Tiểu luận tác giả trẻ Hà Vinh Tâm ở Nghệ An

Vanvn- Hà Vinh Tâm tốt nghiệp Thạc sĩ Lý luận văn học, hiện là giáo viên, Hội viên hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An. Cô đã xuất bản: Đan những giấc mơ (thơ), NXB Hội Nhà văn 2018, Ẩn số ngôn từ (tiểu luận, phê bình), NXB Hội Nhà văn 2020 và in chung trong nhiều sách tham khảo, được trao một số giải thưởng, trong đó có Giải C Giải thưởng của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2019 với tác phẩm Ẩn số ngôn từ.

Tác giả trẻ Hà Vinh Tâm

“Đọc tập tiểu luận phê bình của chị, người đọc sẽ ít có cảm giác khô khan, trừu tượng, hàn lâm, khó hiểu (vốn là đặc trưng thể loại), mà thay vào đó là sự hấp dẫn tươi mới trẻ trung đậm chất văn chương và học thuật, thấy thú vị trước những phát hiện sâu sắc và tinh tế về nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm được đề cập.” – nhà phê bình Nguyễn Thị Bình nhận xét về bút pháp của Hà Vinh Tâm và cho biết thêm: “Là cây viết phê bình trẻ, chị đang cố gắng tìm cho mình một lối đi riêng. Còn cần thời gian để thẩm định và thử thách nhưng qua Ẩn số của ngôn từ cũng ít nhiều manh nha một hướng tiếp cận khoa học, một lối văn trong sáng, mạch lạc, một tư duy thực chứng của một người luôn ý thức về nghề nghiệp”.

 

Cùng tưởng tượng với âm thanh trong Âm thanh của tưởng tượng

 

Khi cầm trên tay cuốn Âm thanh của tưởng tượng (phê bình thơ Việt Nam hiện đại) của Lê Hồ Quang – tác phẩm lý luận phê bình được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2015 và được Giải thưởng VHNT Hồ Xuân Hương của tỉnh Nghệ An lần thứ V trao giải A năm 2016, tôi bỗng có một cảm giác rất lạ. Có gì đó như thôi miên, như thúc giục tôi đọc và nghĩ về nó. Lắng nghe được âm thanh của tưởng tượng nhất là ở trong tác phẩm nghệ thuật, chúng ta sẽ nắm bắt được vô vàn thông điệp quý giá của cuộc sống.

Phê bình đối với từng tác phẩm đã khó, phê bình về một tác giả, một trào lưu, một thời kỳ văn học lại càng khó hơn. Thế mà Lê Hồ Quang đã không ngần ngại dấn thân vào cái phần khó hơn đó. Qua cuộc “du hành” nhập thân tưởng tượng với âm thanh ngôn ngữ trong Âm thanh của tưởng tượng, chúng ta có thể thu nhận được nhiều điều thú vị.

Qua cuốn sách này, chúng ta có được một cách nhìn nhận, đánh giá bao quát về các đối tượng mà tác giả phê bình nghiên cứu, khảo sát, nhận định. Đó là các tác giả thơ Việt Nam hiện đại (như: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Lưu Quang Vũ, Thanh Thảo, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều,… ), về phong trào Thơ mới và nhóm Xuân thu nhã tập. Ở phương diện này khi tiếp xúc cụ thể với từng bài viết, người đọc sẽ tiếp thu được những kiến thức, những nhận định quan trọng, đầy ấn tượng về từng tác giả, từng hiện tượng văn học. Chúng ta có thể gọi tên cụ thể về phong cách nghệ thuật của từng tác giả, nhận diện được từng gương mặt thi ca. Thì đấy, với các nhà Thơ mới, mặc dù Hoài Thanh đã thẩm bình, đánh giá sâu sắc, chính xác từng thi sĩ nhưng tác giả Âm thanh của tưởng tượng vẫn có những phát hiện mới, hơn nữa chị còn có thể định danh, gọi tên, điểm mặt từng nhà thơ như: Hàn Mặc Tử:“Tiếng kêu vang trong im lặng”, “Chất triết lý trong thơ Xuân Diệu”, Vũ Hoàng Chương: “Đời vắng em rồi say với ai?”,… Đến các nhà thơ sau này, chị gọi ra được hồn cốt thơ họ qua từng tập thơ hoặc giai đoạn thơ cụ thể. Ví dụ: Tiếng thơ Lưu Quang Vũ là “Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh”, tiếng thơ Thanh Thảo là “Tiếng thét gọi” của con người “đã vượt lên nỗi sợ”, tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm sau 1975 là “Nỗi buồn đánh thức hy vọng”, “Thơ Ý Nhi hành trình trong lặng lẽ”, thơ Nguyễn Quang Thiều là “Âm thanh của tưởng tượng”, Mai Văn Phấn là một thế giới nghệ thuật thơ với hành trình thơ “rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động”, với “Tất cả chúng ta vừa sinh ra ở đó” “Bí mật của khoảnh khắc”, … Cứ như vậy, với khoảng hai mươi nhà thơ, chị đã khoác cho họ mỗi người một cái áo thi ca riêng để trình diện giữa sân khấu làng thơ Việt Nam hiện đại một cách tự tin, đĩnh đạc. Riêng về phong trào Thơ mới, người đọc nhận ra được Một số đặc trưng thi pháp của Thơ mới xuất phát từ những quan niệm tư tưởng chi phối đến một số thủ pháp nghệ thuật mô tả (Gián cách hóa, Mộng hóa). Với nhóm Xuân Thu nhã tập, chúng ta biết rõ ràng hơn, sâu sắc hơn, cụ thể hơn về quan niệm thơ của họ từ mặt “lí thuyết sáng tạo” đến việc “ứng dụng các định hướng lí thuyết ấy vào sáng tác cụ thể”. Hơn thế, chị còn có sự liên hệ, mở rộng đến các hiện tượng thơ Việt Nam sau 1945. Như vậy, đọc Âm thanh của tưởng tượng, “chúng ta có thêm một góc nhìn, một tiếng nói khả tín góp phần thẩm định các giá trị thơ ca từ trong lịch sử và đương đại”1.

