Trăng lên – Tiểu thuyết của Thế Đức – Kỳ 2

Vanvn- Ông nội bắt đầu mang đầu đuôi câu chuyện Sang định giở trò đồi bại với con dâu ông ở miếu Cô Xoan kể cho lão Sáng nghe. Khi ông nội kể xong, lão Sáng bỗng ứa hai hàng nước mắt. Môi lão rung rung như người đang sắp khóc…

Trăng lên – Tiểu thuyết của Thế Đức – Kỳ 1

 

Chương II

VỤ BẮT CÓC HI HỮU

 

Sang được tìm thấy khi xác hắn nổi trên mặt giếng với cái bụng trương phềnh. Chính đôi quang gánh dính đầy vảy cá đã buộc tội mẹ là thủ phạm giết chết hắn. Nhà điền chủ Sáng, cha đẻ của Sang tức lắm, dẫn lính và mang theo cả một đống người nhà đến để vây bắt thủ phạm.

Trước lúc chạy trốn, ông nội đã chằng buộc phía trong cổng ngõ rất kỹ rồi đi tắt lối sau. Bọn lính dùng dao, búa và báng súng đập vỡ cánh cổng làm bằng gỗ xoan ngâm rất chắc chắn, xông vào. Thấy trong nhà chẳng còn ai, lão Sáng càng lồng lộn như con thú bị thương. Lão sục sạo khắp trong buồng ngoài nhà, tay nện cái đầu batoong bịt sắt xuống sân gạch kêu toong toóc.

– Vậy là tao đã chậm hơn nhà nó một bước rồi. Chúng mày niêm phong toàn bộ nhà cửa lại, tao sẽ tịch thu tất.

Tên chỉ huy đội lính gật đầu, ra lệnh cho lính tráng và lũ người nhà của lão Sáng làm theo ý đồ của lão. Trước khi rút về, lão Sáng còn tuyên bố tất cả ruộng vườn ao cá của ông nội từ nay sẽ thuộc về lão…

Ở bên kia sông, ông nội nghe tin điền chủ Sáng đã tịch thu toàn bộ tài sản của mình thì không tài nào yên được. Lúc nào ông cũng như người bị giẫm chân vào đống than hồng. Ông liên tục lên bờ đê nhìn sang bên kia sông. Nhà cửa, ruộng vườn, ao cá, tất cả những thứ đó như máu, như thịt, gắn liền với cuộc đời ông bao nhiêu năm nay, bây giờ bị kẻ khác chiếm đoạt, khiến ông không thể cam lòng chịu đựng.

– Có lẽ tôi phải đi khỏi nơi này thôi. – Ông nội quay về, nói với bà nội.

– Ông định bỏ bà cháu tôi đi đâu bây giờ?

– Tôi sẽ ra thành phố kiếm việc làm.

Bà nội hiểu ý chồng. Ông ấy muốn đi cho khuất mắt, chứ ở nhà, ngày nào cũng lên bờ đê nhìn sang bên kia sông, làm sao mà chịu đựng nổi.

– Nhưng tôi cứ thấy lo lo thế nào ấy. Ông ra thành phố, lạ nước lạ cái, biết tìm việc ở đâu để lấy tiền sinh sống?

– Tôi có sức khỏe, lo gì. Bà ở lại trông cháu rồi giúp đỡ vợ chồng ông Tuệ công việc cấy cày. Khi nào có tiền, tôi sẽ gửi về phụ giúp thêm với ông bà ấy.

Ông nội nói với bà nội xong, đem ý định ra thành phố tâm sự với ông Tuệ. Ông Tuệ hết sức ngạc nhiên, trợn mắt nhìn ông bạn. Trong lúc đang bị bọn Pháp truy nã, ông ấy ra thành phố thì làm sao mà thoát khỏi tai mắt của bọn chúng. Hay là ông ấy định trở lại với cuộc sống ngày xưa?

– Tôi hỏi thật nhé, có phải ông định tái xuất giang hồ?

– Không! Không bao giờ!

– Vậy ông tưởng ra đi là chôn vùi hết được nỗi đau hay sao? Thực ra, đó chỉ là sự đầu hàng với chính bản thân mình mà thôi mà đã là kẻ đầu hàng thì chỉ có mất, sẽ mất tất cả. Theo tôi, ông đừng đi đâu nữa, phải ở lại mà tìm cách giữ lấy nhà cửa ruộng vườn của mình chứ.

Ông nội nghe nói, suy nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu.

– Ông nói cũng phải. Nhưng bên ấy là vùng tạm chiếm, mình làm gì được bây giờ?

– Tôi nghĩ ra cách này ông xem có được không?

– Cách thế nào?

– Tối nay, tôi và ông vượt sông, bắt cóc điền chủ Sáng rồi đem đi thủ tiêu là mọi việc êm hết.

Đến lượt ông nội trợn mắt nhìn ông Tuệ, rồi lắc đầu lia lịa.

– Không được! Không được! Nhà người ta vừa mất con, bây giờ lại giết chết cả bố thì ác quá.

Ông Tuệ biết tính ông bạn xưa nay vẫn là người hảo hán, không bao giờ làm điều ác với ai nên đành gạt bỏ ngay ý định thủ tiêu lão Sáng. Ông vò đầu bứt tai, suy nghĩ một lát, rồi bảo:

– Nếu ông không muốn thủ tiêu nó thì thôi. Tối nay, tôi và ông sẽ đột nhập vào nhà nó, kề dao vào cổ mà dọa, chỉ cần thế cũng đủ làm cho nó sợ vãi tiểu ra quần thôi mà.

Ông nội gật đầu, hạ giọng:

– Nghe thế còn được. Nhưng làm sao để đột nhập vào nhà nó được mới là vấn đề? Khó lắm đấy.

Nhà văn Thế Đức ở Hà Nội

Nhà lão Sáng rất kín cổng cao tường. Nhưng cái việc kín cổng cao tường thì cũng chẳng khó khăn gì lắm đối với hai con người này. Mà cái khó khăn nhất để tiếp cận được là đàn chó tới hơn chục con, hung dữ như cả bầy hổ. Bình thường, cho dù đàn chó này có hung dữ đến mấy thì cũng chẳng cần đến một cái lia chân của hai ông. Nhưng việc đột nhập vào nhà lão Sáng cần phải tuyệt đối giữ bí mật, không được để một động tĩnh hoặc sai sót gì xảy ra. Cả hai ông cùng bóp trán, nghĩ mãi cũng chẳng biết làm cách nào để bắt cả đàn chó phải câm miệng.

– Tôi nghe người ta nói, cứ lấy tỏi giã nhỏ, xát vào người và quần áo thì đến cả chó săn cũng chịu chết luôn. – Ông Tuệ nói.

– Thì tôi cũng đã nghe, nhưng cũng chỉ là mới nghe người ta nói thế thôi chứ đã ai làm bao giờ. Ngộ nhỡ không hiệu nghiệm thì khốn. Phải tính cho thật kỹ ông ạ.

– Mẹ kiếp! Đàn chó nhà thằng này lợi hại thật.

Ông Tuệ chửi tục rồi đứng dậy, với trong hộc tường vò rượu nút bằng lá chuối, rót ra hai chén gốm màu nâu đất, đưa ông bạn một chén.

– Nào uống đi. Cứ làm vài chén rồi rượu sẽ mách diệu kế. Ông nội đỡ chén rượu, đưa lên miệng nhấp một tợp.

– Từ xưa, tôi với ông hễ uống rượu vào thì chỉ chuyện trò nhăng cuội cho vui chứ có nghị sự nghị siếc bao giờ. Đây là chuyện hệ trọng, sai một li, đi một dặm, không khéo là mất mạng như bỡn đấy.

Ông nội nói xong, tợp thêm một tợp nữa rồi đặt chén rượu xuống, đưa hai tay bó lấy đầu gối suy nghĩ. Cũng áng chừng vừa đủ thời gian rượu bắt đầu ngấm, ông nội đột ngột vỗ hai bàn tay vào nhau đánh độp cái.

– Tôi nghĩ ra rồi.

– Ông có diệu kế gì thế, nói xem nào. – Ông Tuệ giục.

– Thằng Sáng có thói quen ngày nào cũng đến sới bạc ở đầu làng. Có hôm thắng đậm, nó chuốc rượu cả bọn đến tận gà gáy thứ nhất hoặc say khướt mới về. Giờ ấy, tôi vẫn thường ra ao vợt cá nên tôi biết. Tôi sẽ phục sẵn, đánh cho nó ngất đi rồi vác về đây. Đã mang được nó về đây, ai chứ thằng này, nếu muốn gán cả nhà nó cho ta thì nó cũng gật.

Ông Tuệ nghe ông bạn nói, vỗ đùi đánh đét một cái.

– Hay! Hay! Diệu kế! Đúng là diệu kế! Tôi đã bảo mà, cứ rượu vào thì khó đến mấy cũng vỡ ra tuốt.

Cả hai ông cùng khoái trá, cười ngất ngơ. Nhưng rồi ông Tuệ bỗng nhớ ra cái chết của thằng con trai lão Sáng mới chỉ được mấy ngày. Ông nhíu bộ lông mày đến nỗi gần sát lại với nhau.

– Nhưng nhà thằng Sáng vừa làm đám tang cho con trai xong, chắc gì nó đã đến sới bạc ngay, làm thế nào bây giờ hở ông?

– Thằng này khát bạc như khát nước. Hơn nữa, nó có đặc tính, vui cũng mượn sới bạc để chia vui, buồn cũng mượn sới bạc để tiêu sầu. Chắc cùng lắm chỉ mươi ngày nữa nó sẽ mò đến thôi mà. Để chắc ăn, tôi có thằng cháu họ cũng hay lảng vảng tới đó. Tối nay, tôi sang nhờ nó theo dõi. Khi nào thằng Sáng xuất hiện, nó sẽ báo cho ta biết ngay. – Ông nội vì quá hiểu tính cách của lão Sáng nên cũng không khó khăn lắm để có lời giải đáp với ông Tuệ.

– Vậy là ổn rồi. – Ông Tuệ nâng chén rượu làm một tợp cạn đến tận đáy, rồi tiếp. – Nhưng ông Hai này, tình thế bây giờ đã khác rồi. Tôi thấy ông sang đó một mình là không được đâu. Tối nay, tôi sẽ đi cùng ông, nếu có việc gì bất trắc hoặc đụng lính thì cả hai anh em mình cùng ra tay.

Ông nội gật đầu.

Đợi trời tối, hai ông bắt đầu vượt sông. Mặc dù chuyện vượt sông khó khăn là thế, nhưng riêng với ông nội và ông Tuệ thì chuyện vượt sông vẫn cứ dễ dàng như bỡn. Mấy thằng lính Tây đi tuần, hai ông coi chỉ là hạng lông gà lông vịt, không đáng chấp.

Chỉ một loáng, hai ông đã sang được bờ bên kia rồi vượt qua “vùng đất trắng” tới được nhà của người cháu họ nằm khá sâu trong một con hẻm. Cổng ngõ cài then, nếu lên tiếng gọi thì sợ bị lộ, ông nội tìm một cành cây, đu lên, lấy sức bật thật mạnh, văng người qua hàng rào vào giữa sân. Ông Tuệ cũng làm theo ông bạn. Sau đó, cả hai ông nhẹ nhàng như hai con rắn trườn vào trước cửa nhà, đứng nép hai bên cánh cửa nghe ngóng. Một lát, không thấy động tĩnh gì, ông nội đưa tay gõ cửa “cộc cộc cộc” rồi thì thào gọi.

– Tùng ơi! Tùng!

Người cháu họ của ông nội tên Tùng, nhận ra tiếng bác mình, vội vàng chạy ra mở cửa.

– Trời ơi! Bác và cả nhà đi đâu vậy? Cả làng đồn ầm lên chị Cả là du kích đã giết chết thằng Sang. Có phải thế không hở bác?

Ông nội giơ tay lên miệng làm hiệu cho Tùng im lặng, rồi thì thầm:

– Mẹ cháu đâu?

– Dạ, mẹ cháu đang ngủ ạ.

– Thế thì tốt rồi. Chuyện về chị Cả mày dài lắm, để lúc khác bác sẽ nói. Bây giờ bác có việc cần nhờ cháu đây.

– Vâng, việc gì thế ạ?

– Dạo này cháu có hay tới sới bạc không?

– Thỉnh thoảng thôi ạ.

– Cháu có thấy thằng Sáng đến đó không?

– Dạ, nhà ông ấy vừa có tang nên vẫn chưa thấy đến. Nhưng có chuyện gì mà bác hỏi về ông ấy kỹ thế ạ?

– Đã bảo lúc khác bác sẽ nói, tình thế lúc này đang rất khẩn trương, không có đủ thì giờ để nói hết được đâu.

– Vâng ạ! Bác định nhờ cháu việc gì ạ?

– Khi nào cháu thấy thằng Sáng đến sới bạc thì báo cho bác biết ngay.

Ông nội nói rồi ghé sát tai Tùng thì thầm cách làm ám hiệu cho ông biết khi Sáng xuất hiện. Tùng nghe xong, gật đầu, miệng vâng dạ liên tục.

– Nhưng cháu có cách này còn hay hơn nhiều.

Đến lượt Tùng ghé sát tai bác mình thì thầm. Ông nội nghe xong, mừng rỡ nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Nhưng cháu nhớ tuyệt đối giữ kín câu chuyện tối nay nhé. Kể cả mẹ cháu cũng đừng cho biết. Thôi, bác đi đây.

Ông nội không để cho Tùng kịp hỏi han gì thêm nữa, cũng không cần Tùng phải mở cửa ngõ, ông kéo ông Tuệ rồi lại vọt qua hàng rào, biến mất.

***

Đã mấy ngày trôi qua vẫn không thấy động tĩnh gì, ông nội nhấp nhổm, đứng ngồi không yên, thỉnh thoảng lại lên bờ đê, hết nhìn lên trời lại nhìn về phía đình làng bên sông. Theo kế hoạch, khi nào Sáng trở lại sới bạc, Tùng sẽ ra sân đình thả chiếc diều có gắn cây sáo trúc để báo hiệu cho ông nội biết.

Dạo Tùng còn nhỏ, ông nội vẫn thường cho Tùng đi theo ra sân đình thả diều. Ông nội là tay làm diều rất sành điệu, không một ai trong cả vùng địch nổi. Cái diều lớn gần bằng cái thúng câu, có gắn cây sáo làm bằng ống trúc, to cỡ bắp chân người lớn. Tiếng sáo diều của ông nội lúc véo von, vi vút, trầm bổng, có lúc lại lắng đọng, khắc khoải, da diết theo từng cấp độ của gió, vang khắp cả một vùng trời. Người ở hai bên bờ sông đều nghe rõ mồn một. Bởi thế, khi Tùng nghe ông nội nói, đã nghĩ ngay tới việc thả diều để làm tín hiệu báo cho bác mình biết khi lão Sáng xuất hiện.

Ông Tuệ cũng đi ra đi vào, sốt ruột chẳng kém gì ông bạn mình. Ông bước đến gần ông bạn, hai tay khoanh trước ngực, có vẻ rất bực giọng.

– Thằng Tùng quên mẹ nó rồi. Đã vào sới bạc thì còn nhớ được con chó gì nữa!

– Không! Thằng Tùng, cháu tôi, tôi hiểu. Chỉ mỗi việc khuyên nhủ không được đánh bạc là nó bỏ ngoài tai. Còn bất kể việc gì, khi tôi đã nhờ, khó đến mấy nó cũng làm cho kỳ được.

Ông nội nói khẳng định như vậy bởi ông rất hiểu Tùng. Chàng trai này rất cá tính, khi đã tôn sùng ai thì hết mực trung thành. Tùng bị ông nội tôi mê hoặc ngay từ lúc mới lên mười, đến nỗi hễ cứ nghe tiếng sáo diều của ông nội là Tùng đã có mặt ngay tức thì. Tùng chạy đến, hổn hển: “Con chào bác Hai. Hôm nay bác Hai có sai con làm việc gì không ạ?” Bác Hai là tên dân làng gọi ông nội tôi vì ông là con trai thứ hai của cụ nội tôi. “Không cần. Chạy đi đâu mà thở hồng hộc thế hả? Vào kia mà ngồi cho mát, trời vẫn còn nắng lắm, hễ ốm là tao đá đít cho đấy.” Ông nội nhìn Tùng, nói, tay chỉ vào gốc cây đề cổ thụ ngay gần đó. “Vâng ạ.” Tùng nhoẻn miệng cười rất hồn nhiên rồi bước đến gốc đề, nằm ngửa nhìn lên trời theo dõi chiếc diều gắn sáo của ông bác mình đang bay lượn. Chỉ một lúc, Tùng đã bị tiếng sáo diều ru, ngủ tít. Ông nội cho diều thật căng dây rồi vào ngồi cạnh, đưa tay vuốt vuốt lên mái tóc cắt cua nom rất bướng bỉnh của Tùng. “Ngủ đi. Rồi bác sẽ bảo mày biết cách làm diều.” Tùng đang ngủ say thế mà bỗng dưng choàng dậy. “Thật thế hở bác Hai?” “Chẳng thật, dễ tao nói chơi chắc.”

Dần dần, hai bác cháu đã trở thành đôi bạn thân với nhau như hình với bóng. Ngoài chuyện mê diều, ông nội tôi còn là thần tượng của Tùng về môn võ thuật. Tùng rất thích xem ông nội và cha tôi luyện võ. Cha tôi là học trò của ông nội. Ông nội cao siêu hơn cha về kỹ thuật. Cha lợi thế hơn ông nội về thể lực nên chỉ gần ba năm sau võ công của cha đã ngang ngửa với thầy. Có lần, hai cha con thi đấu với nhau tới gần nửa ngày mà vẫn không phân thắng bại. Khi Tùng bước vào độ tuổi niên thiếu thì cha tôi cũng bắt đầu đi kháng chiến. Ông nội giữ lời hứa, dạy Tùng cách làm diều. Ông bảo, cánh diều chính là tâm tư, tình cảm của người dân đồng bằng Bắc Bộ. Tiếng sáo diều còn là sứ giả để chuyển lời tâm sự đến với mọi người, đến với quê hương, làng xóm. Những người yêu thích cánh diều chính là những người rất giàu tình cảm với quê hương, với làng xóm của mình. Rồi tự tay ông nội khoét tặng Tùng một chiếc sáo có tiếng kêu không kém gì tiếng sáo diều của ông nội.

Ông nội tôi càng nhớ thương con trai đi xa bao nhiêu, càng gần gũi quý hóa Tùng bấy nhiêu. Ông nội thu nạp Tùng làm đệ tử dạy võ. Tùng càng thêm quy phục ông bác và coi ông như người cha của mình vậy. Nhưng rồi việc dạy võ cho Tùng đã bị chấm dứt khi người yêu của Tùng bị tay trưởng đồn Tây đóng ở đầu làng cưỡng đoạt. Tùng căm lắm. Đã mấy lần Tùng định tòng quân theo Việt Minh để có cơ hội trả thù. Nhưng rồi Tùng không thể thực hiện được ý nguyện bởi nhà chỉ có một mẹ một con. Cha Tùng mất sớm. Mẹ Tùng lại đau ốm bệnh tật quanh năm. Tùng chán đời, bắt đầu sa đà vào sới bạc. Ông nội khuyên nhủ mãi nhưng Tùng vẫn chứng nào tật ấy…

Ngày Việt Minh kéo về chiếm giữ vùng bên kia sông, hai bên đánh nhau to, đạn bắn như vãi. Tùng sợ chiếc diều bị trúng đạn nên đã bọc lại rất cẩn thận, treo lơ lửng gần mái nhà như một báu vật. Bây giờ là lúc ông nội đang chờ cánh diều ấy bay lên…

– Hay là diều của nó hỏng rồi? Diều mà để lâu ngày, bị ẩm mốc, thủng rách thì còn bay thế chó nào được nữa. – Ông Tuệ nhìn ông nội, sốt ruột nói.

– Không! – Ông nội lắc đầu, quả quyết. – Thằng này giữ gìn cẩn thận lắm. Tuy treo diều cao gần đến mái nhà nhưng thỉnh thoảng nó vẫn đem hong nắng, không thể hỏng được. Mà nếu giả sử diều bị hỏng thì bằng giá nào nó cũng tìm cách báo cho tôi biết chứ không bao giờ thất hứa với tôi đâu.

– Vậy là thằng Sáng vẫn chưa chịu chui vào sới bạc à?

– Chắc thế. Tôi chỉ e nó chiếm nhà tôi rồi bán để lấy vàng cất giữ, sau đó rũ trách nhiệm luôn. Thằng này cáo già lắm.

– Thôi thì ta cứ chờ ít bữa xem cụ thể thế nào rồi tính sau.

– Ông Tuệ nói, tay nắm chặt, giơ lên ngang tầm mặt, chửi thề.

– Đ… mẹ thằng Sáng! Mày mà bán nhà của ông Hai thì nhà mày đã đến lúc mục mả rồi. Tao thề sẽ lấy mạng mày cho xem.

– Ông Tuệ ngừng một lát, rồi quay sang phía ông nội, nói tiếp.

– Mà đằng nào ta chẳng bắt nó về đây. Nếu nó đã bán thì bắt nó phải nộp lại tất cả tiền cho mình chứ lo gì.

– Tôi không cần tiền. Nhà cửa, vườn tược của tôi là nơi đất thiêng đặt bát nhang thờ cúng hương hồn tổ tiên nhà tôi, không thể để kẻ khác đến chiếm đoạt được.

– Thì bắt nó phải đòi lại.

– Ví như nó đã bán cho những kẻ có thế lực thì đòi lại thế nào được.

– Mẹ kiếp! Nếu nó bán nhà của ông rồi thì nhất định tôi phải bắt nó thế mạng. Nhưng thôi, bây giờ tôi với ông cứ vào nhà làm chén rượu. Tôi ngẫm, khi nào có việc gì không thuận, cứ làm vài chén rượu là y như rằng lại suôn sẻ ngay.

Hai người quay vào nhà. Ông Tuệ lại chửi thề lần nữa rồi kéo ông bạn ngồi xuống chiếc chõng tre kê ở giữa sân. Vẫn bầu rượu nút bằng lá chuối được ông Tuệ lại mang ra, rót vào hai chiếc chén gốm chuyên để dùng rượu.

Trong lúc hai ông đang uống rượu thì bà nội từ ngoài ngõ bước vào. Từ ngày cả gia đình phải sang sông ở nhờ ông bà Tuệ, nét mặt bà lúc nào cũng tư lự, buồn bã, lại thêm thời tiết oi ả càng làm cho bà rã rời hơn. Bà nội đưa tay quẹt mồ hôi trên mặt, bâng quơ nói:

– Đã vào thu rồi mà cứ như giữa hè vậy, mấy ngày trời, hôm nay mới có được tí gió…

Ông nội đang nhấp tợp rượu, nghe vợ nói vội đặt cái chén xuống, giơ tay chém mạnh vào không khí.

– Có thế mà tôi cũng không nghĩ ra, mấy hôm nay không có gió, làm sao mà thằng Tùng thả diều được. Nếu thằng Sáng đã đến sới bạc thì nhất định hôm nay nó sẽ mang diều ra thả. Ông nội vừa dứt lời thì nghe có tiếng vi vu từ bên kia sông vọng lại. Vốn là người tự tay khoét lỗ sáo cho cánh diều này, ông nội nhận ra ngay đó là tiếng sáo diều của Tùng. Ông vội đặt chén rượu xuống chõng, đứng bật dậy,

chạy thẳng lên bờ đê.

– Thằng Tùng thả diều! Thằng Tùng thả diều!

Ông Tuệ cũng đứng bật dậy, vội vàng lao theo ông bạn. Bà nội đứng nhìn hai người, vừa chép miệng, vừa lắc đầu, than thở.

– Già bạc cả đầu rồi chứ trẻ trung gì nữa, nhà thì đang vận hạn mà vẫn cứ ham diều y như trẻ con ấy.

Bà nội và vợ ông Tuệ hoàn toàn không biết gì về kế hoạch bắt cóc lão Sáng của hai người nên bà nội mới có ý trách móc như thế. Còn ông nội và ông Tuệ thì đã đứng trên bờ đê, chỉ chỉ trỏ trỏ. Con diều to gần bằng cái thúng câu bay cao lên dần, đến lúc chỉ còn nhỏ bằng cái quạt thì đứng im phăng phắc. Tiếng sáo của con diều cũng mỗi lúc một vang hơn, rõ hơn. Ông nội lặng lẽ, ngửa mặt, chăm chú nhìn. Môi ông mím thật chặt. Hai nắm tay ông cũng nắm thật chặt. Tâm trạng của ông lúc này chắc đang xao xuyến lắm.

– Phải ra tay ngay tối nay thôi ông ạ. – Ông Tuệ nhìn ông nội nói. Còn ông nội vẫn đứng nguyên tư thế cũ, đầu khẽ gật gật.

– Phải. Không thể chậm trễ được nữa.

Ông Tuệ giơ tay chém một nhát thật mạnh vào không khí.

– Thế là xong rồi. Bây giờ ta cứ vào uống tiếp đi.

Ông Tuệ nói rồi quay gót đi trước. Ông nội đứng nán lại thêm một lúc nữa rồi cũng bước theo ông Tuệ. Vào đến sân, cả hai ông lại sà vào chiếc chõng tre. Ông Tuệ làm tợp rượu, khà một cái ra vẻ khoái trá, rồi gọi vợ:

– Bà nó ơi, chuẩn bị cơm nước cho anh em tôi sơm sớm một tí, tối nay chúng tôi đi đằng này có chút việc đấy nhé.

***

Ngay tối hôm ấy, ông nội và ông Tuệ đều mặc bộ đồ màu đen, mặt bịt kín, chân đi giày vải chuyên dùng cho dân nhà võ, đeo kiếm lủng lẳng bên đai lưng trông giống hệt hai cao thủ võ lâm chuẩn bị lên đấu trường. Thật ra, đối với cặp đôi võ công này, đây không phải là lần đầu tiên họ làm những chuyện kinh thiên động địa. Đã rất nhiều lần, họ dạy cho bọn du côn đầu gấu chuyên làm càn những bài học nhớ đời. Thậm chí, khi quân Pháp kéo về chiếm đóng huyện Phú Vân, cả ông nội và ông Tuệ đều còn rất trẻ. Hai ông đã từng nhiều lần hóa trang, đóng giả làm những tay anh chị lang bạt kỳ hồ, phiêu dạt khắp nơi trong huyện tìm đánh cho mấy thằng lính chuyên gạ gẫm, cưỡng ép đàn bà làm những chuyện mất dạy, khiến cho bọn lính Pháp ra đường cạch hẳn. Rồi sau mỗi lần như thế, hai ông lại trở về làng, trở lại nguyên hình là những nông dân cày ruộng rất cần mẫn và mặc nhiên bọn Pháp không thể ngờ vực được…

Con thuyền đưa hai ông nhanh chóng sang bờ bên kia rồi

được giấu kín trong một bụi cỏ. Họ nhanh chóng vượt qua bờ đê, lẩn mình sâu trong “vùng đất trắng”, đi vòng đến con đường sau làng. Con đường sau làng có nhiều hẻm, ngõ ngách nhằng nhịt, đan xen giữa nhà cửa, vườn tược, ao cá, cây cối lại rậm rạp, um tùm, nếu không phải là “ thổ dân” thì khó lòng tìm được lối ra vào.

Ông nội và ông Tuệ nhanh chóng luồn sâu trong một con hẻm, đến gần căn nhà của Tùng. Buổi chiều, sau khi thả diều, Tùng biết thế nào ông bác mình cũng tới nên đã bỏ ngỏ cửa ngõ. Hai người lách qua cánh cổng khép hờ bước tới bên ô cửa sổ, gõ nhẹ lên cánh cửa từng hồi ba tiếng một. Trong nhà không thắp đèn, tối như mực. Tùng vẫn đang ngồi đợi, nghe tiếng gõ cửa biết là bác Hai đã tới, vội chạy ra đón.

– Có phải bác Hai đấy không?

– Ừ, bác đây.

Linh cảm khiến những đôi mắt bắt gặp nhau rất dễ dàng trong đêm tối mịt mùng.

– Thế nào rồi? – Ông nội thì thào.

– Lão Sáng đến sới bạc từ ba hôm nay rồi bác ạ. Nhưng rủi quá, trời không có gió nên cháu không thể thả diều được. Cháu đang nghĩ cách báo tin cho bác thì may quá hôm nay ông trời lại phù hộ.

– Thế thì tốt rồi. Bây giờ ta sẽ đi tới đó. Bác sẽ tìm chỗ phục trong vườn trước cổng nhà chứa bạc. Nếu thằng Sáng cũng có mặt thì cháu vờ ra ngoài hiên bật diêm hút thuốc lào. Còn nếu nó không đến, cháu cứ ở chơi một lát rồi về để chúng nó khỏi nghi ngờ. Nhớ là phải nhanh chóng để bác còn biết chừng.

Ông Tuệ đứng bên cạnh nghe ông bạn nói, vội chen vào:

– Thế ngộ nhỡ nó đến muộn rồi ngồi chơi đến sáng thì sao?

– Không. – Tùng đáp lời ông Tuệ. – Mấy hôm nay lão đến sớm rồi về sớm. Có thể do cái chết của thằng con trai nên lão ấy vẫn còn sợ du kích, không dám về khuya nữa.

– Vậy thì nhanh lên. Cháu cứ đường chính mà đi. Bác và ông Tuệ đi lối sau làng.

Ông nội nói xong, kéo ông Tuệ đi thật nhanh. Hai người tới gần khu nhà chứa bạc, nhẹ nhàng lách mình chui vào một bụi cây sát ngay lối đi để quan sát. Trong nhà chứa bạc được thắp sáng bằng một chiếc đèn măng sông. Ánh sáng xanh lét hắt ra sân qua những ô cửa sổ rõ như ban ngày. Cửa chính khép hờ. Một gã bảo kê đứng bên cạnh, hai tay khoanh trước ngực, lưng tựa vào vách tường. Thấy Tùng đến, hắn đưa tay mở rộng cánh cửa đủ cho một người bước lọt, tay kia làm hiệu cho Tùng đi vào rồi lại khép cánh cửa như cũ. Trong nhà vẫn đang rất ồn ào. Tiếng các con bạc khát nước sát phạt nhau chí chóe. Một con bạc nhìn thấy Tùng bước vào, ngoắc tay làm hiệu.

– Ê Tùng, dám chơi với tao một nhát không?

Tùng đánh mắt nhìn quanh một lượt, bắt gặp lão Sáng ngồi trong chiếu bạc bên phía tay trái. Tùng tảng lờ như không để ý gì đến lão, quay sang con bạc vừa lên tiếng mời, nháy mắt ra hiệu với hắn.

– Sợ đ. gì! Đợi tao làm điếu thuốc lào lấy tý son cái đã. – Tùng cầm chiếc điếu cày bước ra khỏi cửa, đánh diêm thản nhiên rít một hơi dài rồi quay vào. – Nào, chơi thì chơi.

Ông nội với tay, lần tìm bàn tay ông Tuệ bấm nhẹ một cái ra hiệu. Ông Tuệ hiểu ý, cũng bấm lên bàn tay ông nội ý nói đã biết rồi. Hai người ngồi im như hai pho tượng, chờ đợi. Tiếng muỗi vo ve. Chúng muốn sà xuống bàn tay của hai người là chỗ duy nhất có thể kiếm chác được bữa tiệc ngon lành. Thỉnh thoảng, ông nội và ông Tuệ lại phải đưa bàn tay nọ vuốt lên bàn tay kia, xua đuổi không cho lũ muỗi có cơ hội cắm vòi. Trong sới bạc, hầu hết là dân anh chị, sẵn sàng xin “tiết” nhau nếu kẻ nào đó dám xóc óc mình. Tùng vào đó mà không bị kẻ nào bắt nạt vì chàng đã học được ít nhiều võ công từ ông nội, đủ để tự bảo vệ mình. Tiếng chửi thề, văng tục, tiếng cười, tiếng rú, tiếng ca thán vì đỏ đen ầm ĩ.

Ông nội và ông Tuệ ngồi đợi sốt cả ruột. Lão Sáng vẫn cắm chặt mông trên chiếu, chưa chịu nhổ rễ đứng dậy. Ông nội ghé sát tai ông Tuệ, thì thào chỉ vừa đủ để ông Tuệ nghe thấy.

– Sợ nó ngồi đến sáng thì hỏng bét.

– Thì cũng phải chờ thôi chứ biết làm sao được.

Hai ông vừa dứt lời, bỗng nghe tiếng la hét, làm huyên náo, ầm ĩ cả sới bạc.

– Đồ lừa đảo! Quân ăn cướp! Tao sẽ giết mày! – Tiếng Tùng rít lên.

– Bỏ mẹ, hỏng rồi, thằng Tùng gây lộn rồi. – Ông Tuệ bấm tay ông nội, thì thào.

Ông nội lại bấm tay ông Tuệ làm hiệu im lặng, rồi ghé sát tai ông Tuệ.

– Thằng Tùng cố ý gây lộn đấy.

Ông nội vừa dứt lời thì thấy lão Sáng lập cập bước ra. Lão Sáng đầu đội khăn xếp, mặc áo the, quần trắng, chân đi guốc mộc, tay lão cầm chiếc ba toong bằng trúc, chỗ tay cầm uốn cong có khắc hình đầu rồng. Lão trạc tuổi với ông nội tôi nhưng phong cách hai người khác hẳn nhau. Bình thường, lão là hạng người rất thích ra oai, đi đứng ăn nói vừa khệnh khạng, vừa hách dịch. Nhưng lúc này, nhìn bộ dạng của lão thấy mất hết nhuệ khí. Lão Sáng có nhiều kẻ thù, chính vì thế, lão rất sợ những cuộc ẩu đả nơi đông người. Lão sợ bị oan gia. Biết đâu có kẻ lợi dụng lộn xộn mà cho lão ăn đòn. Tốt nhất là chuồn! Thế nên vừa thấy đánh lộn là lão đã vội vã bỏ về ngay. Tùng thừa biết lão Sáng là hạng người như thế nên đã cố tình gây ra cuộc ẩu đả để đuổi lão ra khỏi sới bạc.

Vừa ra khỏi cửa, lão Sáng cúi xuống tháo đôi guốc, cắp vào nách. Mắt lão bị quáng do ánh đèn măng sông nên bộ dạng càng thêm lập cập. Lão cầm cây ba toong dò dẫm tìm đường như người bị lòa. Đi sau lão là thằng bé người hầu, tay cắp chiếc tráp, thấy chủ dò dẫm tìm đường vội chạy vượt lên, đưa tay kia nắm lấy bàn tay ông chủ.

– Ông để con dắt kẻo ngã ạ.

Thường ngày, thằng bé người hầu mà dám đi ngang hàng với lão thì kiểu gì cũng được nếm vài chiếc ba toong, không vào đầu thì cũng vào người, đau điếng. Nhưng lúc này, lão Sáng lại rất ngọt ngào với thằng hầu.

– Ừ phải. Trời tối quá, mày dắt ông cẩn thận, kẻo ngã đấy. – Lão Sáng nói xong, tiện mồm, chửi. – Tiên sư chúng nó, ông đang vào cầu. Chúng nó mà không phá đám, phen này ông ăn đủ.

Chủ tớ lão Sáng đã ra khỏi cổng ngõ của ngôi nhà chứa bạc, rồi rẽ về phía tay trái để ra con đường chính của làng. Lão chỉ còn cách chỗ ông nội và ông Tuệ đang ngồi chừng mấy sải tay. Hai người bấm nhau, im lặng. Đợi cho chủ tớ lão Sáng đi vượt qua, ông nội ghé sát tai ông Tuệ, khẽ nói:

– Lại lòi ra thằng bé con nữa, rách việc quá. Ông Tuệ nhíu mày, nói thầm vào tai ông bạn:

– Làm thế nào bây giờ? Hay ta cứ theo kế hoạch mà làm?

Ông nội biết ông Tuệ là người nóng tính, lại kém xử lý những tình huống bất ngờ như thế này, có thể sẽ làm hỏng việc hoặc có khi còn gây hại cho thằng bé. Ông nhíu mày, phác nhanh kế hoạch rồi lại ghé sát tai ông Tuệ:

– Đã vậy rồi, ông cứ lo cho vụ thằng Sáng, để thằng bé con đấy, tôi sẽ liệu.

– Được.

– Bắt đầu đi.

Ông nội nói, rồi nắm bàn tay ông Tuệ giật một cái làm hiệu. Cả hai người cùng đứng dậy, bước ra khỏi bụi cây, đi như chạy, chỉ trong nháy mắt đã đuổi kịp chủ tớ lão Sáng. Ông Tuệ đập mạnh bàn tay xuống vai lão Sáng, làm lão giật thót tim.

– Đứng lại.

Lão Sáng còn chưa kịp phản ứng gì thì ông Tuệ đã giơ thẳng cánh tay chặt một nhát ngang gáy. Lão Sáng đổ vật xuống, người mềm nhũn như tàu lá héo. Thằng bé con không kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra, sợ quá, vội quỳ xuống, hai tay chắp lại, miệng lắp bắp nhưng chẳng nói được gì. Ông nội vội giơ ngón tay lên miệng suỵt một tiếng làm hiệu cho thằng bé im lặng.

– Cháu đừng sợ. Các ông không làm gì cháu đâu. Bây giờ, cháu phải đi theo các ông, nghe rõ chưa. Nào. Thật nhanh lên.

Ông nội kéo thằng bé, chạy vào khu vườn trồng sắn để vòng ra con đường sau làng. Ông Tuệ vác Sáng trên vai, bước thật nhanh để đuổi theo ông bạn. Chỉ một lát sau, tất cả đã lẩn sâu trong khu “vùng đất trắng”, rồi tới cánh rừng hoang ở chân đê. Hai người cùng dừng lại quan sát xung quanh, không thấy động tĩnh gì mới nhanh chóng vọt qua bờ đê, xuống thuyền.

Ông Tuệ xuống trước, cái xác không hồn của lão Sáng vẫn buông thõng trên vai. Ông nội dắt thằng bé xuống theo, chỉ chỗ cho nó ngồi.

– Cháu cẩn thận kẻo ngã.

Thằng bé run rẩy ngồi xuống chỗ ông nội chỉ, hai tay bám chặt trên thanh đố ngang của con thuyền. Ông nội cầm cây sào đẩy thật mạnh cho thuyền ra xa bờ, rồi gác sào dọc theo lòng thuyền, hạ chèo, bải người điều khiển cho con thuyền lao vun vút sang bờ bên kia.

Thuyền vừa cập bến, ông nội nhanh chóng gác chèo, chạy lên mũi thuyền, cầm theo chiếc dây làm bằng sợi chão, nhảy lên bờ, ghì chặt thuyền rồi quấn mấy vòng dây chão vào chiếc cọc đóng sẵn, buộc chặt lại. Xong đâu đấy, ông nội quay lại nhìn thằng bé.

– Cháu lên đi.

Thằng bé vẫn chưa hết sợ, chân tay run lẩy bẩy, rón rén từng bước. Ông Tuệ vẫn vác Sáng trên vai, đợi cho thằng bé lên bờ xong, ông mới thong thả bước từng bước nhẹ nhàng như không hề vướng bận gì.

Tất cả cùng leo lên mặt đê. Ông nội dắt thằng bé đi trước. Ông Tuệ thủng thẳng bước theo sau. Vừa vào đến sân, ông nội quay lại nói với ông Tuệ:

– Ông cứ từ từ, để tôi chuẩn bị chỗ cho nó nằm, đừng quẳng mạnh, nó chết mất.

Ông Tuệ cũng định ném lão Sáng xuống một góc ở vườn chuối sau nhà, nghe ông bạn nói thì dừng lại, đứng chờ. Ông nội vội vàng chạy xuống bếp, thổi lửa từ con bùi nhùi để châm lửa cho chiếc đèn dầu rồi mang lên gian buồng bên trái. Gian buồng này khuất hẳn với gian nhà ngang có vợ ông Tuệ, bà nội và chị gái tôi đang say sưa ngủ. Ông nội đặt chiếc đèn vào hốc tường, sau đó, quay ra hiên bưng chiếc chõng tre đặt vào góc buồng. Xong đâu đấy, ông nội quay ra, bảo ông Tuệ:

– Cho nó vào đi.

Ông Tuệ vác lão Sáng vào buồng. Ông nội bước đến, cùng đỡ lão Sáng cho nằm xuống chõng. Lão Sáng nằm sõng thượt, đầu ngoẹo hẳn sang một bên. Ông Tuệ nhìn lão Sáng, buông câu chửi:

– Mẹ con chó! Không nghe lời, ông cho mày trôi sông luôn. Thằng bé quỳ bên cạnh chiếc chõng, đầu cúi xuống, hai tay khoanh trước ngực run lên cầm cập. Ông nội kéo chiếc ghế

tre, ngồi bên cạnh thằng bé.

– Cháu tên gì?

– Dạ, thưa ông, cháu tên Còi ạ. – Thằng bé lập bập trả lời.

– Cháu mấy tuổi?

– Dạ, cháu mười ba ạ.

– Mười ba gì mà bé tẹo thế này?

– Vâng ạ. Có thế nên cả nhà ông chủ mới đặt tên cho cháu là Còi ạ.

– Cháu quê ở đâu?

– Dạ, cháu quê ở Thái Bình ạ.

– Bố mẹ cháu đâu?

– Bố mẹ cháu chết cả rồi ạ.

– Bố mẹ cháu chết từ bao giờ?

– Dạ, bố mẹ cháu chết hồi năm bốn nhăm. Cháu được ông Sáng nhặt về nuôi từ năm lên sáu tuổi ạ. Ông nội nghe thằng bé nói, đồ rằng bố mẹ nó chắc bị chết đói. Dạo ấy, người Thái Bình bị nạn đói khủng khiếp đã lũ lượt kéo nhau đi khắp nơi kiếm ăn, chết ở dọc đường rất nhiều. Ông nội xoa đầu thằng bé, tỏ vẻ thương hại.

– Ông hiểu rồi. Nhưng bây giờ cháu hãy nghe ông nói đây. Các ông sẽ không làm gì cháu đâu, nhưng tạm thời cháu cứ để ông trói lại. Lát nữa ông Sáng tỉnh dậy, thấy cháu cũng bị trói, ông ấy sẽ không nghi ngờ gì cháu, chứ nếu để ông ấy nghĩ khác, về nhà ông ấy sẽ đánh đập, tra khảo cháu đến chết đấy… Sau khi dặn dò thằng bé cẩn thận, ông nội lấy chiếc dây thừng trói cả hai tay hai chân Còi, đặt cạnh chiếc chõng lão

Sáng đang nằm.

– Cháu cứ tạm thế đã nhé.

Ông nội vừa nói, vừa lấy tay vỗ nhẹ vào người thằng bé trấn an, rồi quay sang ông Tuệ phẩy tay ra hiệu bắt đầu hành động.

Ông Tuệ gật đầu, đưa tay lần lần sau gáy lão Sáng, điểm huyệt.

– Xong rồi. Cứ để chủ tớ nó nằm đấy, ta ra ngoài làm chén rượu cái đã.

Hai người ra ngoài rót rượu uống và chớp nhoáng bàn bạc cách xử lý. Chỉ một lát, lão Sáng đã cử động dần rồi từ từ mở mắt. Lão Sáng thấy người đau ê ẩm. Ánh đèn dầu được ông Tuệ khêu to đủ để lão nhận ra mọi thứ xung quanh. Lão thấy lạ hoắc, định chống tay ngồi dậy nhưng không tài nào nhấc được tấm thân nặng trịch, đành buông mình rơi bịch xuống.

– Thằng Còi đâu rồi? Đây là đâu thế này? – Lão vừa rên rỉ, vừa gọi.

– Thưa ông. Con đây ạ. – Còi nghe tiếng ông chủ, vừa giả vờ rên hừ hừ, vừa trả lời.

Lão Sáng nghe tiếng Còi đáp, quay đầu nhìn, thấy thằng hầu của mình bị trói cả hai chân hai tay thì hoảng hồn. Lão quên cả người ngợm đang đau nhừ, bật choàng dậy.

– Sao lại thế này?

Lão Sáng ngơ ngác, còn chưa kịp nhớ lại chuyện gì đã xảy ra thì ông Tuệ đã bước vào. Ông Tuệ vẫn mặc nguyên bộ đồ từ lúc sang sông, chỉ mỗi chiếc khăn bịt mặt là được tháo bỏ. Ông Tuệ dừng lại trước mặt lão Sáng, hai tay khoanh trước ngực từ từ hạ xuống, đặt vào đốc kiếm.

– Có nhận ra tao không?

– Ông Tuệ!

Lão Sáng nhận ra người đứng trước mặt là ông Tuệ bởi dạo Việt Minh chưa về chiếm đóng bên kia sông, ông Tuệ vẫn thường sang chơi với ông bạn là ông nội tôi. Cặp đôi anh tài này, cả một vùng, không mấy ai không biết đến danh tiếng.

Ông Tuệ gật đầu.

– Còn nhận biết được thế là tốt. Mày có biết vì sao chúng tao lại bắt mày sang đây không? – Rồi không cần đợi lão Sáng trả lời, ông Tuệ nói luôn. – Cướp đất, cướp nhà của người lương thiện. Tội mày đáng chết. Hôm nay tao sẽ mày cho về chầu giời cùng với ông bà ông vải và thằng con trai khốn kiếp của mày, nghe chưa.

Ông Tuệ nói xong, bất ngờ thay đổi tư thế rất nhanh, chân phải choãi ra, chân trái hơi khuỵu xuống, đầu gối chống vào lưng lão Sáng đủ cho lão khỏi bị ngã ngửa, một tay ông nắm lấy mớ tóc lòa xòa của lão Sáng giật ngược về phía sau, tay kia rút kiếm đánh xoạt.

– Tao sẽ cắt cổ mày.

Lão Sáng vãi tè, ướt sũng cả đũng quần. Người lão mềm nhũn nhưng hai hàm răng lại cứng đơ, không thể nhấc lên được. Vừa lúc ấy, ông nội xuất hiện. Ông nội vội vàng chạy đến, đỡ lấy tay kiếm của ông Tuệ bằng một động tác dứt khoát.

– Hãy từ từ đã.

Ông Tuệ quay lại nhìn ông bạn. Hai người hiểu ý nhau. Ông Tuệ vẫn nhìn ông bạn chằm chặp bằng ánh mắt đầy vẻ trách móc.

– Ông định tha tội chết cho nó phải không? Nó cướp đất cướp nhà của ông, tội ấy chưa đáng chết hả?

– Ông hãy từ từ đã, ông Sáng đang ở trong tay ta, nếu muốn giết thì lúc nào chẳng giết được. Có một chuyện ông ấy chưa được biết. Ông hãy để tôi nói chuyện với ông ấy, tôi tin chắc khi biết được sự thật câu chuyện, ông ấy sẽ hối hận ngay thôi.

– Ông thì lúc nào cũng thế. Nhân ái với kẻ thù là tự giết mình! Gia đình tan nát cũng từ chỗ chúng nó ra cả mà ông vẫn không tỉnh ngộ. – Ông Tuệ nói như có vẻ trách móc ông bạn rồi buông tay khỏi lão Sáng, vùng vằng bỏ ra ngoài. Ông nội ngồi xuống chõng sát với lão Sáng, đưa tay nắn nắn lên vai lão.

– Đau hả.

Lão Sáng gật đầu, rồi nằm im. Lão rất hiểu con người đang ngồi bên cạnh lão, nổi tiếng nhân nghĩa, hào hiệp, không làm điều gì ác với ai bao giờ nên cũng thấy bớt sợ được phần nào. Ra là vậy! Lão Hai đã đưa cả gia đình chạy trốn sang đây! Bỗng nhiên lão Sáng thấy uất nghẹn. Thật khốn kiếp, từ ngày Việt Minh kéo về, chiếm được làng Hạ, hễ có đứa nào phạm tội đều tìm cách chạy trốn sang đây! Lão cũng không thể ngờ được, đứa con dâu nhà ông Hai nổi tiếng hiền lành, phúc hậu, thế mà lại dám cả gan làm du kích. Chỉ có bọn du kích mới dám làm chuyện động trời như vậy, dám giết chết con trai lão là một sĩ quan nhà binh. Cơ thể lão lúc này giống như một cỗ máy mà tất cả các chi tiết đang vận hành trái chiều với nhau. Từ lúc lão khiếp đảm, vãi cả tiểu ra quần, đến khi gặp ông nội thì lóe lên chút hy vọng được sống nên cái tính ngạo mạn vốn có trong con người lão lại bắt đầu quẫy đuôi. Nhưng dù thế nào thì bây giờ cũng phải cố hết sức điều chỉnh để cái cỗ máy ấy không bùng nổ, có thể sẽ gây bất lợi cho lão. Mặc dù lão biết chắc chắn ông Hai sẽ không bao giờ giết lão. Nhưng còn thằng Tuệ, nếu lão không cẩn thận, nó sẽ cắt cổ lão như chơi chứ không dọa suông. Lão gồng mình. Sự gồng mình có vẻ như quá sức, trào lên khóe mắt, làm lão thấy cay xè. Rồi bỗng lão nấc lên. Lão òa khóc. Lão khóc nức nở. Hình ảnh thằng con trai và cái xác trương phềnh lập lờ trên mặt giếng bắt đầu gõ vào bộ cảm ứng của lão…

– Ông Sáng!

Tiếng ông nội gọi làm lão Sáng giật mình. Lão đang khóc nức nở bỗng im bặt. Lão từ từ xoay người lại, hướng đôi mắt về phía ông nội. Đợi một lát cho lão Sáng trấn tĩnh lại, ông nội nói tiếp:

– Cũng là bất đắc dĩ nên chúng tôi phải mời ông sang đây, mong ông bỏ quá cho.

Lão Sáng vẫn im lặng. Ông nội lại nói tiếp:

– Tôi biết, chắc chắn ông chưa thể nguôi cơn giận đối với cha con tôi được. Nhưng nếu ông nghe câu chuyện tôi sắp kể thì ông sẽ hiểu và thông cảm cho chúng tôi. Con dâu tôi không phải là kẻ giết người. Cha con tôi cũng không phải là kẻ phạm tội mà phải đào tẩu như ông đang nghĩ.

Ông nội vẫn nhẹ nhàng nói. Lúc này, nhìn ông chẳng hề giống dân nhà võ tí nào, mà trái lại, ông rất giống một vị cứu khổ cứu nạn cho kẻ khốn cùng đang cận kề bên miệng hố của tử thần. Ấy thế mà lão Sáng vừa nghe thấy thế, đã lập tức trở lại ngay với thói đời vốn sẵn có trong người lão. Con mắt lão đang u tối như chiếc hũ sành bịt kín bỗng bật tung nắp, trợn ngược lên nhìn chằm chằm vào mặt ông nội. Ánh mắt của lão như muốn lỡm thị ông nội tôi là kẻ cố tình đặt điều để lừa mị lão. “Tang chứng, vật chứng đã rõ ràng. Nếu con dâu ông không phải là kẻ giết người thì tại sao phải tức tốc chạy sang đất của Việt Minh?” Lão Sáng nghĩ và lẩm bẩm trong họng. Những âm thanh vừa phát ra từ cái miệng lão rất nhỏ, chỉ đủ cho hai cái lỗ tai của lão đớp gọn, giấu vào bên trong lớp màng nhĩ của lão. Ông nội vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, theo dõi. Mọi nhất cử nhất động của lão Sáng đều không thể lọt qua được con mắt của ông nội.

Lão Sáng vẫn im lặng. Cái đầu lão ngoẹo hẳn sang bên trái, cái môi dày bự hơi nhếch lên. Ông nội biết đó là cách lão đang muốn bày tỏ thái độ phản ứng, không muốn nghe lời. Bản chất thằng này là vậy! Là người cùng làng, ông nội không còn lạ gì bản tính của lão.

– Ông Sáng, chẳng hay ông có sẵn sàng nghe tôi nói? – Ông nội bắt đầu nghiêm giọng lại. – Biết nghe lời chúng tôi chỉ có lợi hơn cho ông thôi. Nếu ông cố tình không muốn nghe thì tôi cũng đành phải trả lại quyền quyết định số phận của ông cho ông Tuệ vậy.

Ông nội đứng phắt dậy, định quay gót thì lão Sáng cuống cuồng quay đầu lại, miệng rối rít nói:

– Ấy không! Tôi nghe đây. Ông Hai cứ nói đi.

Ông nội biết chỉ cần dọa thế đã quá đủ để lão Sáng lại muốn vãi tiểu ra quần. Ông từ từ ngồi xuống. Vẫn bằng ánh mắt hết sức dịu dàng nhưng rất nghiêm nghị chiếu thẳng vào mặt lão Sáng.

– Giữa tôi với ông là tình làng nghĩa xóm, nếu không muốn cứu ông thì tôi đã để mặc cho ông Tuệ xử ông, liệu cái cổ kia có chịu nổi một nhát kiếm của ông ấy?

Ông nội vừa nói, vừa chỉ vào cổ lão Sáng khiến lão rùng mình. Sắc mặt lão Sáng lại đổi màu xám ngoét y như lúc bị ông Tuệ rút kiếm dọa.

– Vâng, ông Hai nói đi.

Ông nội bắt đầu mang đầu đuôi câu chuyện Sang định giở trò đồi bại với con dâu ông ở miếu Cô Xoan kể cho lão Sáng nghe. Khi ông nội kể xong, lão Sáng bỗng ứa hai hàng nước mắt. Môi lão rung rung như người đang sắp khóc.

– Con trai tôi. Khổ thân nó! Chắc cũng là nghiệp chướng mà nó phải gánh thôi ông Hai ạ. Ông biết đấy, vợ nó cũng trẻ đẹp chứ có đến nỗi nào mà lại đi làm điều dại dột như thế chứ. Tôi cúi đầu tạ tội với ông Hai và xin lỗi chị Cả. Tôi cắn rơm cắn cỏ xin được ông Hai và chị Cả tha tội cho cha con tôi.

Lão Sáng nói xong, bật khóc hu hu như một đứa trẻ…

THẾ ĐỨC

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.