Tìm một chỗ làm người – Tiểu luận của Nguyễn Chí Hoan

Vanvn- Tuy tràn ngp nhng chuyn truyn k, huyn bí, và vi nhiu nhân vt lch s nhưng các truyện Phm Lưu Vũ không thành ra nhng truyn thn tiên hin đi (như thể loi fantasy ) cũng không thành ra các truyn dã s hin đi: tác giả này, người đã bt đu bng nhng truyn ngụ ngôn đương đại cc k đc đáo.

Đấy là một ý tôi rút ra từ một chi tiết ở truyện Thiền trôi trong tập Chiếc khoen đồng của Phạm Lưu Vũ; đoạn ấy như sau:

“Đạo sĩ Đỗ Tờ chân nhân thất vọng quay ra. Ngày hôm ấy và mấy ngày sau đó, ngài còn đi rất nhiều nhà nữa, mang cái công đức đẻ con giời ấy ra dụ, khắp kinh thành ai cũng sợ hãi mà từ chối như Vịnh Bá Bá. Thất vọng trở về động, bụng nghĩ tìm một chỗ để làm người, dẫu có là con giời đi nữa, thì sao mà cũng khó đến thế?”

Hẳn không chỉ có tôi, trong bao nhiêu người đã đọc, bật cười thích thú với đoạn văn này – với cái sự kiện lạ lùng được kể ở đây: có một ông đạo sĩ nổi tiếng một hôm bỗng dưng  đến gõ cửa từng nhà của nhiều cư dân thành thị thủ đô, để chào mời gia chủ cái cơ hội (tự) thụ thai mà rồi chắc chắn sẽ đẻ được một cậu “con giời”.

Nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan ở Hà Nội

Hãy thử hình dung cái chi tiết truyện này như thể nó diễn ra trong cái thế gian ta đang sống và đã biết, như là một sự kiện trong đời thường nhật, tuy rất hiếm gặp, nhưng khả dĩ.

Có như thế chăng?

Đấy là điều tôi nghĩ rất đáng lưu ý: chi tiết kể trên có vẻ như chỉ là một nét hoa mỹ phóng túng trong cả một tiết truyện dài về nguồn gốc thân phận nhân vật Ngọc Tuấn-Ngọc Tiến, nhưng thực ra nó là  góp sức gợi lên cả một bối cảnh, dù theo cách chấm phá, theo đó những cư dân “kinh thành” ấy vốn là vẫn quen sống trong mối liên hệ sinh động cõi trần-cõi Trời, cũng như quen với sức thần thông bằng thật của những đạo sĩ hay hòa thượng. Vậy thì bối cảnh ấy, mà tác giả Phạm Lưu Vũ dựng ra qua tất cả những truyện của anh, là bối cảnh vận hành cái thực tại người Việt theo các kích thước tâm linh, cơ cấu theo mô thức tam tài, thiên-địa-nhân hòa hợp và cảm ứng tương thông, mà về động lực và cứu cánh thì nương theo một chữ “Tâm” của Đại thừa Phật giáo.  Trên phương diện văn chương, chẳng hạn thì điều này phần nào giống như điều xảy ra trong văn chương của dòng viễn tưởng-khoa học, nơi các tác giả của nó nương theo những tri kiến của khoa học thực chứng hiện đại mà dựng ra cái thế gian viễn cảnh, để thăm dò các khả thể tương lai hay quá khứ thuộc số phận con người.

Ở đây cần nói thêm: tuy tràn ngập những chuyện truyền kỳ, huyền bí, và với nhiều nhân vật lịch sử nhưng các truyện Phạm Lưu Vũ không thành ra những truyện thần tiên hiện đại (như thể loại fantasy ) cũng không thành ra các truyện dã sử hiện đại: tác giả này, người đã bắt đầu bằng những truyện ngụ ngôn đương đại cực kỳ độc đáo ( chẳng hạn “Xut khẩu ăn mày”, “Trạng ngi”, v.v. ), đã không ngừng phát triển tính chất ngụ ngôn đó trong văn chương của anh, cho đến nay – những truyện của anh đều là các phúng dụ mà bề sâu đáng kinh ngạc của những truyện ấy là do tác giả dựng ra được một thực tại văn chương riêng của anh, cái thực tại-tâm linh luận đó.