Đọc Âm thanh của tưởng tượng, người đọc có cảm giác thích thú không chỉ vì được mở rộng thêm hiểu biết về nền thơ Việt Nam hiện đại mà còn được thưởng thức một văn phong phê bình tài hoa và nhất quán. Lê Hồ Quang viết phê bình văn học với một ngòi bút văn chương của một nhà văn thực sự. Qua đó, độc giả có thể thấy được một cách viết, một kiểu tổ chức bài nghiên cứu phê bình thơ hiện đại Việt Nam.

Cấu trúc của quyển sách này khá hợp lý và “đẹp”. Bài viết giới thiệu của Lưu Khánh Thơ đặt ở mở đầu nhằm khơi mở, định hướng, tạo tâm thế tiếp nhận cho người đọc. Ở giữa là các hiện tượng, các tác giả được Lê Hồ Quang quan tâm, chú ý. Ở phần này chị có chủ ý sắp xếp các bài nghiên cứu theo các thời kỳ thơ. Cái lõi của nó là thi pháp của các hiện tượng thơ nói trên. Phần cuối quyển sách là bài viết về “Thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn”. Đọc bài cuối này, ta liên tưởng đến cách chị liên hệ kiểu tổ chức “cụm” bài, “vệt” chủ đề/ hình tượng của Mai Văn Phấn với Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sỹ của Katsushika Hokusai (Nhật Bản) và hơn 250 bức tranh về những cây hoa súng của Claude Monet (Pháp). Đây là cách kết thúc khá độc đáo trong cách viết lý luận, phê bình.

Viết thơ cần có tứ thơ và viết phê bình cũng cần có cái tứ của phê bình. Đọc tập tiểu luận của chị, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy: người phê bình đã tìm được thông báo cốt lõi của mỗi bài viết để hướng tới người đọc. Chị xác lập được ý tưởng của mỗi bài viết khá thuần thục, nhanh chóng.

Cách đặt tên các bài phê bình của chị rất ấn tượng. Có khi giống như cách người ta chơi chữ, có nhan đề hàm súc và đẹp như một bài thơ, có nhan đề ngắn gọn, thông báo một cách rõ ràng về nội dung của bài viết, có nhan đề khái quát được cả một hành trình thơ của một tác giả ( kiểu như: Thơ Ý Nhi, hành trình trong lặng lẽ; Thơ Nguyễn Khoa Điềm sau 1975 là Nỗi buồn đánh thức hy vọng;  Dương Kiều Minh, ra đi và trở về,…), có lúc nhan đề bài viết được lẩy ra từ một câu thơ, một bài thơ, một hình tượng thơ tiêu biểu của nhà thơ (như khi nói về Vũ Hoàng Chương, Huy Cận, Đoàn Thị Lam Luyến, Mai Văn Phấn,…). Cách đặt tên các bài nghiên cứu chứng tỏ người viết không chỉ nắm vững về đối tượng được nói đến, không chỉ phát hiện được vấn đề mới mẻ về đối tượng mà còn thể hiện vốn từ ngữ giàu có và khả năng diễn ngôn sắc sảo, chính xác, đầy hình ảnh. Phải chăng cách đặt nhan đề ấy đã bao hàm thêm những ý nghĩa sâu sắc, ý vị? Ví dụ: Hàn Mặc Tử: “Tiếng kêu vang trong im lặng”; thì đó không chỉ là nói đến “Tiếng nói nội tâm mãnh liệt đến dị thường của Hàn Mặc Tử” mà còn nói đến cách tổ chức ngôn từ, hình tượng, kết cấu thơ Hàn Mặc Tử là một thế giới đầy siêu thực; nhan đề Mai Văn Phấn hành trình thơ “rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động” không chỉ toát lên được đặc trưng thơ Mai Văn Phấn mang vẻ đẹp siêu thực mà còn thể hiện được tuyên ngôn về hành vi sáng tạo và còn gợi được cả hành trình sáng tạo của thơ Mai Văn Phấn với những tìm tòi thi pháp đa dạng;… Bởi vậy, mỗi nhan đề trong Âm thanh của tưởng tượng không chỉ mang trữ lượng thông tin như một thông báo cốt lõi của bài viết mà còn mang vẻ đẹp, sức hấp dẫn, gợi mở đầy tính nghệ thuật!

Cách mở đầu các bài viết của chị vừa tự nhiên vừa ấn tượng và hấp dẫn. Nó gọi được cái linh hồn của bài phê bình ngày từ đầu. Cách mở đầu các bài viết của chị vừa tự nhiên vừa ấn tượng và hấp dẫn. Nó gọi được cái linh hồn của bài phê bình ngày từ đầu. Ví dụ khi chị viết về Lưu Quang Vũ: “Lưu Quang Vũ thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ. Đó là nền thơ mang âm hưởng hào hùng của cảm hứng sử thi và chủ nghĩa anh hùng Cách mạng. Tuy nhiên, ông đã sớm bứt khỏi từ trường của “dàn đồng ca thế hệ” để xác lập một gingj thơ riêng với nhiều trở trăn, khắc khoải về nhân sinh, thế sự”. Khi nói về Thơ Ý Nhi, chị viết: “Có thể hình dung thơ Ý Nhi như một hành trình truy vấn tinh thần mà trong đó, cái tôi nhà thơ, lặng lẽ nhưng quyết liệt và bề bỉ, không ngừng tự ý thức nhằm tìm kiếm cái “cái bản lai diện mục” tâm hồn”. Dĩ nhiên, đi cùng óc phân tích tỉnh táo ấy còn là một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn. Chính điều này đã tạo nên chất “duy lí” độc đáo của Ý Nhi giữa một nền thơ Việt Nam hiện đại (nhất là thơ nữ) vốn nặng chất duy tình, duy cảm”. Hoặc khi viết Phác thảo về thơ Lê Văn Ngăn trong bài Là thơ, vì sao?, chị cũng có cách vào đề tự nhiên mà thuyết phục như thế.

Cách kết thúc mỗi bài viết cũng khá đặc biệt. Chị đưa ra được những ý kiến có giá trị đối với giới nghiên cứu, phê bình vừa thể hiện được quan niệm, bản lĩnh, phong cách phê bình riêng của tác giả.

Vẻ đẹp của tập phê bình này còn nằm ở chỗ chị đã nhấn, lướt từng vấn đề một cách hài hòa từ đó làm hiện lên được thần thái, hồn cốt của thi sĩ đó. Trong mỗi bài viết, có chỗ chị chỉ gợi nhắc hoặc lướt qua, có chỗ chị dừng lại để trích dẫn thơ rồi phân tích một cách cụ thể, tỉ mỉ, thậm chí còn có những liên tưởng, so sánh, mở rộng sâu sắc, mới mẻ. Chẳng hạn trong bài viết nhỏ: Tất cả chúng ta vừa sinh ra ở đó ở bài về Thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, sau khi nói tới tiêu đề, dung lượng của tập thơ Vừa sinh ra ở đó, chị bàn đến không gian nghệ thuật trong tập thơ. Chị phát hiện ra nhiều đặc điểm quan trọng của không gian nghệ thuật ấy và có những liên tưởng, so sánh khá bất ngờ, thú vị trong bài viết. Chẳng hạn cũng trong bài nói về Mai Văn Phấn, chị liên hệ bài Ngậm em trong miệng của Mai Văn Phấn với những câu thơ trong Tình nhân của Paul Eluard để nhấn mạnh đến biện pháp tạo hình. Có khi chị so sánh, liên hệ để chỉ ra sự khác biệt của nhà thơ này với nhà thơ khác như so sánh bài Tiếng địch của Dương Kiều Minh và Tiếng trúc tuyệt vời của Thế Lữ hoặc so sánh cách đặt câu hỏi của Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu, tình yêu trong thơ Huy Cận và Xuân Diệu, so sánh quan niệm về tâm hồn và thân xác của Huy Cận với Vũ Hoàng Chương,…

Cách viết nương theo phong cách thơ của mỗi đối tượng nghiên cứu cũng là một điểm cần lưu ý trong lối viết phê bình của tác giả Lê Hồ Quang. Nghĩa là mỗi bài viết về mỗi tác giả chị có một lối văn phong phê bình tương ứng. Viết về Hàn Mặc Tử, những trang viết của chị cũng quằn đau, da diết, khắc khoải; khi viết về Xuân Diệu, những dòng phê bình trở nên mạch lạc, rõ ràng, cụ thể; khi viết về Huy Cận, lối viết trở nên nhẹ nhàng, chậm buồn; khi viết về Mai Văn Phấn những bài viết của chị  trở nên giàu xúc cảm, giàu chất trí tuệ đồng thời ở đó chị cũng bố trí theo “cụm” , “vệt” bài … Phải chăng nhà phê bình đã “nhập thân” hoàn toàn bằng tưởng tượng vào đối tượng mà mình nghiên cứu?

Lê Hồ Quang luôn cố gắng gọi tên, phát hiện ra được biểu tượng nổi bật, quan trọng trong thơ của mỗi tác giả. Ví dụ với Hàn Mặc Tử, chị nhận ra các biểu tượng như: “miệng và tay, trở thành phương tiện để giao kết thi nhân với người tình, với thế giới một cách cụ thể, trần tục và khăng khít nhất”. Ở thơ Dương Kiều Minh “là một thế giới biểu tượng, trong đó, giấc mơ là biểu tượng trung tâm”. Ở Nguyễn Quang Thiều, chị chú ý đến biểu tượng cái tai giọng nói con người. Nói đến thơ Mai Văn Phấn, chị nhắc đến các hình ảnh- biểu tượng tạo nên vẻ đẹp siêu thực lạ lùng. Viết về Hoàng Hưng, chị có bài nghiên cứu: Biểu tượng thơ Hoàng Hưng. Đó là những nỗ lực không nhỏ của chị trong việc tìm tòi, nghiên cứu về thế giới thơ của mỗi tác giả.

Giọng điệu phê bình rất linh hoạt, đa dạng. Có lúc chị viết thản nhiên, trung hòa, chừng mực. Có lúc chị viết hào hứng, đầy xúc cảm. Có lúc chị viết một cách thẳng thắn với những kết luận dứt khoát. Có lúc chị viết một cách tự nhiên như trò chuyện với bạn đọc. Có lúc chị đặt câu hỏi, tạo phản đề cho người đọc đi đến một cách tiếp cận, một quan niệm mới. Nhờ đó, chị có khả năng dẫn dắt, lôi cuốn người đọc tham gia vào hành trình khám phá tiếp cận các đối tượng nghiên cứu một cách gần gũi, thú vị.

Bên cạnh những đặc sắc nói trên, Âm thanh của tưởng tượng còn có những thế mạnh khác như: Ngôn ngữ phê bình phong phú, sắc nét, luôn có sự kết hợp của lý trí sắc sảo với những lập luận logic, chặt chẽ và cảm xúc tinh tế, sâu sắc với những lời thẩm bình trau chuốt, giàu chất nhạc, chất thơ. Không chỉ thế, Lê Hồ Quang còn dùng nhiều thao tác phê bình một cách linh hoạt như: khảo sát, phân tích, bình luận, đánh giá, so sánh,….

Trong Âm thanh của tưởng tượng, mục đích của chị là lý giải, đánh giá, cắt nghĩa mỗi hiện tượng văn học theo cách riêng của mình với những phát hiện mới mẻ, tinh tế và sâu sắc. Hơn nữa, chị đã biết lựa chọn đối tượng phê bình một cách đích đáng. Tất cả những hiện tượng, tác giả chị đề cập đều là những hiện tượng, tác giả cách tân. Về họ, có nhiều cách đọc khác nhau. Ở đây, Lê Hồ Quang đã chỉ ra những đóng góp thực sự của họ về mặt thi pháp. Như vậy, bên cạnh việc bình giá, chị đã thực sự gợi ý được cho người đọc về một cách tiếp cận hợp lý, đúng hướng, nhằm tôn vinh những nỗ lực làm mới thơ. Với cách viết ấy chị đã thuyết phục người đọc theo từng con chữ để “tưởng tượng”. Có thể gọi đây chính là những đặc điểm quan trọng trong nghệ thuật phê bình thơ của Lê Hồ Quang.

Thứ ba, chúng ta còn thấy được bức chân dung của chính nhà nghiên cứu phê bình Lê Hồ Quang. Đó là một nhà phê bình văn học bằng trí tuệ của trái tim. Chị đã cảm nhận tinh tế bằng trực giác, đánh giá sâu sắc bằng lý trí để tạo ra những trang phê bình thơ hiện đại khả tín, nhất là đối với những hiện tượng thơ đương đại. Chị không chỉ yêu thơ, hiểu thơ mà còn trân trọng những chủ thể tinh thần đã sáng tạo ra nó. Mặc dù vậy, chị luôn làm chủ được ngòi bút phê bình của mình và giữ được một thái độ khách quan, cẩn trọng khi đánh giá, nhận xét về họ- một tâm thế làm việc cần có ở nhà phê bình văn học. Thái độ cẩn trọng, khách quan thể hiện ở cách đặt nhan đề, cách chị khảo sát đối tượng có những con số thống kê cụ thể và ở cách khen, chê đúng mực.

Tập phê bình của Lê Hồ Quang không chỉ có giá trị phát hiện đối với các hiện tượng thơ hiện đại Việt Nam mà còn thể hiện được bản lĩnh của người viết phê bình có lối viết riêng trong bình luận văn chương. Điều này thể hiện ở chỗ chị không chỉ khẳng định, ngợi ca những thành công, đóng góp của mỗi tác giả, mỗi hiện tượng văn học được đề cập đến mà còn không ngần ngại chỉ ra những điểm còn hạn chế của họ. Rõ ràng, trong mỗi bài viết, ở mỗi nhận định, Lê Hồ Quang đã thể hiện được “con mắt xanh” của nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp. Hơn nữa, chị không bị lệ thuộc hay dẫm chân lên những thành tựu nghiên cứu của người đi trước mà chị đã mở được một lối đi riêng trong hành trình khám phá và chinh phục các hiện tượng văn học. Các hiện tượng văn học chị quan tâm đã được giới nghiên cứu nói nhiều, viết nhiều nhưng chị vẫn có những phát hiện mới mẻ, thú vị khác. Không chỉ vậy, việc so sánh, liên hệ, mở rộng nhiều chiều còn chứng tỏ Lê Hồ Quang là một người có vốn văn hóa, văn học sâu rộng. Đó là bệ phóng quan trọng cho những ý tưởng, cảm nhận, đánh giá của chị thăng hoa và có độ chính xác cao.

Tóm lại, với Âm thanh của tưởng tượng, Lê Hồ Quang đã có những đóng góp ý nghĩa trong hành trình đi tới sự “giải minh đắc lực” cho văn chương hiện đại Việt Nam. Tác phẩm phê bình này, tự thân nó cho thấy văn phong phê bình của tác giả có sự kết hợp hài hòa của tính khoa học, tính nghệ thuật. Đây cũng chính là một yêu cầu, một đòi hỏi của phê bình văn học hiện nay. Hy vọng rằng, trong một tương lai không xa với những ưu thế sẵn có của mình, chị sẽ có nhiều công trình nghiên cứu, phê bình đầy đủ hơn, toàn diện hơn về diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại.

________________

 [1] Nguyễn Thanh Tâm (2016), Ấn tượng “Âm thanh của tưởng tượng”, http://www.qdnd.vn.

2 Nguyễn Thị Minh Thái (2012), Phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật trên báo chí,  Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. H.tr.98

3 Hoài Thanh- Hoài Chân (2000), Thi nhân Việt Nam, Nxb Hà Nội, tái bản, tr.533- 535.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Khôi

Lắng nghe Người đàn bà hát gọi mặt trời

 

Với quan niệm và tâm niệm “luôn thầm ước… ước những gì mình viết ra có thể nhóm lên một ngọn lửa, sưởi ấm một tâm hồn”, Vũ Thanh Lịch là một cây bút văn xuôi nữ không ngừng nỗ lực làm mới mình trên những trang văn để chạm đến tâm can người đọc. Đến nay, chị đã có ba tập sách dày dặn (hai tập truyện ngắn: Trú rét, Nxb Hội nhà văn 2013; Đi qua đồng cói, Nxb Quân đội nhân dân, 2015, một quyển tiểu thuyết: Chân núi có một con đường, Nxb Hội nhà văn, 2015) và nhiều truyện ngắn hay được đăng tải trên các báo từ địa phương đến trung ương. Đọc truyện của chị ta chìm đắm vào những vòng sóng nhịp điệu của những câu văn xuôi giàu chất thơ, nặng trĩu xúc cảm và âm thanh. Không chỉ thế những truyện chị viết còn đậm chất liệu hiện thực, nóng hổi hơi thở cuộc sống và giàu suy ngẫm, triết lý về cuộc đời, về con người. Người đàn bà hát gọi mặt trời là một truyện ngắn như thế. Truyện ngắn này đã được in đăng trên tạp chí Sông Hương, Bà Rịa Vũng Tàu và được tuyển chọn vào trong sách Truyện ngắn hay 2016 của Nxb Văn học.

Nhan đề Người đàn bà hát gọi mặt trời hé lộ tứ truyện hay, độc đáo.  Cấu tứ của Người đàn bà hát gọi mặt trời chính là sự ngưỡng mộ, ngợi ca và niềm thương cảm, xót xa đối với số phận đầy bi kịch của người đàn bà nghệ sĩ hát xẩm tài hoa. Cấu tứ này thực sự là mồi lửa cho câu chuyện. Nó góp phần thắp sáng ý tưởng tốt đẹp của tác giả hướng đến người nghệ sĩ và nghệ thuật đồng thời còn lan tỏa ý tưởng ấy đến người đọc, cảm hóa người đọc để họ sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn, biết trân trọng những giá trị tinh thần trong cuộc đời.

“Giầu ầu ầu… ở đâuuuuuuu… đá á á… ở đâuuuuuu…/ Để cau chín ín ín ín ín ínnnnnn… nẫu nầu nâu thế ế ế… này…”.  Mở truyện đã gợi tò mò, hấp dẫn. Tiếng hát xẩm găm vào trí nhớ, ám ảnh khôn nguôi người đọc. Không được “thực mục sở thị” nhưng mọi âm sắc của tiếng hát và hình ảnh của người ca kỹ cứ hiển hiện rõ ràng, cứ bám riết vây quanh chúng ta. “Bà chỉ biết hát. Hát. Và hát”. Mở truyện ấn tượng như thế đã hé lộ, gợi mở, dự báo trước về cuộc đời của nhân vật chính – một cuộc đời, một thân phận của người nghệ sĩ đầy những bất trắc, giông bão!

Nhân vật ấy là ai? Tên gì? Bao nhiêu tuổi? Tất cả được tác giả thông báo bằng hàng loạt câu trả lời mang tính phỏng đoán, giải định văng ra liên tục, ngắt quãng để cuối cùng đều đi đến khẳng định: “Không có con số nào chính xác”; “Không có cái tên nào chính xác”. Người đọc cứ phấp phỏng đợi chờ, phấp phỏng đoán ước. Bao người đã phải lý giải và khổ sở suy đoán về cái tên, độ tuổi của “người nghệ nhân có một không hai ở vùng đất này”. Theo tác giả, nhân vật này được lấy từ cuộc đời của nguyên mẫu Hà Thị Cầu – nghệ nhân hát xẩm cuối cùng của thế kỷ 20. Bằng sự hư cấu, tưởng tượng Vũ Thanh Lịch đã thổi vào hình tượng những tầng ý nghĩa quan trọng, sâu sắc. Và thực sự ở đây, trên cơ sở cuộc đời của người nghệ sĩ này, Vũ Thanh Lịch đã sáng tạo nên một hình tượng nghệ sĩ đặc sắc. Tác giả chú trọng miêu tả từ ngoại hình đến hành động, tính cách và tâm lý nhân vật. Khi khắc họa nhân vật người ca kỹ, Vũ Thanh Lịch đã chọn những điểm nhấn cụ thể: đôi mắt, đôi môitiếng hát. Một đôi mắt đẹp và tình tứ: “đôi mắt từng một thời thăm thẳm xanh của người ca kỹ nữa”, “lúng liếng liếc ngang”, “Đôi mắt lại liếc ngang và đôi môi lại lúng liếng”… Còn đôi môi là nơi người ca kỹ cất tiếng hát để dâng tặng người đời cũng mang dáng nét riêng: “Người ca kỹ già móm mém đôi môi khô cạu quết trầu”, “đôi môi nhăn nhúm bắt đầu rung lên”, “đôi môi quánh vết trầu khô mấp máy vô tình làm tăng thêm vẻ duyên dáng, kiểu cách của người diễn viên già”. Tiếng hát được Vũ Thanh Lịch chú trọng miêu tả với dụng ý nghệ thuật nhất định. Mở đầu là tiếng hát “khía cấu vào đêm” cho đến kết thúc là “tiếng hát mỗi lúc lại khía sâu vào đêm” đã có một sự tăng tiến về mức độ, cường độ, nồng độ. Bởi vậy, tiếng hát cuối cùng của người ca kỹ lại càng da diết, khắc khoải, ngân vang trong lòng người. Mỗi lần cuộc đời bà thay đổi, mỗi lần tâm hồn bà có sự “rung ngân” thì tiếng hát lập tức lại xuất hiện. Có thể nói hình ảnh của bà gắn chặt với tiếng hát giống như người nghệ sĩ Lorca của Tây Ban Nha gắn liền với cây đàn ghi-ta. Có tiếng hát mở đầu trước khi người ca kỹ xuất hiện, có tiếng hát biểu diễn khi người ca kỹ ở trên sân khấu, có tiếng hát phân trần, tâm sự khi màn diễn kết thúc, có tiếng hát hồi tưởng khi nhớ về quá khứ đau buồn và có tiếng hát đầy âm hưởng khi người ca kỹ từ giã cuộc đời. Tiếng hát lúc nào cũng trở nên sống động, có hồn. Ngay ở trên sân khấu, tất cả dường như cũng đều hội tụ thăng hoa hòa điệu cùng tiếng hát: “Chân khoanh chân chống, người ca kỹ già buông rơi tuổi mình, buông rơi mái đầu bạc cuộn tròn trong vành độn tóc màu bã trầu, bay lên trong men say “. Tiếng hát gõ nhịp vào trái tim người ca kỹ khiến bà thổn thức không yên về bao nỗi đời dâu bể mà bản thân đã nếm trải và chứng kiến. Tác giả dẫn dắt khéo léo để tiếp tục trở lại kể tiếp về cuộc đời người ca kỹ bằng tiếng hát: “Tiếng hát mỗi lúc lại khía sâu vào đêm”. Để từ đó người ca kỹ già nhớ về người bạn đời, nhớ về đứa con thơ còn bú mớm và nhớ về đoạn đời “vui nhất và đau nhất” của mình… Đến lúc người nghệ sĩ nhắm mắt xuôi tay thì âm hưởng tiếng hát vẫn còn vang vọng và có một sức mạnh cảm hóa muôn loài: ” Côn trùng cũng thôi không kêu vì tiếng hát của bà khiến chúng không thể cất lời”. Vũ Thanh Lịch không miêu tả một cách đơn thuần theo bút pháp hiện thực mà theo bút pháp lãng mạn, lý tưởng hóa. Tiếng hát cất lên trong cuộc đời thực, xuất phát từ cuộc đời thực một cách tự nhiên, chân thành. Vũ Thanh Lịch đã nâng niu miêu tả, cảm nhận nó một cách trân trọng như một “báu vật ở đời” với tấm lòng ngưỡng mộ, tri âm thực sự với người nghệ sĩ hát xẩm.

Đặc biệt tác giả tập trung miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật khá sâu sắc, tinh tế. Ở đó, tâm lý nhân vật người ca kỹ như một dòng chảy chuyển đổi liên tục. Có lúc nó như những vòng sóng nhỏ lăn tăn mà lan xa, có lúc nó dội lên ào ạt không ngớt, có lúc nó cuộn chảy miên man trong tiếng dội ngân vang của ký ức. Người đọc được dẫn dắt vào những tầng vỉa khác nhau của diễn biến nội tâm nhân vật. Ký ức gần, ký ức xa, tầng hữu thức, tầng vô thức,… Khi miêu tả tâm lý chị đặc biệt chú ý đến lời độc thoại nội tâm của nhân vật. Xa xót nhất là cảnh người ca kỹ vừa dứt tiếng hát, “tiếng vỗ tay không ngừng nghỉ” là một chuỗi diễn biến nội tâm qua lời độc thoại rất thực về cơm áo gạo tiền cứ nhức buốt trong tâm khảm người nghệ sĩ già. Khi người ta dúi vào tay bà những đồng bạc, bà tỏ ra vui mừng: “Hóa ra người ta cũng hào phóng gớm chứ, thế này thì cu ấm tha hồ mà ăn bánh dẻo nhá, nó thích bánh dẻo chợ Lồng lắm cơ”.

Người đàn bà hát gọi mặt trời có một hệ thống chi tiết cụ thể, chân thực và có ý nghĩa khái quát. Người ca kỹ vừa là người tham dự vừa là người chứng kiến, đồng thời cũng là nạn nhân của lịch sử. Qua cuộc đời của nhân vật người ca kỹ với nhiều mất mát, đau thương: Mất cha, mẹ, mất anh chị em, mất chồng, mất con,…  người đọc còn thấy được bức tranh xã hội thời bấy giờ: đất nước đang rơi vào nạn giặc ngoại xâm và đói nghèo. Số phận con người thì lầm than, cơ cực, mạng người như cỏ rác. Trong khi đó, cuộc sống của bọn quan lại, triều đình, bọn quan ngoại quốc thì sung sướng, xa hoa. Truyện không chỉ thể hiện nỗi đau về thế thái nhân tình mà còn thể hiện nỗi trăn trở về cuộc đời, số phận đầy bi kịch của những người nghệ sĩ tài hoa- những người rút ruột mình nhả tơ cho đời cuối cùng họ hứng nhận tất cả mọi nỗi bất hạnh, khổ đau của cuộc đời “xướng ca vô loài”. Đằng sau ánh đèn sân khấu hào nhoáng chính là sự thật trần trụi đến đau đớn, chua xót, tủi hờn, nghiệt ngã của cuộc đời người ca kỹ. Người ca kỹ ấy cô đơn trong cuộc đời và cô đơn ngay chính cả trên sân khấu! Phía sau màn biểu diễn trên sân khấu được khán giả tán thưởng là cả một hành trình mệt mỏi của con người. Tập trung biểu diễn trên sân khấu để đến lúc trong cuộc đời thực họ không đủ sức lực, tâm trí mà quan tâm cho nhau nữa. Đây cũng chính là sự hữu hạn, bất lực của con người chăng?  Đọc tác phẩm này, ta cứ liên tưởng đến Thanh Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du. Như vậy, đây là hình tượng nghệ thuật giàu tính tư tưởng và có khả năng khái quát lớn.

Nghệ thuật tổ chức cốt truyện rất đáng chú ý. Diễn biến đảo lộn và đan xen trật tự: hiện tại – quá khứ- hiện tại. Quá khứ và hiện tại là hai trục tọa độ luôn đối chiếu, soi sáng cho nhau trong tác phẩm. Ở đây, kỹ thuật đồng hiện- kiểu tổ chức tác phẩm chịu ảnh hưởng của kĩ xảo điện ảnh được vận dụng như một thủ pháp nghệ thuật đắc địa để xây dựng hình tượng nhân vật người ca kỹ. Kết cấu đầu- cuối tương ứng với chi tiết mở đầu và kết thúc đều là hình ảnh người ca kỹ gắn liền với tiếng hát. Chi tiết ấy đã tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật khá lớn. Truyện cũng là một thể nghiệm khá đạt ở nghệ thuật cắt dán, liên văn bản. Có thể hình dung tác phẩm giống như các màn diễn có lớp lang cụ thể, luân phiên nhau hoặc có thể gợi đến tiết tấu nhanh, chậm, lên bổng xuống trầm của một bản nhạc hoặc sự thay đổi về giai điệu, ca từ của một bài hát. Mỗi màn biểu diễn, mỗi đoạn tiết tấu, giai điệu ấy được tách bạch bởi dấu hoa thị. Truyện chuyển đoạn, chuyển gam tới năm lần. Vì vậy, truyện đã tạo nên sự mới mẻ, hấp dẫn, sinh động cho câu chuyện. Bắt đầu là tiếng hát, tiếp đến là bàn luận về cái tên của người ca kỹ, sau đó tác giả đã khéo Như vậy, tác giả đã dẫn dắt người đọc tiếp xúc với nhân vật từ xa đến gần, từ bên ngoài đến bên trong, từ lạ đến quen. Trong tác phẩm này, tác giả còn dùng dạng thức kết cấu truyện lồng trong truyện. Tác giả chủ yếu xoay quanh màn biểu diễn của người ca kỹ già, trong câu chuyện biểu diễn này lại lồng chứa câu chuyện cuộc đời của người ca kỹ.

Nghệ thuật trần thuật đa dạng, linh hoạt. Theo quan điểm của thi pháp thể loại hiện đại, trần thuật có vai trò như một khâu then chốt thể hiện sự cách tân của một tác phẩm, một nền văn xuôi. Có lúc tác giả chuyển đổi điểm nhìn trần thuật tạo nên giọng văn đa thanh phức điệu. Có giọng điệu của các nhân vật, có giọng điệu của người kể chuyện giấu mình. Hơn thế, truyện đã có những đột phá về cấu trúc tự sự và ngôn ngữ, biết tận dụng tối đa ưu thế của thể loại. Nhà văn đã xây dựng được một lớp sóng ngôn từ đẹp, trau chuốt, giàu hình ảnh, giàu chất thơ, có sức ám gợi đối với người đọc. Ở đây vừa có ngôn ngữ kể chuyện, vừa có ngôn ngữ nhân vật , ngôn ngữ người kể chuyện. Riêng ở ngôn ngữ nhân vật có nhiều kiểu dạng: ngôn ngữ cá nhân và ngôn ngữ đám đông, ngôn ngữ nhân vật chính và ngôn ngữ nhân vật phụ, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại, ngôn ngữ ký ức và thực tại,… đan xen vào nhau. Vũ Thanh Lịch đã rọi sáng chất liệu hiện thực từ những điểm nhìn trùng phức để truyện có một khả năng bao quát lớn. Điểm nhìn của người kể chuyện, điểm nhìn của người ca kỹ, điểm nhìn của người đàn ông thường giả giọng lão già long răng, điểm nhìn của ông Chánh Tương,… để tập trung khắc họa nhân vật chính. Ví dụ từ điểm nhìn của người đàn ông thường giả giọng lão già long răng, tác giả nhằm tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn về tiếng hát “trong veo” của người đàn bà hát xẩm.

Giọng điệu chính là hạt nhân tạo nên dấu ấn quan trọng cho tác phẩm và góp phần hình thành phong cách của các nhà văn. Nhịp điệu câu văn lúc khoan lúc nhặt, lúc dồn dập, có khi bị cắt xé lẻ ra, có khi kéo dài, chậm rãi, thư thả. Giọng văn thay đổi một cách linh hoạt, sinh động như là một bản hòa âm phối khí đặc sắc tạo nên sức cuốn hút mới lạ đối với người đọc. “Khuya mưa. Tiếng hát như cật dang, khía cấu vào đêm, bửa vỡ mưa thành những mảnh hạt chói sắc (…).Bà chỉ biết hát. Hát. Và hát. Người ca kỹ già bao nhiêu tuổi. Tám bảy. Chín ba. Một linh hai (…) Người ca kỹ già tên là gì. Giang Thị Sặt. Giang Thị Khuyên. Nguyễn Thị Mậm. Nguyễn Thị Ấm. Giang Thị Ấm. Không có cái tên nào chính xác”. Kiểu nói bẻ gãy câu văn ra từng khúc đoạn nhỏ, liên tiếp giống như sự cật vấn, sự truy tìm của cả chính người kể chuyện về nhân vật của mình. Không những thế, tác giả đang có ý đồ tạo nên cuộc đối thoại ngầm giữa bạn đọc và nhân vật, giữa tác giả với bạn đọc. Nhờ thế, tác giả kéo nhân vật lại gần hơn với độc giả để độc giả quan sát, đánh giá, nhận xét. Có lúc, câu văn có vần, nhịp và có ngôn từ trau chuốt như câu thơ: “Thế là hát, thế là đàn. Sân đình thôi hết xôn xao, chỉ còn lại những âm thanh trong như suối, mềm như gió, sắc như ánh mặt trời”. Điều này khiến ta có cảm tưởng giống như khi được thưởng thức những ngón đàn của Thúy Kiều ở trong thơ Nguyễn Du vậy! Từ đó, truyện ngắn này đã tạo được những khoảng trắng, khoảng lặng, những vùng mờ để người đọc cảm nghiệm, suy ngẫm.

Những truyện ngắn trước đây của Vũ Thanh Lịch thường nghiêng về sự trang nghiêm nên truyện của chị mặc dù giàu xúc cảm, đầy chất thơ và giá trị nhân văn nhưng vẫn còn đơn điệu. Ở Người đàn bà hát gọi mặt trời chị đã gia tăng tính đối thoại, tính giễu nhại, tính hiện thực- đây cũng cần được xem như là phẩm chất nghệ thuật của truyện ngắn đương đại.

 Kết thúc tác phẩm khá ấn tượng, độc đáo. Nhà văn không xây dựng một kết thúc có hậu dễ dãi mà kết thúc bằng cái chết của nhân vật chính. Tuy nhiên đây lại là kết thúc mở.  Bên cạnh đó, khi viết đoạn kết này, Vũ Thanh Lịch vận dụng hai yếu tố hiện thực và kỳ ảo khá nhuyễn nhuyễn. Hiệu quả của nó như một “cú đấm nghệ thuật” thực sự mạnh mẽ.

Nhìn chung, tất cả các yếu tố trên đều nhằm hướng đến lý giải cho chủ đề của truyện: Mối quan hệ giữa hiện thực xã hội và cuộc đời của người nghệ sĩ. Nhân vật được đặt trong một bối cảnh lịch sử- xã hội cụ thể. Bên cạnh việc phát hiện và miêu tả bi kịch của người đàn bà hát xẩm, nhà văn còn muốn đi xa hơn, đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc hơn: Ý nghĩa của những giá trị tinh thần đối với đời sống con người đang hướng đến? Sự quan tâm của xã hội, của cuộc đời đối với của người nghệ sĩ? Bởi vì lâu nay, cuộc đời, xã hội đòi hỏi trách nhiệm, nghĩa vụ của người nghệ sĩ và người nghệ sĩ muôn đời này vẫn chỉ là để “mua vui cho được một vài trống canh”. Có thể nói, xung quanh chủ đề viết về người nghệ sĩ, Vũ Thanh Lịch còn đặt ra nhiều vấn đề khác nữa nóng hổi tính thời sự đối với hôm nay. Đó là những trăn trở thường trực của chị trong việc xác lập những giá trị tinh thần mới vừa đáp ứng được những chuẩn mực giá trị nhân văn muôn thuở vừa kế thừa, phát huy được những giá trị truyền thống. Tác phẩm có khả năng đánh động nhiều vấn đề có tính phổ biến về nhân sinh, thế sự, nhất là đánh thức được nỗi ưu tư về cuộc đời người nghệ sĩ trong lòng người đọc! Những phức hợp chủ đề này có khả năng bao quát và gợi ra nhiều suy ngẫm. Người đàn bà hát gọi mặt trời chính là hát gọi chồng, gọi con, gọi cuộc đời, gọi tấm lòng đồng điệu, tri âm…  như tìm kiếm những khoảng ánh sáng tâm hồn đồng loại để được trao gửi tất cả những yêu thương chân thành nồng hậu nhất.

Tóm lại, truyện Người đàn bà hát gọi mặt trời đã có nhiều thành công đáng ghi nhận. Chỉ hơi tiếc là hiện thực đời sống hiện lên trong tác phẩm còn chưa sắc nét và vươn tới tầm khái quát cao. Phần kết còn hơi lộ ý đồ của nhà văn. Dẫu vậy, theo tôi, đây là một truyện ngắn hay, thể hiện được một cú bứt phá mới trong hành trình sáng tác truyện ngắn của Vũ Thanh Lịch. Chị vẫn đang tiếp tục miệt mài, say mê theo đuổi những hướng tìm tòi, thể nghiệm khác nhau trong địa hạt văn xuôi. Hy vọng rằng trong tương lai không xa, nữ nhà văn trẻ này sẽ kiến tạo được một vị thế quan trọng trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.

Anh Sơn, ngày 12.8.2016

HÀ VINH TÂM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *