Trần Vạn Giã “thưa mẹ con về”

Vanvn- Với bản tính ngoài đời hiền lành, nhân hậu thi sỹ Trần Vạn Giã là một con chiên ngoạn đạo nên ông luôn chừng mực ở mọi cung bậc cảm xúc dù trên thơ ca nơi ông có thể tự do kể làm cánh chim đại bàng. Ông làm thơ phản chiến, thơ viết trong tù ngục chế độ cũ nhưng tất cả đều toát nên nỗi niềm thương nhớ quê hương, người thân như mẹ, vợ và con yêu. Sau này Trần Vạn Giã vẫn chạy song song hai mạch nguồn của mình: thế sự và cảm xúc quê hương tình người…

Nhà thơ Trần Vạn Giã

Trần Vạn Giã sinh năm 1945, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, tác giả của hơn 16 tập thơ xuất bản từ năm 1970 tới nay. Ông là gương mặt thơ thân quen với làng thơ Khánh Hòa và cả nước với những câu thơ chứa chan tình người, tình quê hương và tình yêu.

Làm thơ vốn không khó, làm nhiều cũng không vất vả gì nhưng để có được đôi bài thơ tràn trề âm hưởng, có những câu thơ  sâu lắng phảng phất ấn tượng với lòng người thì khó biết bao. May mắn thay “Trần Vạn Giã đã vượt qua được ải nhọc nhằn đó gây ấn tượng tốt nhờ có câu thơ chân thật có nghĩa có tình ” (Đào Xuân Quý – nhà thơ, dịch giả). Nhà thơ Giang Nam cũng khẳng định rất chân thành: “Thơ Trần Vạn Giã đã đi vào lòng người bằng những câu thơ lục bát chứa chan hồn quê Khánh Hòa, anh xứng đáng là nhà thơ tiêu biểu sau Giải phóng cho nền thơ đất này.”

Cho đến bây giờ, đã gần 77 mùa gió bay với gần 16 tập thơ trải dài dằng dặc thời gian của 50 năm như  triền cát Tu Bông (Vạn Ninh, Khánh Hòa) thi sỹ họTrần vẫn lưu giữ trong trái tim những thổn thức của làng quê với những dải đồi cát cô đơn mênh mông tít tắp đến tận chân sóng biển Đông. Ở nơi đó có những người phụ nữ đêm trăng ra ngồi  bên những bụi cỏ gai trên đỉnh đồi cát ngóng chờ cánh buồm ra khơi  trở về lộng. Dưới cánh buồm, bên mái chèo nhỏ đó là đôi  cánh tay trần của người chồng hay những đàn ông của làng đang hối hả với sóng nước. Thật đau khổ  khi có những người phụ nữ sẽ ngồi chờ mãi trên ngọn đồi bơ vơ đó vì không bao giờ thấy cánh buồm thân quen trở về.

Với mình – thi sỹ Trần Vạn Giã kể, đồi côi đơn bên “ngòi cát xể” (lạch nước trong veo chảy từ rừng bần Tuần Lễ chảy ra vịnh Vân Phong) chính là số phận của người mẹ của mình. Đó là cuối năm 1944 khi giọt máu trong bụng người phụ nữ làng Tuần Lễ chưa kịp lớn lên đã mồ côi cha. Người phụ nữ đó ( mẹ của Trần Ngọc Ẩn – Tên thật của nhà thơ Trần Vạn Giã) đã mất chồng – người mà hơn năm  trước là anh chàng học trò xứ Nghệ trên đường du nam đã dừng chân ở đây làng Tuần Lễ – Tu Bông, Vạn Giã, Khánh Hòa kết duyên cô gái kém mình 20 tuổi. Trên đường trở về quê hương xứ nghệ lúc  quay lại vì chiến tranh đã dừng lại bên đèo Cả và biệt vô âm tín mãi mãi để người phụ nữ vẫn thời xuân sắc ngồi trên đồi cát nhìn về phương bắc thấy đá bia trên đèo Cả mà ngỡ là mình: Hòn vọng phu với “Đêm. Người đàn bà xõa mình nằm trên cồn cát. Chung quanh là sóng bạc… xung quanh là gió ngàn khơi” (Người đàn bà ngồi trên cồn cát). Đó chính là biến cố cũng là định mệnh báo hiệu cho số phận đầy lận đận, vất vả, đau khổ đắng cay đeo đuổi mãi hơn 2/3 cuộc đời chàng trai sinh ra trên miền cát: Trần Vạn Giã!

Đọc các tập thơ của Trần Vạn Giã từ thập niên 1970 cho đến bây giờ thật đa dạng nhưng không bề thế, không hào sảng hay khí phách… Tất cả đều là những cung nhạc của tâm hồn người thi sỹ buồn. Với bản tính ngoài đời hiền lành, nhân hậu thi sỹ Trần Vạn Giã là một con chiên ngoạn đạo nên ông luôn chừng mực ở mọi cung bậc cảm xúc dù trên thơ ca nơi ông có thể tự do kể làm cánh chim đại bàng. Ông làm thơ phản chiến, thơ viết trong tù ngục chế độ cũ nhưng tất cả đều toát nên nỗi niềm thương nhớ quê hương, người thân như mẹ, vợ và con yêu. Sau này Trần Vạn Giã vẫn chạy song song hai mạch nguồn của mình: thế sự và cảm xúc quê hương tình người.

Ở tình cảm quê hương tình yêu sự khắc khoải, diệu vợi buồn trong nỗi cô đơn bằng những vần thơ lục bát Trần Vạn Giã đã trọn vẹn độ chín, không phải ngẫu nhiên ông ra hẳn một tập thơ có tên“ Lục bát quê nhà” ở đó ông thả sức ngâm nga và ngậm ngùi với mẹ và quê nghèo của mình : “Cát làng nóng bỏng dấu chân. Bao nhiêu gian khổ dành phần mẹ ta”. Như đã nói ở trên người mẹ của thi sỹ là điển hình cho người đàn bà miền gió cát Tu Bông xứ Giã nên Trần Vạn Giã thường xuyên mơ, khóc và cười với mẹ trong tiềm thức chứa chan của mình. Ông có nhiều bài thơ hay về mẹ như “Thưa mẹ con đi” :“Con bỏ quê lên phố. Mẹ ở  lại với làng. Gom nỗi buồn trong gió” hoặc “Thưa mẹ con về”:“Đã lâu con đã nhớ nhà. Nhớ cơn gió thoảng là là hương cau. Những chiều mẹ đứng ngõ sau. Lui cui tóc bạc trên đầu mẹ ơi”.

Cùng với mẹ, quê hương với Trần Vạn Giã hơn là máu thịt đó là hơi thở, là sự thổn thức thường trực trong trái tim yếu đuối của nhà thơ. Khác với những người con khác với Trần Vạn Giã quê cha miền xứ Nghệ xa vời thăm thẳm và mờ mịt như nhớ về cha chưa biết mặt. Quê mẹ miền cát bay lồng lộng gió cũng có bờ tre đồng lúa nhưng vây quanh là biển rợn sóng chỉ có những rặng bần cổ thụ xanh thẳm trầm mặc buồn.

Trần Vạn Giã tâm sự, khi bé thơ tôi hay ra rừng bần ngồi dưới gốc bần xù xì thô ráp ngước lên vòm xanh với những tán lá lăn tăn thấp thoáng chùm quả mà ngỡ đó là bóng cha vì cây bần im lìm quá, đến những cơn gió thổi ào ạt qua lá cũng không phát ra âm thanh. Đúng là hình dáng cha tôi, người cha im lặng với má với tôi từ khi tôi chưa ra đời. Nếu cha tôi im lặng mãi mãi với thời gian và bóng núi thì bà ngoại và mẹ tôi lại làm cho tâm hồn tôi rợn sóng xôn xao. Nhờ có bà hay nói tôi đọc Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm. Mẹ cho tôi đi học ngôi trường làng bên rừng bần mà tôi có chữ, sau này nhờ làm thơ mà “Vịn câu thơ đứng dậy” (chữ của Phùng Quán) trước cuộc đời bão tố.

Với Trần Vạn Giã thêm một miền quê nữa chính là Đất Sét (nay là xã Diên Xuân, Diên Khánh, Khánh Hòa) nơi là chàng cởi áo thi sỹ làm người nông dân, làm tiều phu đốn củi làm rẫy suốt thời trai trẻ gian khổ sau giải phóng. Chính nơi đây là hun đúc lên một tâm hồn đầy khí khái của Trần Vạn Giã sau này. Tất nhiên sao không nhắc đến Nha Trang  với những con sóng biển dịu dàng làm dịu tất cả những vết thương gian khổ của thi sỹ. Người viết bài vẫn nhớ hơn 10 năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, 2/3 gia đình viên chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Khánh Hòa Trần Vạn Giã ở trong hai căn phòng nhỏ trong khuôn viên cơ quan ở trên đường Trần Phú. Đây là thời điểm những đứa con của Trần Vạn Giã  thi nhau lớn lên đi học tất cả đều bấu víu vào đôi vai người cha, với lương công chức ít ỏi mà không hiểu sao đàn con của ông vẫn trở thành: bác sỹ, giáo viên, cử nhân, thạc sỹ, và cả thi sỹ, nhà dịch thuật…Tôi ngẫm thấy người cha đó như một con chim ròng rọc chắt hết tất cả vì con và vì thơ. Như con chim ròng rọc bé nhỏ, yêu đuối nhưng lại đan được cái tổ bằng cỏ đẹp hơn cả lẵng hoa cho đời chính là tâm hồn thơ ca!

Trần Vạn Giã luôn viên mãn với thành quả lao động của mình, bởi với ông dù phía sau có những đồi cát đang sụt lở gió bay nhưng trước mặt vẫn thấp thoáng rừng bần xanh thẳm, mặc dù rặng xanh đó luôn  im lặng nhưng làm tâm hồn ông thổn thức màu quê hương.

Giờ người ta vẫn gặp Trần Vạn Giã, dáng cao gầy hay ngồi trong căn phòng nhỏ ở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Khánh Hòa – nơi ông làm chuyên gia cố vấn về vấn đề tôn giáo.  Bên ông cùng với sách báo đầy ngộn có một bức tượng trắng im lìm mà không mấy người biết. Đó chính là tượng nhà thơ Trần Vũ Mai. Bức tượng bị lưu lạc từ Hà Nội vào Phú Yên về Khánh Hòa cuối cùng duyên sao Trần Vạn Giã dang tay đón về để ở phòng làm việc của mình như một sự tri kỷ khi bạn còn sống với mình những năm sau Giải phóng. Ở đó hai người bạn thơ thường “trò chuyện” với nhau và nhiều bài thơ phác thảo đầu tiên của Trần Vạn Giã thì “Trần Vũ Mai” là người nghe đầu tiên và lặng lẽ mỉm cười.

LÊ ĐỨC DƯƠNG 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.