Tập truyện “Chiếc khoen đồng” của Phạm Lưu Vũ

Chẳng hạn như có thể thấy qua truyện Chiếc khoen đồng; câu chuyện của nó thoạt trông thì trải ra theo hai tuyến thời gian xác định, trên hai lớp truyện: lớp thứ nhất là số phận của một cái ấn quận công từ “Cuối đời nhà Mạc …” rồi bị chôn giấu, được đào lên, biến thành một “chiếc khoen đồng” để xỏ dây dắt trâu, rồi được kính cẩn đặt lên ban thờ, rồi bị chìm nơi đáy ao mà sau thành một lòng mương thủy lợi, rồi lại trồi lên chỉ để được đem chôn theo một con chó vàng, và cuối cùng lại được quay về trên ban thờ tổ ở chính mảnh đất cũ nơi nó bắt đầu chuyến lưu lạc đằng đẵng kia; lớp thứ hai là những số phận của những người và vật trực tiếp dây dưa vào cái ấn cổ-“chiếc khoen đồng” đó, gồm hai con trai của nhân vật Phan Tất Đắc tên Dần tên Sàng ở “làng Kinh thuộc đất Nam Xương” sở hữu chủ của cái ấn-“chiếc khoen đồng”, rồi một con bò vàng và một con chó vàng nhà ông Duyên ở cách làng Kinh vài cây số xuôi theo con mương thủy lợi kia, rồi vợ chồng con trai út của ông Duyên, đến hai đứa con trai Kì Phong – Như Thủy  của nhà ấy làm nhân duyên cuối đưa “chiếc khoen đồng” trở lại ban thờ trên nền đất nó đã phát tích, và, như truyện kể, con nhà Duyên này đổi họ sang họ Phan, theo sự trở về của “chiếc khoen đồng”, sinh sôi con đàn cháu đống; mà nếu xem kỹ, ta sẽ thấy cái thời gian truyện có vẻ xác định ấy thực ra chỉ là thời gian của cái ấn quận công-“chiếc khoen đồng” ,còn thời gian của mấy kiếp người và kiếp súc sinh bò chó thì bị đo lường sắp xếp theo cái vật bằng đồng kia; mà món đồ đồng ấy vốn được chung đúc với những giọt máu của người chủ của nó để chứng thực cho một ý nguyện, tức nó là một hiện-vật-của-tinh-thần, và câu chuyện này chứng tỏ rằng cái nguyện ấy nắm giữ quyền năng bí ẩn phải được hoàn thành, bất kể bể dâu nhân thế biến chuyển ra làm sao, kể cả có phải bẻ cong thời gian đi nữa.

Đấy là tâm linh quyết định thực tại.

Tại sao có thể nói thế? Thì bởi yếu tố thời gian cũng vô hình như tâm linh vậy, nhưng trong cảm thức con người, thời gian là thứ quyết định tối hậu, do tính hữu hạn của nó cưỡng bức trên nhân sinh. Ghê gớm như Tần Thủy Hoàng ngồi trên đỉnh “thiên hạ” rồi cũng duy chỉ khát một món nước “trường sinh bất tử.” Có người sống thì thế gian mới thành, tức là thực tại mới có hiện hữu.

Cho nên trong các truyện Phạm Lưu Vũ đều nổi rõ cái nền thời gian vô thủy vô chung, bằng cách luôn luôn quy chiếu sự bất tử vào thời gian đương đại. Tác giả này tựa như một người đi săn mà chỉ nhằm săn những con thú lớn. Trong cái nhìn văn chương này, luân hồi là yếu tính của thực tại, mà sự tiếp nối bất tận của những kiếp khác nhau chính là cái mà ngày nay quen gọi là “thời gian thực.”

Điều ấy thật rõ trong truyện Thiền trôi đã nhắc đến ở trên. Tôi sẽ không tóm lược câu chuyện đó, vì không thể làm thế với một khối biểu tượng-ẩn dụ đa diện sống động như nó mà không thiếu sót, và cũng vì hẳn rất nhiều người từng đọc và sẽ đọc truyện này.

