với mỗi đời người, vì mỗi bước trôi qua là một bước con người xích lại gần hơn với cái chết. Cái chết là một giới hạn có tính mặc định. Chính vì vậy, nhà thơ Vũ Quần Phương cũng từng tự ngẫm:

“Khó ghì chỉ một ngày xa

Một ngày xa nữa là qua một đời”

Nhưng với bản chất là một thi sĩ, Đỗ Trung Lai không cam chịu trước mặc định ấy mà luôn tìm cách nới rộng giới hạn kia, để “chiến thắng” thời gian. Khi nghe cháu hỏi ngây thơ: “Sao cháu lại không còn ông?”, người ông dù đang suy tư, chợt sực tỉnh trở lại với thực tại. Né tránh không trả lời (có lẽ không muốn làm cháu tổn thương), ông nhắc: “Kìa! Khéo lá vàng bay mất”. Thế là, bao nỗi buồn lo, khổ não trong chốc lát như tan biến mất. Chỉ còn chiếc lá vàng trên tay. Chỉ còn mùa thu của đất trời đang hiện hữu. Đó là một cái nhìn tươi sáng xuất phát từ ý nghĩ tích cực: cuộc sống vốn vô thường và ngắn ngủi, phải biết trân trọng hiện tại dù là một chiếc lá vàng đã lìa cành.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến câu nói của nhà văn Anais Nin: “Tôi trì hoãn cái chết bằng cách sống, bằng khổ đau, bằng sai lầm, bằng mạo hiểm, bằng cho đi, bằng mất mát”; nghĩa là: “sống” tận cùng, “sống” hết mình trên thế gian. Hiểu rằng mình sẽ già đi, mình sẽ biến mất khỏi thế gian này như một lẽ tự nhiên, có nghĩa là người thơ sẽ yêu quý từng ngày còn lại và biết dùng nó một cách có ý nghĩa nhất. Phải chăng, đó là thông điệp mang tính nhân văn của bài thơ.

“Đêm thu, dắt cháu vào phố cổ” của nhà thơ Đỗ Trung Lai là một bài thơ giản dị, xúc động, ám ảnh.

Hải Dương, mùa thu năm 2022

 NGUYỄN THỊ LAN     

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.