Ở đây chỉ muốn nói đến một ý nghĩa của dòng chảy thời gian mà truyện này đã khơi gợi một cách ấn tượng và sâu xa đến thế. Thời gian của câu chuyện trải ra từ thời đầu nhà Trần – khi mới có “phủ Thiên Trường” – cho đến đương đại của đầu Thiên niên kỷ thứ hai mới đây. Nói thế cũng là ước lệ, bởi chẳng hạn nhân vật Tiêu Dao thiền sư trong truyện này, người tác thành tất cả các nhân vật và tác động đến tất cả các sự kiện, thì vốn đã có từ trước đấy và sẽ còn trở lại sau đấy – ngài chẳng đi chẳng đến, luôn có mặt.  Vậy nên hơn bảy trăm năm thời gian mà câu chuyện này nói đến thực ra là một trong các cách đếm tổng số của những độ dài hiện hữu của những kiếp người, kiếp súc sinh hay kiếp làm Giời quay cuồng trong khoảng ấy.  Quay cuồng, như chẳng hạn một con sâu đầu đỏ nghe kinh kệ ở chỗ thiền sư rồi sau sinh làm người, đi tu, gặp duyên bố thí thân mạng mình; hay như, cũng ở chỗ nghe kinh đó, một con rắn rình mò bị con rết nghe kinh cắn vào lưỡi, nhiễm nọc mà chết, sau sinh làm người tai ngược rồi gặp duyên giết nhà sư mà con rết kia đầu thai; hay như, cả một xứ mênh mông đầy dẫy những loài Atula hết phúc đói khát quyền lực sinh làm người quỷ quyệt ở phương Bắc của xứ Nam này, v.v. Thảy những cảnh quay cuồng như thế đều có một chỗ chung: là tìm đến cõi làm người.

Dòng chảy của thời gian ở đấy có một hiện thân, là sông Hồng, mà Phạm Lưu Vũ thường bàn tới với cái tên “Đại can long Hồng Hà”, “long mạch” của đất Việt từ xưa. Nhân vật Ngọc Ma-Ngọc Tuấn-Ngọc Tiến nằm ngửa nổi lập lờ trên sông ấy mà kêu là phép “thiền trôi” vậy. Khúc sông Hồng uốn cong ôm lấy “kinh thành” được kể là nơi tụ lại của “khí thiêng” vốn vẫn “trải khắp non sông”, “gặp duyên thì tụ,  tụ lại rồi trào lên, nhân địa gọi là chỗ kết huyệt, quỷ địa gọi là nơi ‘âm lai dương thụ’, vì thế chung quanh lúc nào cũng có tám con quỷ chầu vào để hấp thu thổ khí. Tám con quỷ ấy lần lượt là: Mông, Sơ, Lập, Kiến, Hưng, Suy, Vong, Tận, …” Ấy chẳng phải tên trỏ những mốc cưỡng chế của thời gian trên thực tại con người hay sao!

Truyện Thiền trôi thật sự dăng ra một cảnh “thiên la địa võng” phi thời, mà dòng chảy của thời gian xét cho cùng chỉ do những vọng động của ba cõi chúng sinh mà thành – nhưng nó mới sống động và cuốn hút làm sao, cho nên nó “cứ như thế mà quay vòng, mãi không cùng.” Và như tác giả đã bình chú trong truyện: “Nhân và quỷ thì đại khái như thế, song tất thảy đều từ tâm địa mà sinh, …” Mà, nói đến “tâm địa”, hẳn không đâu khoái thú hay kỳ dị lôi kéo như ở cõi nhân sinh. Phải chăng vì thế mà tất tật ở đây loài nào cũng muốn “tìm một chỗ để làm người” ? Trong khi, ở vài nhân vật như Tiêu Dao thiền sư hay Đỗ Tờ đạo sĩ, hay có thể kể thêm ba anh em nhà họ Đỗ đệ tử của thày Tiêu Dao, hay anh Dần với cậu cả Kì Phong ở truyện Chiếc khoen đồng, hay … , toát lên lời thầm lặng rằng việc “làm người” như thế cũng dễ làm hỏng lắm thay!

NGUYỄN CHÍ HOAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *