Tiểu luận tác giả trẻ Đặng Lê Tuyết Trinh ở Phú Thọ

Vanvn- Đặng Lê Tuyết Trinh sinh năm 1987 tại Phú Thọ. Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011, chị trở thành giảng viên của Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ.

Trước đó, trong thời gian công tác tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, chị đã tham gia biên soạn nhiều sách tham khảo ngữ văn cho học sinh các cấp. Khi trở thành giảng viên đại học, chị đã tập trung nghiên cứu nhiều đề tài khoa học, công bố những nghiên cứu văn học trên các tạp chí Việt Nam. Đề tài chị quan tâm chủ yếu là phê bình hậu hiện đại, phê bình cổ mẫu cũng như quá trình đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn hiện nay. Trong mỗi bài viết, chị đã thể hiện khá linh hoạt vốn kiến thức phê bình với một văn phong rõ ràng, mạch lạc và logic. Hiện nay, chị đang tham gia xây dựng Giáo trình Văn học tỉnh Phú Thọ.

Tác giả trẻ Đặng Lê Tuyết Trinh

Giải mã cổ mẫu tự nhiên trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

 

1. Đặt vấn đề

Phê bình cổ mẫu là một trong những hướng phê bình văn học mang tính chất quốc tê dựa trên lí thuyết tâm phân học của Karl Gustave Jung. Các cổ mẫu cũng “cổ xưa như ý thức của nhân loại vậy”. Bởi vậy, như Guy Schoeller đã từng khẳng định: “Sẽ là quá ít, nếu nói rằng chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta”. Nói cách khác dung lượng của cái biểu trưng và cái được biểu trưng trong cổ mẫu nói riêng và biểu tượng nghệ thuật nói chung không phải là quan hệ 1-1, mà luôn mang tính đa trị. K. G. Jung từng khẳng định rằng: không nên đồng nhất giữa cổ mẫu với bất cứ một nội dung cụ thể nào bất biến. Cổ mẫu không phải là một hình thái quan niệm mà chỉ là một “hình thức”, một “hệ thống trục” như trong kết tinh thể. Nói cách khác, một cổ mẫu luôn mang tính lưỡng trị.

Do gắn với bản năng nên xét về bản chất của cổ mẫu là gen tâm lí của con người. Và vì vậy theo quan niệm của Jung thì ứng với mỗi trạng thái của con người sẽ xuất hiện một cổ mẫu xã hội tương ứng như cổ mẫu người mẹ, người cha, người anh hùng… hoặc những cổ mẫu tự nhiên như trời, đất, lửa, nước, cây… Trong quá trình khảo sát các cổ mẫu tự nhiên như đất, nước, lửa trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, người ta nhận ra rằng chúng luôn tồn tại ở dạng thức “bội nghiệm”. Hơn thế, trong loại hình nghệ thuật ngôn từ, các cổ mẫu bao giờ cũng phải xa rời đời sống nguyên thuỷ của mình để khoác lên cái vỏ âm thanh ngôn ngữ nghệ thuật vốn có đặc trưng cơ bản là tính hình tượng, đa nghĩa. Vì vậy quá trình đi tìm hiểu các cổ mẫu này chính là hành trình đi giải mã những tầng ý nghĩa như những lớp trầm tích ẩn sâu trong mỗi cổ mẫu. Các cổ mẫu ấy được sử dụng đắc địa giống như những tảng băng chìm đang chờ người đọc khám phá.

2. Nội dung nghiên cứu

Đi tìm và giải mã những cổ mẫu tự nhiên như đất, nước, lửa trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã nhận diện và khái quát được một số lớp nghĩa như sau:

2.1. Cổ mẫu tự nhiên là những yếu tố sinh động thể hiện biến chuyển của tự nhiên

Đất, nước, lửa đều là những bản thể của tự nhiên, là những yếu tố cấu thành vũ trụ. Vì vậy ý nghĩa, chức năng đầu tiên mà người đọc có thể nhận thấy ở những cổ mẫu này chính là sự thể hiện, dự báo những biến chuyển của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của những cổ mẫu này là sự chiếu ứng những thay đổi, từ mơ hồ đến mạnh mẽ nhất của đời sống tự nhiên. Trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp, người đọc nhận ra bước nhảy của thiên nhiên qua từng biến thái tinh vi của đất, nước, lửa.

Lẽ vô thường trước hết thể hiện trong chuyển vần, biến dịch không ngừng của tự nhiên. Trong Chảy đi sông ơi, đó là hình ảnh con sông thay đổi theo mùa và hơn nữa, theo từng khoảnh khắc. “Mùa hoa, trên ngọn cây hoa gạo màu  đỏ xao xuyến lạ lùng. Nước lững lờ trôi, giữa tim dòng sông rạch một mũi sóng dập dồn, ở đầu mũi sóng có một điểm đen tựa như mũi giáo.” [1; 5]. Ngay trong thời gian ngắn ngủi của một ngày, con sông cũng biến đổi không thôi: “Chiều xuống, tiếng chuông nhà thờ giữa bến Cốc lan trên mặt sông mang mang vô tận”. Đêm, “Ở trên mặt sông ánh sao mờ hắt xuống những vệt lăn tăn bàng bạc đẹp đến lạ lùng”. “Về sáng, một dải sương mù buông toả trên sông, không thể phân biệt ranh giới giữa bến với bờ, giữa đường mặt sông với nền trời” [1; 5]. Hay trong truyện Thiên văn, lẽ vô thường cũng thể hiện trong “sự trở mặt của tự nhiên.”. Cảnh mặt sông khi bão đến: “Mặt sông chuyển sóng. Màu nước xanh sậm hơn. Rồi màu nước xanh sậm chuyển sang màu nhờ đục. Những cành củi khô, rác rưởi kết thành bè trôi loang loáng giữa dòng” [1; 333]. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã tinh tế nhận ra những biến chuyển tinh vi trong lòng con sông quê. Đó là qui luật của lẽ thường mà cả tự nhiên và con người đều phải chấp nhận, không thể đi ngược lại.

Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, người ta dễ dàng nhận thấy đằng sau sự bình yên bao giờ cũng là nhịp chảy ồn ào của bão tố, ẩn sau những điều tưởng như vô tri nhất lại là những lẽ đời sâu sắc. Chỉ nhìn cảnh vật phủ sương trên sông nhưng nhân vật “tôi” trong Con gái thuỷ thần lần đầu tiên đã thấm thía cảm giác về lẽ vô thường: “Sương mù giăng giăng trên mặt sông. Khi nắng lên, sương tan ra, sương tan ra rồi bay đi như khói, như mây…Sóng vỗ bờ, đẩy xác những con phù du, những con vờ chết đến tận sát chân tôi. Ấy là cảm giác về lẽ thường, lẽ vô thường lần đầu tiên tìm đến rón rén thăm dò tâm hồn tôi” [1; 88]. Đó là sự biến chuyển vô thường của tự nhiên: nắng lên, sương tan, sóng vỗ… Nhưng đứng trước dòng chảy của sông nước, con người bỗng chốc cảm nhận được nỗi ám ảnh về sự nhỏ nhoi, phù du của một kiếp người. Đời người hữu hạn, hư vô như màn sương có thể tan biến bất cứ lúc nào. Giữa dòng đời với bao lớp sóng ngầm, con người cũng giống như loài phù du kia trôi nổi vô định. Sự biến dịch của tự nhiên đã hoà lẫn với sự chảy trôi của đời người.

Cũng giống như biến thể sông, mưa trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng là sự phản chiếu những biến chuyển của đời sống tự nhiên. Hình ảnh mưa được lặp lại khá nhiều trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Mưa ở Nhã Nam, mưa ở Mường La, mưa ở bến sông, mưa ở rừng thẳm, mưa nơi đô thành, mưa vùng thôn vắng.. “Mưa, mưa, và mưa. Một mưa mịt mù nhân ảnh. Một mưa rây rây không thành hột. Một mưa xám ngắt nhân gian. Một mưa thối đất, úng trời. Một mưa bay bay, lạnh lùng nhân thế”[1; 193]. Tất cả do sự chuyển vần không ngừng của con xoay, tạo hoá. Nó như dòng đời mãi không nguôn xao động, vận hành.

2.2. Cổ mẫu tự nhiên là biểu tượng cho nhu cầu sống còn của con người và muôn vật và cũng là tai họa cho con người

Không chỉ đối với cộng đồng người Việt mà với cả nhân loại, các yếu tố như đất, nước, lửa đều là những nhân tố không thể thiếu tạo ra môi trường sống cho con người. Không phải ngẫu nhiên mà người phương Đông đề ra học thuyết Ngũ hành trong đó có đề cập đến ba yếu tố thuỷ, hoả, thổ là ba trong năm thành phần cơ bản cấu tạo nên vũ rụ và vạn vật. Cũng không phải tình cờ mà nhân loại coi việc con người tìm ra lửa hay sao Hoả có nước… là những phát hiện mang tính lịch sử, đánh dấu những bước tiến hoá mới trong khoa học và cuộc sống con người. Tất cả những học thuyết tưởng chừng như siêu phàm, mơ hồ, những phát minh vĩ đại ấy đều bắt nguồn từ hiện thực của đời sống con người. Ngay cả trong kinh nghiệm dân gian, nhân dân ta cũng từng đúc kết: “tầc đất, tấc vàng”, “nhất nước, nhì phân”… Có thể nói, trong thực tế cuộc sống của nhân loại, đất (thổ), nước (thuỷ), lửa (hoả) đều là những nhu cầu mang tính chất sống còn của con người và cả vạn vật.

Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, biến thể cổ mẫu sông hiện lên với ý nghĩa là nguồn sống không thể thiếu của người dân vùng chài. Trong Chảy đi sông ơi, sông mang lại tôm cá, mang lại sự sống cho những người dân nghèo đói, tội nghiệp. Không chỉ có vậy, con sông quê gắn liền với trâu đen còn có thể ban cho con người sức mạnh và những điều kì diệu. Cũng tương tự như vậy, mưa xuất hiện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với ý nghĩa là nguồn thiên ân tạo ra sự sống vật chất, mang đến niềm vui cho con người, mưa được coi như một thứ sữa trời nuôi sống cỏ cây và sinh ra cái đẹp (Những bài học nông thôn, Kiếm sắc). Khi trời hạn hán, không mưa, con người và thiên nhiên cũng không thể sống được, phải cầu cứu tới thần linh: “Con sống trung thực, dầu biết trung thực bao giờ cũng chịu đau khổ thiệt thòi. Tuy nhiên, nếu lòng trung thực chuộc được tội lỗi và mang tình yêu đến được cho thế gian này, xin trời mưa xuống…” (Những ngọn gió Hua Tát) [1; 208].

Trong thần thoại Ấn Độ Rig Vêđa, không gian rừng luôn được coi là mái nhà tự nhiên che chở cho con người, là mảnh đất của các vị thần, là người bạn của con người: “Trong rừng các thần che chở chúng tôi, không bỏ chúng tôi, ngày lại ngày ở với chúng tôi cho chúng tôi sung sướng” [5, 31]. Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, rừng cũng mang ý nghĩa ấy. Đó là nơi cung cấp lương thực nuôi sống con người: “Năm ấy, không hiểu sao rừng Hua Tát củ mài nhiều vô kể. Người ta đào được những củ mài to tướng dễ như bỡn. Những củ mài xốp, thơm hanh hanh và ngậy, ninh lên bở tai, ăn hơi tê rát vòm miệng rất thú. Nàng Bua và lũ con cũng kéo nhau đi đào. Rừng hào phóng và bao dung với tất cả mọi người” (Nàng Bua) [1; 204]. Dường như ở đây nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã có một sự so sánh ngầm ẩn trong mạch chuyện. Nếu như ở trước đó, nàng Bua luôn phải sống trong sự ghẻ lạnh, xa lánh của dân bản thì rừng – vật thể tự nhiên lại không bỏ rơi nàng, vẫn “hào phóng và bao dung với tất cả mọi người”, trong đó có cả nàng và lũ con nàng.

Tuy nhiên tự nhiên bao la, bạt ngàn cũng còn ẩn chứa những hiểm hoạ khôn lường. Chính vì thế, ý nghĩa biểu trưng của những loại cổ mẫu tự nhiên như đất, nước, lửa còn mang một nét nghĩa khác, đó là sự tượng trưng cho những tai hoạ của con người trong cuộc sống.

Ở một nước có nền tảng là nền nông nghiệp lúa nước như Việt Nam thì từ thuở hồng hoang mở nước, yếu tố nước đã đồng thời trở thành đối tượng tôn kính (Rồng) và cả đối tượng của sự sợ hãi, tượng trưng cho tai hoạ, sự huỷ diệt. Nước có thể là một vị thần phá hoại mùa màng (qua hình ảnh Thuỷ Tinh trong Sơn Tinh – Thuỷ Tinh hay trong Cường Bạo đại vương), nước cũng có thể làm chết người (qua biến thể nước sôi trong Tấm Cám). Sông với ý nghĩa nguồn chết bí ẩn: Chảy đi sông ơi (Ám ảnh về sông với nhân vật tôi chính là Hà Bá, đầu lâu người chết đuối, tình huống nhân vật tôi chết đuối “hụt”, cái chết của chị Thắm); Trong Con gái thuỷ thần, nhân vật Chương bị đánh cũng chính ở bến sông. Tính chất lưỡng phân của hai hướng nghĩa đối lập dòng sông – nguồn sống và dòng sông – nguồn chết được thể hiện rất rõ trong tình huống cậu bé trong Chảy đi sông ơi bị ngã xuống sông. Cậu suýt phải làm mồi cho Hà Bá chính là vì trùm Thịnh và những người đánh cá khác đang lao vào cuộc chiến giành giật đàn cá mòi, nguồn ân phúc của sông. Như vậy, có phải ngay trong sự sống mà sông ban tặng đã chất chứa trong lòng nó những hiểm hoạ của cuộc cạnh tranh sinh tồn? Đó dường như cũng là qui luật khắc nghiệt của tạo hóa.

Mưa trong văn hóa phương Đông và Trung Hoa thường được xem như là biểu tượng của một nguồn ân phúc, người Việt cũng thường nói “ơn mưa móc”. Nhưng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thì biến thể cổ mẫu này không phải chỉ mang nét nghĩa đơn thuần như vậy. Nó còn tượng trưng cho những hiểm họa, bất trắc tiềm ẩn trong đời sống, đe dọa sự bình an của con người: mưa đá (Đất quên) hoặc mưa đi đôi với gió lạnh, với tiếng hổ gầm, tiếng chó sói hú, những con rắn, con trăn tìm mồi, bọn cáo chồn hôi hám rình mò (Truyện tình kể trong đêm mưa), trong Giọt máu, mưa và sét (nguyên nhân cái chết của thằng Phúc, con trai Phong. Ngay cả thứ mưa vào mùa xuân thường được coi là lộc trời đầu năm nhưng trong quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp cũng lại là thứ “Mưa xuân giăng giăng trùm lên quả đồi, mưa không phải điềm lành” (Đời thế mà vui). Ý nghĩa biểu trưng này không xạ lạ với tâm thức người Việt. Thành ngữ Việt Nam vẫn lấy “mưa sa, bão táp” để chỉ những khó khăn, thử thách. Cái mới của Nguyễn Huy Thiệp là mưa gió cuộc đời được sử dụng để làm bật lên nỗi lo âu khắc khoải về sự sống mong manh, về nỗi cô đơn định mệnh cuả kiếp người. Con người sinh ra là đã một tiểu vũ trụ cô đơn lạc lõng giữa thiên hà, sinh ra là đã phải đối mặt với biết bao hiểm họa:

Đêm mưa có nhiều gió lạnh lắm…

Con mình trần thân trụi run rẩy…

Trong Giọt máu, mưa, sét (nguyên nhân cái chết của thằng Phúc, con trai Phong) và lửa (ngọn lửa đốt nhà Phong, lửa vạc dầu trong giấc mơ của Phong) cũng mang hướng nghĩa này nhưng có thêm sắc thái nghĩa bổ sung: mưa là hiểm họa bất ngờ nhưng cũng chính là sự báo oán, sự trừng phạt của đấng tối cao đối với tội ác của con người theo quy luật “đời cha ăn mặn đời con khát nước”. Mưa, sét ở đây đóng vai như vị thần Thiên Lôi chuyên trừng phạt những kẻ xấu. Đây là một nét nghĩa truyền thống mà người đọc đã từng gặp trong dân gian (như trong truyện Thạch Sanh, mẹ con Lí Thông cũng bị mưa, sét đánh chết để trừng phạt). Sự xuất hiện của nét nghĩa này trong truyện ngắn Giọt máu đã hé mở niềm tin dù là muộn màng, mong manh của nhà văn về lẽ công bằng của cuộc đời.

2.3. Cổ mẫu tự nhiên là biểu tượng về thời gian, cuộc sống, đời người

Đọc tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, độc giả thấy đó trước hết là những câu hỏi về thế gian, về thời gian, cuộc sống, cái chết. Qui luật mà Nguyễn Huy Thiệp quan tâm nhiều nhất, là quy luật của tự nhiên, của đời người. Qui luật ấy được thể hiện ngay từ kết cấu, bố cục trong tác phẩm. Không có vua gồm nhiều chương, chỉ các thời điểm khác nhau trong một ngày (chương 2 “Buổi sáng”, chương 4 “Buổi chiều”, chương 6 “Buổi tối”), cuộc sống cũng luân phiên chảy, nhưng có chu kỳ, được đánh dấu bằng các sự kiện không ngừng lặp đi lặp lại: “Ngày giỗ” (chương 3), “Ngày Tết” (chương 5). Nhưng đặc biệt dòng chảy của thời gian, cuộc sống còn được Nguyễn Huy Thiệp thể hiện một cách hình tượng qua các cổ mẫu tự nhiên.

Dòng sông trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là biểu tượng gợi sự chảy trôi mải miết của dòng đời. Trong Thiên văn, nhà văn không chỉ đơn thuần nói chuyện thời tiết, mưa nắng của tự nhiên mà sâu xa hơn, đó là sự phản chiếu về dòng đời. Tác giả đã mượn những câu thơ khuyết danh để khẳng định ý nghĩa này ngay ở mở đầu truyện ngắn:

Này nhé: này là dòng sông

Định mệnh cứ cuồn cuộn chảy

Bồi và lở

Được và mất

Và xuyên suốt tác phẩm này, Nguyễn Huy Thiệp cứ lồng vào đó những câu thơ mang triết lí về cuộc đời:

Này nhé: sự biến dịch luân hồi

Cười người hôm trước, hôm sau người cười…

Hay:

Này nhé: định mệnh

Người cồng kềnh và thô lậu

Những đợt sóng vận hạn của ngươi thật quái ác…

Dòng sông trong cảm quan của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp giống như dòng đời cũng có những khi êm ả bình yên, khi cũng có những khúc quanh với biết bao con sóng ngầm ẩn sâu. Ý nghĩa nay, chúng ta cũng bắt gặp trong truyện ngắn Chảy đi sông ơi. Người đọc được chứng kiến trên bến Cốc, “bao mùa cá đã đi qua, bao đời người đã đi qua”, biết bao chuyện đã xảy ra: chuyện giết người ăn cướp, chuyện ngoại tình, cờ bạc, chuyện con trâu đen huyền thoại, cái chết của chị Thắm… Tất cả những sự việc ấy, con người ấy cứ nối tiếp, đồng hành chảy trôi cùng dòng sông. Dòng sông là sự chiếu ứng của dòng đời, có khi phẳng lặng, có khi thăng trầm, bão táp. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lấy nhan đề truyện là Chảy đi sông ơi, và câu hát ấy lại được lặp lại hai lần trong truyện. Dường như cũng giống như điệp khúc “trước mặt tôi là dòng sông” được Nguyễn Huy Thiệp lặp lại nhiều lần trong Con gái thuỷ thần, dòng sông ấy không chỉ là sản phẩm đơn thuần của tự nhiên mà nó còn mang trong mình nhịp chảy trôi của đời người, là sự vẫy gọi của cuộc sống, thời gian. Biểu tượng dòng sông – dòng đời tiếp tục được Nguyễn Huy Thiệp triển khai trong truyện ngắn Đưa sáo sang sông, dòng sông ấy cũng đồng hiện với sự chảy trôi bất tận của biết bao nhiêu kiếp người: “Bao nhiêu nước sông đã chảy, bao nhiêu người đã qua đây… Ngoài sông gió xuân thổi. Kìa gió xuân thổi trên mặt sông bơ phờ xanh ơi là xanh” [1; 425]. Trên những dòng sông định mệnh ấy, ta bắt gặp những người như chị Thắm, Trương Chi. Họ đều là những người sống trên sông nước, sống nhờ sông nước, nhưng cuối cùng cũng chết vì sông nước, trong sông nước. Ở đây phải chăng Nguyễn Huy Thiệp muốn đặt ra câu hỏi băn khoăn về vị trí, vai trò của con người trong cuộc sống, hoặc là con người sẽ để lại một dấu ấn gì đó, hoặc họ chỉ là những sinh vật nhỏ nhoi, phù du, vô nghĩa có thể bị sóng đời đánh dạt vào bờ, bị lãng quên đi bởi thời gian.

Trong Truyện tình kể trong đêm mưa, mưa xuất hiện gắn với những khoảnh khắc chất chứa tâm sự của con người. Tiếng mưa rơi và tiếng côn trùng ùa vào nhà riết róng cùng tiếng hát của Bạc Kì Sinh, bài hát về nỗi cô đơn đã trở thành định mệnh của con người:

Ôi đau quá, đau nhói ở đây

Cái vật mềm ướt át ấy

Là trái tim con rơi trên đất

Mặt đất ấy nhiều gió, lạnh lắm  [1; 402]

Bài hát này xuất hiện hai lần trong truyện ngắn này, mỗi lần xuất hiện ở hai địa điểm khác nhau, khi ở vùng núi Tây Bắc, trong một ngôi nhà sàn dân dã, khi lại ở New York xa xôi, trong một quán cà phê hiện đại. Nhưng dù ở không gian nào thì tiếng hát ấy vẫn vang lên, đồng hành cùng tiếng mưa: “đêm hôm ấy ở New York, trời mưa rất to, mưa như ở vùng Tây Bắc Việt Nam, một thứ mưa nhiệt đới dai dẳng, tưởng như không dứt, tưởng như không thôi, tưởng như không thôi, tưởng như không không bao giờ hết được…” [1, 413]. Tiếng mưa thấm vào lòng người như cùng đồng cảm với nỗi cô đơn, nỗi buồn tha thiết của con người. Tâm trạng cô đơn, lạnh buốt như tan vào trong mưa, “trái tim mềm yếu, ướt át phập phồng rơi trên đất lạnh”, tất cả len lỏi từng ngõ ngách trong tâm hồn người đọc.

2.4.  Cổ mẫu tự nhiên là biểu tượng cho thế giới tinh thần của con người

Mưa trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ là thứ mưa vô hình, vô cảm mà nó còn tượng trưng cho nỗi thống khổ của kiếp người, gắn với bi kịch tình yêu tan vỡ của con người như trong Truyện tình kể trong đêm mưa, Mưa Nhã NamKhông khóc ở California. Hẳn người đọc sẽ chẳng thể nào quên cơn mưa chấm dứt mối duyên tình vừa chớm giữa Đề Thám và Xoan, mưa mang vị mặn chát như nước đại dương, biểu trưng cho nỗi khổ tâm của  một con người: “Đề Thám lắc đầu. Những giọt nước mưa mặn chát ướt đầm trên khuôn mặt ông” (Mưa Nhã Nam). Có khi mưa làm lòng người bồn chồn lo lắng (Thương nhớ đồng quê), có lúc mưa lại là chứng nhân minh chứng cho vẻ đẹp của lòng trung thực của con người (Tiệc xoà vui nhất).

Biến thể cổ mẫu biển trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng là biểu trưng cho sự phong phú của đời sống tinh thần, cho khao khát dấn thân vào đời sống đầy bí ẩn để kiếm tìm cái tuyệt đích: Con gái thuỷ thần, Thiên văn. Trong Con gái thuỷ thần, người đọc bắt gặp: “Trước mắt tôi, dòng sông đang thao thiết chảy. Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết biển, mà tôi đã sống nửa cuộc đời rồi đấy… Thời gian cũng thao thiết trôi… Chỉ ít năm nữa tới năm 2000…” [1; 88].  Hình ảnh những con sông chảy về với biển cứ trở đi trở lại trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp chính là dòng suy tưởng thâm trầm, lặng lẽ mà sâu sắc của nhà văn, là nỗi khao khát mạnh mẽ, bền bỉ muốn tận hưởng cuộc sống, muốn đo được đáy sâu của thời gian. Bởi vì thời gian đang trôi đi, thời gian đang giục giã! Giống như những dòng nước không bao giờ ngừng nghỉ chảy về biển lớn, nỗi khát khao của con người muốn được tự do tận hưởng cuộc sống là bất diệt, nó không bao giờ nguôn cồn cào trong mỗi sinh linh. Biển hay niềm hạnh phúc được vươn tới tột đỉnh cuộc sống mãi là cái đích vươn tới của nhân loại muôn đời. Cái kết thúc được lặp lại ở cả ba truyện trong Con gái thuỷ thần đã mở ra một chân trời mới, thôi thúc con người cứ đi, cứ tìm và sẽ thấy.

Đọc Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, độc giả dễ dàng nhận thấy cổ mẫu nước đã xuất hiện cụ thể với cảnh mưa ở cuối truyện, kết hợp cùng hình ảnh của Nhuệ Anh có ý nghĩa đặc biệt: nước mưa giống như con người mang trái tim nhân hậu, biết tha thứ lỗi lầm của kẻ khác mới có khả năng tẩy rửa, thanh lọc hồn người, mới thực sự là nguồn sống của con người. Hình ảnh Nhuệ Anh là thông điệp từ nước. Nước chảy từ sông suối là nước của trời, nước chảy từ đôi mắt là nước trong trái tim con người có khả năng hồi sinh, hồi sinh ngay cả những tâm hồn hoá hổ. Dường như nước trong quan niệm của người Việt thường mang sức mạnh thanh lọc hồn người. Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, cổ mẫu nước cũng mang ý nghĩa ấy với biến thể dòng sông: biểu trưng cho vẻ đẹp của thiên tính nữ, sức mạnh thanh tẩy và khả năng cứu sinh. Đó là ẩn ý sâu xa mà nhà văn muốn gửi gắm trong những truyện ngắn Chảy đi sông ơi, Con gái thuỷ thần

Cũng giống như những cổ mẫu khác, lửa trong truyện ngắn Nguyễn Thị Lộ là hình ảnh biểu tượng cho tình yêu cháy trong hai trái tim, hai con người Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi. Hình ảnh ngọn nến kiên nhẫn cháy ở cuối truyện không chỉ là kết tinh cho tấm lòng tri âm, tri kỉ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ mà còn bộc lộ được sự kiên cường của người anh hùng Nguyễn Trãi. 

Không gian đồng quê cũng được sử dụng nhiều lần trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như một ẩn dụ về đời sống con người. Cuộc đời và văn chương giống như một cánh đồng rộng lớn, có rất nhiều bờ ngang lối dọc, phức tập và chằng chịt. Đó là nơi con người phải cày xới, vun trồng, phải chờ đợi để có được thành quả để duy trì sự tồn tại của con người. Không gian rộng lớn ấy thường gắn liền với sự cô đơn, nhỏ nhoi của mỗi sinh linh và cũng là địa chỉ thuận tiện nhất đẩy con người về nơi tận cùng ý thức cá nhân khiến con người phải tự tìm kiếm những giá trị và ý nghĩa tồn tại đích thực của bản thân mỗi cá nhân. Đó chính là lối suy nghĩ mà ta gặp ở nhân vật Chương, Nham, Hiếu trong các truyện sử dụng biến thể cổ mẫu đồng quê trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.  

Cũng tương tự như thế, không gian rừng là mảnh đất nguyên thuỷ để con người tự đối diện với chính mình. Đây là một lớp nghĩa mang tính truyền thống trong văn học mà độc giả có thể bắt gặp từ trong thần thoại, sử thi, truyện cổ Ấn Độ. Trong hai sử thi vĩ đại của Ấn Độ là Ramayana và Mahabharata hay vở kịch cổ Sơkuntơla, người đọc nhận thấy có sự lặp lại cũng một môtíp các nhân vật chính (như Rama, Sita, anh em Panđava, Sơkuntơla…) thường bị đẩy vào rừng, chịu cảnh gian khổ để tu luyện đức độ, tập võ nghệ, thử thách bản lĩnh. Dường như rừng đã trở thành một không gian thiêng để con người tôn luyện và khẳng định bản lĩnh cá nhân. Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, rừng cũng là nơi con người chứng tỏ sức mạnh chinh phục của mình, đồng thời là nơi con người tìm lại được bản tính thiện, thứ vẫn tồn tại nơi đáy sâu tâm hồn con người, bị cuộc sống đô thị xô bồ hàng ngày bào mòn hoặc che lấp, nhưng khi đứng trước một thiên nhiên hoang sơ như thế, nó như được thức tỉnh. Đó là hình ảnh ông Pành trong Đất quên sống hơn tám mươi tuổi mà vẫn khoẻ mạnh, bỗng yêu mãnh liệt một cô gái trẻ. Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, rừng không chỉ là nguồn sống cung cấp thức ăn cho con người, là thế giới bao dung sẵn sàng đón nhận con người mà có khi rừng cũng: “vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn. Rừng muôn đời là thế: vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn?” (Mưa Nhã Nam) [1; 193]. Cũng chính trong không gian ấy, con người được đối diện với chính mình để cảm nhận tận cùng sự cô đơn, bất lực. Cũng tái tạo cổ mẫu này để diễn tả thế giới cảm xúc của con người nhưng rừng trong Muối của rừng lại mang một nét nghĩa khác. Rừng ở đó được mở ra trong một bối cảnh đầy chất thơ với những triền đá vôi cao ngất, đàn khỉ lông vàng và rừng dâu da chín đỏ bên cạnh vực sâu lãng đãng sương mù của rừng Tây Bắc se lạnh trong làn mưa bụi sau tết âm lịch chừng một tháng. Chính cái nền không gian thanh khiết với vô vàn sắc thái ấy đã tạo nên một thứ ma lực dẫn dụ trí tưởng tượng, làm người đọc bị thôi miên bởi sự giao thoa của những lớp sóng ngôn từ. Trong tác phẩm này, chúng ta chứng kiến sự xuất hiện của “Hoa tử huyền”, muối của rừng – “điềm báo đất nước thanh bình” cũng là một bất ngờ mang tính biểu tượng. Và không hiểu sao, nhưng khi đọc truyện ngắn này, tôi lại chợt nhớ đến hoa điểm tuyết trong một truyện ngắn cùng tên của K. Pautopxki. Cả hai loài hoa diệu kì ấy chỉ xuất hiện khi con người đã làm một việc tốt mà ngay bản thân họ cũng không ý thức được việc làm của mình. Phải chăng chuyến đi săn của ông Diểu là hành trình đánh thức lương tâm con người dưới tác động của cái Đẹp? Ông Diểu vào rừng để thoả mãn thú vui riêng của mình “đi săn trong rừng vào một ngày xuân kể cũng đáng sống”. Ông đã trải qua biết bao nhiêu nhọc nhằn để rồi được kiêu hãnh, tự hào: “Hỏi ai bắn được con khỉ thế này?…. bắn được con vật như thế này thì dẫu mảnh giáp không còn cũng đáng!” [1; 66]. Hành trình đánh thức lương tri trong con người ông Điểu không phải là một con đường dễ dàng mà ở đó xuất hiện sự giằng xé xấu – tốt, quyền lợi – trách nhiệm trong mỗi con người: “Nó cứ giãy giụa, nó làm cho ông khổ vô cùng. Ông Diểu mệt lả, ông không còn sức giữ con khỉ nữa. Hai tay con khỉ cào trên ngực ông toé máu. Cuối cùng, không thể chịu đựng nổi, ông đành tức giận ném nó xuống đất” [1; 66]. Thiên lương có thể lúc mạnh lúc yếu nhưng nó giống như ngọn lủa luôn âm ỉ cháy, luôn sống trong con người, nó là sợi chỉ vô hình nhưng bền chặt giữ con người khỏi cuốn vào vòng xoáy của cuộc đời. Ông Diểu đến lúc này chợt nhận ra “Hóa ra ở đời trách nhiệm đè lên từng mỗi sinh vật quả thật nặng nề” và “buồn tê tái đến tận đáy lòng”. “Thôi tao phóng sinh cho mày” [1; 66]. Người viết chợt nhớ đến triết lý của đạo Phật “đời là bể khổ” – “quay đầu là thấy bến”. Hành động ấy của ông Diểu như một kết quả tất yếu khi lương tâm được đánh thức, ông đã thực sự “ngộ”. Hoa tử huyền có lẽ là sự báo hiệu kết thúc của chuyến đi săn – kết thúc hành trình trở về với thiên lương. Biến thể cổ mẫu rừng với biểu tượng của hoa tử huyền đã làm ngời sáng lên vẻ đẹp tấm lòng thiên lương của con người. Muối của rừng thực sự là một truyện ngắn hay “kết tủa” tinh chất Nguyễn Huy Thiệp, hệt như muối đọng hạt trắng muốt từ nước biển lênh loang phơi chín dưới nắng mặt trời. Trí tưởng tưởng đặc biệt kiểu Nguyễn Huy Thiệp đã đẩy nhân vật một ông lão cô độc, chớm già vào rừng. Ông đi săn với nỗi muộn phiền cùng bao hệ lụy trần thế ám ảnh. Ra khỏi rừng, được chính cuộc đi săn “tẩy rửa”, ông buông bỏ hết, cả áo quần, cả con khỉ đực đã vất vả săn được, chỉ mang theo “tấm thân rày đã nhẹ nhàng”, với độc trọi cảm giác “phóng sinh” trong trẻo. Nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đã hoàn toàn có lý khi nhận xét: Muối của rừng chính là bài ca trữ tình ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của thiên lương.

3. Kết luận

Có thể thấy việc khảo sát cổ mẫu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp và giải mã những ý nghĩa của thế giới cổ mẫu này theo con đường phê bình cổ mẫu là một hướng nghiên cứu mới, phù hợp với xu hướng phê bình văn học hiện đại hiện nay. Nó góp phần tạo nên một góc nhìn mới về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đặt trong cách nhìn lịch đại và đồng đại. Trong mỗi truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không phải chỉ có một cổ mẫu duy nhất mà thường là sự đan cài của một số cổ mẫu, chúng có thể có quan hệ đẳng cấu, bổ sung hoặc tương phản với nhau, làm bật lên một cổ mẫu trung tâm hoặc chủ để chung của tác phẩm. Hơn nữa, các hướng nghĩa biểu trưng phong phú của cổ mẫu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp lại vừa là sự tiếp thu ý nghĩa nguyên khởi của mẫu gốc truyền thống, vừa là sự điều chỉnh, sáng tạo của cá nhân nhà văn, nó “thấm đẫm cảm quan phương Đông với dấu ấn của các quan niệm Phật giáo, Lão giáo” [3]. Chính vì thế, đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, dù độc giả có gặp lại những cổ mẫu xưa cũ, người ta cũng có cảm giác như gặp “người quen lạ mặt” (mượn chữ của Bênlinxki). Thế giới cổ mẫu đa trị ấy là những chất liệu nghệ thuật quan trọng giúp nhà văn truyền tải được những thông điệp về cuộc sống và con người đến bạn đọc một cách kín đáo, ý vị và sâu xa đúng như K. G. Jung từng nhận định: Nỗi buồn sáng tạo dẫn đưa nghệ sĩ đi vào bề sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên tượng có khả năng bù đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại.

Các nhà phê bình mới (new criticists) thừa nhận rằng các năng lực tạo hình của Vô thức tập thể như “một con đường riêng để mở ra khu rừng vốn rậm rịt những ảnh hình của mơ mộng nghệ thuật, hay những trò chơi ú tim của chốn tiềm thức” [4]. Sống trong môi trường chung văn hóa, thời đại, cổ mẫu dù đã lùi sâu vào quá khứ nhưng vẫn sống động trong tác phẩm với rất nhiều mối quan hệ, theo thời gian và qua không gian, nó sẽ được liên tục bổ sung ý nghĩa mới. Chính vì thế, ý nghĩa biểu tượng trong tác phẩm hoàn toàn không cố định, không giới hạn, nó vẫn luôn phát triển và kích thích trí tưởng tượng cũng như khả năng sáng tạo của độc giả. Chất liệu sáng tạo của nhà văn mang dấu vết của chất liệu văn hoá dân gian được “đọc lại” và người đọc sẽ có cơ hội tìm thấy ở xu hướng phê bình cổ mẫu những vẫy gọi mới từ chiều sâu của văn bản.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1- Nguyễn Huy Thiệp (2004), Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội.

2- Lê Thị Hồng Hạnh, “Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, web Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2009,
http: //nguvan.hnue.edu.vn.

3- Lưu Thị Thu Hà (2008), Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, nìn từ góc độ thể loại, luận văn Thạc sĩ văn học, tài liệu chưa xuất bản  đã  được  sự  đồng  ý  của  tác giả, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Hà Nội.

4- Nguyễn Quang Huy (2012), “Thử dẫn vào nghiên cứu văn học từ góc nhìn cổ mẫu”, Tạp chí Sông Hương, truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012 http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p0/c7/n10601/Thu-dan-vao-nghien-cuu-van-hoc-tu-goc-nhin-co-mau-archetype.html.

5- Lưu Đức Trung (2004), Văn học Ấn Độ, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

6- Nguyễn Thị Thanh Xuân (2007), “Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam”, Tạp chí Tạp chí Nghiên cứu văn học, truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=122:i-tim-c-mu-trong-vn-hc-vit-nam-&catid=94:ly-lun-va-phe-binh-vn-hc&Itemid=135.

Tranh của Nguyễn Quang Thiều

Giới thiệu về thơ Hoàng Hữu

 

Phú Thọ là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc của Việt Nam. Về Phú Thọ là về với vùng đất cổ Văn Lang, về với mảnh đất cội nguồn của đất nước Việt Nam, mảnh đất giàu truyền thống văn hóa dân gian.  Song hành tiến trình phát triển của văn học dân gian Việt Nam, văn hóa, học dân gian Phú Thọ xuất hiện đã lâu và đạt nhiều thành tựu như truyền thuyết Hùng Vương, truyện cười Văn Lang, các lễ hội gắn với nông nghiệp, gắn với thời Hùng Vương dựng nước (Lễ hội Trò Trám; Lễ hội Hiền Quan; hội làng He, hội làng Vi – Trẹo,  hội làng Thanh Đình; hội làng Xuân Quang, hội làng Lương Lỗ…).

Kế thừa nền tảng giá trị của kho tàng văn học dân gian ấy, phát huy thế mạnh từ nguồn cội văn hóa dân tộc, văn học viết Phú Thọ đã hình thành, phát triển và kết tinh nhiều thành tựu. Trong thời trung đại, nhiều văn nhân, sĩ tử nổi tiếng đã có thời gian sống và viết trên quê hương Phú Thọ như Hồ Xuân Hương với Khóc tổng Cóc, Khóc ông phủ Vĩnh Tường, Nguyễn Quang Bích với Hồng giang, Tái quá Hồng giang thủy trướng bất năng độ, Quá Thao hà thượng lưu cảm tác, Xuân nhật tức sự… Giữa buổi giao thoa “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại” đầu thế kỉ XX, độc giả có thể biết đến nhà thơ Tản Đà với nhiều thi phẩm đặc sắc trong thời gian ông về Phú Thọ làm nghề báo. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, Phú Thọ đã trở thành một trong những cái nôi của văn nghệ kháng chiến với sự xuất hiện, làm việc và sáng tác của nhiều nhà văn lớn như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu… Bước sang thời kì kháng chiến chống Mĩ, lực lượng sáng tác văn học Phú Thọ đã có bước trưởng thành đáng kể với sự xuất hiện của những tên tuổi văn xuôi như Sao Mai, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Hữu Nhàn, Văn Chinh…; những hiện tượng thơ ca như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đình Ảnh, Bút Tre, Kim Dũng… hay những sáng tác kịch của Nguyễn Kính, Trần Thành… Sau năm 1975, văn học Phú Thọ tiếp tục ghi dấu ấn phát triển với sự góp mặt nổi bật của nhiều tác giả như Nguyễn Tham Thiện Kế, Nguyễn Anh Đào, Đỗ Xuân Thu, Nguyễn Văn Lạc, Nguyễn Hưng Hải, Ngô Kim Đỉnh, Nguyễn Đình Phúc…

Một trong những người có mặt ngay từ những ngày thành lập Hội Văn nghệ Vĩnh Phú, đặt những nền móng đầu tiên cho sự phát triển của Hội, đó chính là nhà thơ – họa sĩ Hoàng Hữu. Mặc dù không sinh ra trên mặt đất Phú Thọ, nhưng tình yêu với mảnh đất và con người nơi đây đã là nguồn cảm hứng dồi dào cho Hoàng Hữu sáng tác. Những thi phẩm hay nhất, những bức họa làm nên danh tiếng của ông đều gắn liền với hình ảnh quê hương của truyền thuyết vua Hùng. Vì vậy nếu dạy học văn học địa phương tỉnh Phú Thọ mà không nhắc đến nhà thơ Hoàng Hữu thì đó quả thực là một thiếu sót.

Hoàng Hữu tên thật là Nguyễn Hữu Dũng, sinh ngày 24/9/1945. Ông quê ở Hải Phòng, nhưng thời gian sống ở Vĩnh Phú (Phú Thọ – Vĩnh Yên – Phúc Yên) nhiều hơn, trở thành một trong những người thành lập Hội Văn học nghệ thuật Vĩnh Phú. Ông từng học Trung cấp Mỹ thuật công nghiệp, rồi được phân về Ty Văn hoá – Thông tin Vĩnh Phú với những công việc thường nhật như: vẽ pa-nô, áp-phích, tranh cổ động, làm báo và vẽ bìa sách… Ở lĩnh vực nào của công việc, ông cũng để lại những dấu ấn của sự tài hoa. Tranh của ông đã nhiều lần được tham gia triển lãm Mỹ thuật toàn quốc.

Sinh thời Hoàng Hữu có phong cách sống kín đáo, nhẹ nhàng, khiêm tốn giản dị, rất có trách nhiệm với mọi người. Cuộc sống tuổi thơ khó khăn, lại mắc bệnh tim bẩm sinh, nên mỗi ngày sống của ông là mỗi ngày vượt lên ốm đau, bệnh tật. Ngày 29/12/1981, khi tài năng đang ở độ chín thì ông mất sau một thời gian dài vừa làm nghệ thuật, vừa chống chọi với bệnh tim.

Mặc dù chỉ hiện hữu trên cõi đời chưa được 40 mùa xuân nhưng tác giả Hoàng Hữu lúc nào cũng dồn hết tâm huyết vào vẽ tranh, làm thơ, làm bìa sách cho bạn bè, vừa để được thỏa niềm đam mê sáng tạo và cũng là một cách để ông trả ơn cuộc sống. Phần thơ của ông có khoảng gần 100 bài, chủ yếu viết về miền quê trung du thanh bình, như Đêm ven sông, Ngọn gió qua làng, Chiều trong ký họa, Thơ đề tranh cá; đáng chú ý là bài thơ Hai nửa vầng trăng được ông viết đầu năm 1981. Sau khi gửi dự thi thì cuối năm ông mất, bài thơ đoạt giải nhì cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ năm 1982. Với những cống hiến không biết mệt mỏi của mình cho nền văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ, ông đã được tôn vinh với Giải thưởng Hùng Vương về văn học nghệ thuật của tỉnh năm 1985. Về phần hội họa, ông để lại cho đời rất nhiều bức họa đẹp về phong cảnh quê hương như “Ngõ làng Thổ Tang”, “Chợ quê”, “Mùa gặt”, “Điện về làng”…

Tác phẩm chính:

– Màu cây miền châu thổ, Hoàng Hữu, Nguyễn Tấn Việt, Hội văn học nghệ thuật Vĩnh Phú, 1977.

Khói ấm sau cây, Hội văn học nghệ thuật Vĩnh Phú, 1984.

– Hai nửa vầng trăng, NXB Văn học, 1991

Hoàng Hữu – Tác phẩm, NXB Văn học, 2016.

Tuyển tập Hoàng Hữu – Tác phẩm được xuất bản nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh  và 35 năm ngày mất của nhà thơ, hoạ sĩ Hoàng Hữu. Cuốn sách được những người làm sách kết cấu thành 5 phần trong mối liên hệ khăng khít: Thơ trữ tình (83 bài), thơ cho thiếu nhi (12 bài), truyện ngắn (1 – Dưới chân núi cũ), mỹ thuật (gồm các áp phích, tranh bột màu, thuốc nước, khắc gỗ, ký họa, bìa sách…) và phần cuối – Trăng vẫn mọc trong lòng bè bạn – là tình cảm bạn bè đối với Hoàng Hữu và tác phẩm của anh.

Trong bài Người được giải thưởng Hùng Vương – nhà thơ Hoàng Hữu, tác giả Võ Thanh Phương bình luận: “Anh đã “lặng lẽ sống thật mình”, như “cây rễ mải miết chắt mỡ màu tháng Chạp”, như “sống soi mình cùng xóm làng thân thuộc… cứ tận tình chằm bẵm đất đai”, như “con tàu chăm chỉ”, như “người lính” mong mỏi lắm, chưa thể nào yên được”, “cùng một niềm giục giã ở sau lưng”… để làm một người chân chính “tận lõi than ngọn lửa cháy hết mình”. Tìm hiểu gia tài mà nhà thơ Hoàng Hữu để lại, người đọc có thể nhận diện một số đặc điểm sáng tác nổi bật sau:

1. Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Hoàng Hữu

1.1. Cái tôi sử thi trong mạch chung của thơ ca kháng chiến

Bản chất của thơ trữ tình là sự ý thức và những xúc cảm của cái tôi. Song khi đất nước có giặc ngoại xâm thì lợi ích của dân tộc và mỗi cá nhân hài hòa làm một. Chính vì vậy, văn học nói chung và thơ chống Mỹ nói riêng đã ưu tiên đặt vấn đề của dân tộc lên trên hết, cái tôi cá nhân tạm thời “nén lại”, để rồi “Cái tinh tế cỏ hoa tạm thời chưa nghĩ đến” (Chế Lan Viên).

Cái tôi “bám sát các sự kiện, biến cố lịch sử không thể là một cái tôi nào khác ngoài cái tôi công dân ý thức được mình là một phần của sự vận động lịch sử”. Một mặt, cái tôi sử thi đại diện cho tiếng nói của dân tộc, lương tri của nhân loại, ngợi ca đất nước, biểu dương những con người anh hùng, mặt khác lại vạch mặt, lên án, chất vấn, truy kích, tố cáo kẻ thù. Cái tôi sử thi còn được biểu hiện trong sự tự nhận thức, phát hiện và tự thể hiện của dân tộc và nhân dân qua tiếng nói của người đại diện là nhà thơ, nhà văn.

Cái nhìn sử thi là cái nhìn hoành tráng; điểm nhìn sử thi là hiện thực được phóng chiếu trên cái nền rộng lớn của những chiều kích vĩ mô; cảm xúc sử thi là “cảm xúc ở trạng thái đỉnh điểm, cao trào” đồng thời “tư duy sử thi đòi hỏi một tinh thần làm cốt lõi”. Chính với những đặc điểm này, tinh thần yêu nước, hành động anh hùng, phẩm chất ngời sáng thông qua sự thể hiện của cái tôi trữ tình sử thi đã mang tầm vóc khái quát: đó là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Sau gian nan vẫn đều đặn tiếng còi
Tàu ngược xuôi đâu quên chào xóm nhỏ
Đêm ven sông bỗng sao mà thương nhớ
Nửa nước mình súng nổ sáng đêm thâu.

(Đêm ven sông – 1970)

Sức mạnh toàn dân tộc được soi chiếu bởi tầm nhìn sử thi. Sự nghiệp anh hùng trong những năm tháng hào hùng thời đánh Mỹ được nhà thơ Chế Lan Viên khái quát, cùng niềm tự hào “Ta đánh giặc suốt ba mươi năm trời chẳng cần có ai thay-Cả dân tộc không một ai làm quân dự bị” (Ngày vĩ đại).

Con người sử thi trong tư thế nhân danh đại diện cái ta cộng đồng, tiếng nói của cái tôi trữ tình có sức âm vang của tiếng nói chung, có sức thuyết phục của chân lý phổ quát:

Qua rất nhiều đạn bom
Suốt dọc dài đất nước
Ở đâu con cũng gặp
Mẹ lặng nhìn đôi mắt
Ngời ngợi màu lửa quê.

(Mẹ tôi – 1975)

Từ giã hậu phương, dấu chân người lính in khắp nẻo đường đất nước. Gia tài của người chiến sĩ không chỉ là những gì nằm gọn trong chiếc ba lô quàng vai mà còn là tình cảm không thể nào nguôi quên với người thân nơi hậu phương. Kí ức về những năm tháng ở quê hương như những đợt sóng ngầm dội vào trái tim người lính, tạo nên một thứ tình cảm kì diệu. Trong đó hình tượng mẹ đã trở thành trung tâm của mọi suy nghĩ, hành động. Từ người mẹ riêng của các chiến sĩ đã hòa nhập làm một và trở thành người mẹ chung: người mẹ nhân dân, người mẹ đất nước “ngời ngợi màu lửa quê”.

Chân dung tinh thần của thế hệ trẻ đi qua cuộc chiến tranh được tô đậm ở sự lựa chọn dấn thân tự nguyện đầy tỉnh táo và lí trí, chứ không còn là niềm say mê, háo hức, có phần bồng bột và đầy chất lãng mạn như hồi đầu bước vào cuộc chiến tranh. Họ yêu Tổ quốc bằng tình yêu mang đậm màu sắc thế hệ, gắn liền với nhân dân, quê hương, gia đình, bản thân. Họ bước chân vào cuộc chiến bằng cả niềm tự hào về truyền thống đánh giặc cứu nước của cha ông:

Lưỡi gươm khắc tấm gương chung
Con voi phản phúc tìm dòng máu loang
Cho liền mạch đất cha ông
Mái tranh kề mái cây chung đất dầy.

       (Trống đồng trên đất đai truyền thuyết)

Người dân trong chiến tranh hay người lính trong thơ Hoàng Hữu nói riêng và trong văn học giai đoạn kháng chiến chống Mĩ nói chung thường được thể hiện là hình ảnh của những con người lạc quan, sống vì mọi người, tin tưởng tuyệt đối vào lí tưởng cách mạng mà mình đã chọn. Họ là biểu hiện của ý chí, khát vọng cộng đồng, dân tộc, cao hơn là ý chí thời đại và nhân loại. Lý tưởng và nhận thức ấy, trở thành động lực và hành động ở mỗi người lính. Chưa bao giờ ý thức cộng đồng, chủ nghĩa anh hùng tập thể lại được tôn vinh, đề cao và chứa đựng nhiều ý nghĩa thẩm mĩ như vậy trong các tác phẩm thời kì này. Chính chủ nghĩa anh hùng tập thể ấy giúp người lính luôn lạc quan, tin tưởng vào con đường cách mạng cho dù phía trước họ đang là bom rơi, đạn nổ, là nguy hiểm cận kề cái chết:

Bom siêu âm giặc ném xuống Việt Trì

Thành phố đỏ trong tầm pháo bắn

Tôi chợt nghe đều đặn

Tiếng gà,

Như thường lệ, thắp một trời ánh sáng.

                                (Tiếng gà)

Tiếng gà “thắp một trời ánh sáng” giữa bom đạn nơi thành phố ngã ba sông là biểu tượng cho sức sống, cho sự trường tồn của một vùng quê anh hùng, nơi cội nguồn linh thiêng của dân tộc. Đó cũng là ánh sáng của sự lạc quan, tin tưởng của nhà thơ Hoàng Hữu vào con đường cách mạng của dân tộc.

1.2. Cái tôi xốn xang, thấm đẫm chất trung du trong sự ẩn nhường riêng – chung

Thơ của Hoàng Hữu qua từng mốc thời gian cuộc đời riêng cũng gắn liền với những biến đổi, thăng trầm chung của đất nước. Thời gian đầu, thơ Hoàng Hữu giản dị, chân chất, có phần bồng bột giống như một người lính mới nhập ngũ, chưa trải sự đời. Nhưng càng về sau, với độ thấm nhuần của cảm xúc, thơ ông đã thể hiện một cái tôi xốn xang, thấm đẫm chất trung du trong sự ẩn nhường riêng – chung một cách tinh tế, với những rạo rực của tình bạn, tình yêu, tình quân dân, tình yêu quê hương đất nước… đan xen một cách ý vị. Từ cái cao cả lớn lao của thời đại đến cái bình dị nhỏ bé của đời thường đều được Hoàng Hữu thể hiện bằng cái nhìn chân thành, đầy đặn hơn. Đời sống nội tâm của con người với những điều thầm kín, những tâm tư, tình cảm cá nhân được bộc bạch thật lòng:

Một thời trai gái trao duyên

Chiếc vòng tay với chiếc khèn làm tin

Đêm dựng nước sáng tiếng chim

Bay trên chớp lửa hót trên núi Hùng.

(Trống đồng trên đất đai truyền thuyết)

Hoàng Hữu viết và sống gắn với vùng Đất Tổ trung du trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ đến những năm 1981, vì vậy bên cạnh những tiếng thơ đẫm chất sử thi, thơ ông cũng thấm đẫm hình ảnh, con người trung du, với những nỗi niềm xối xang riêng – chung. Có một thoáng tâm trạng, một chút ý nghĩ, tưởng là rất riêng tư, nhưng thơ viết tự nhiên ra như thế, đã chạm vào tiếng lòng của bao người. Đó có khi là nỗi buồn man mác pha mây, pha sương, thẫn thờ nơi vùng đất “Thị xã không em”:

Anh về. Phố xá lặng yên

 Vườn thưa, nắng rụng, sóng im đáy hồ

Chiều xanh xanh đến thẫn thờ

Không em. Liễu đứng bên hồ đợi anh…

(Thị xã không em)

Đó có khi là tiếng lòng của nhân vật trữ tình tự viết nên Bản tình ca mùa Đông, như là kể lại câu chuyện tình yêu của mình trên mảnh đất gắn liền với miền cổ tích, truyền thuyết Vua Hùng:

Qua dài dặc mùa đông

Em trở về ngõ nhỏ

Vẫn đường cây không tên

Mọc trên nền truyền thuyết

Em có tin là đất

Với trời vừa gặp nhau?

Để phấn mưa trên tóc

Riêng riêng hai mái đầu. 

(Bản tình ca mùa Đông)

Em đã khóc,
Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát.
Em đã khóc,
Nhưng làm sao tới được,
Bến bờ anh tim dội sóng không cùng.

(Hai nửa vầng trăng )

Đó có khi là khoảng lặng giữa đại ngàn, là phút giây bình yên giữa cuộc chiến tranh. Không gian riêng tư làm dịu đi cuộc chiến tranh tàn khốc, cho anh và em được trở lại đời thường bình dị với những xúc cảm chân thực của nỗi nhớ và cả nỗi buồn man mác:

Đến với rừng, anh hiểu anh hơn
Bởi yêu em, rừng thành nỗi nhớ
Thành con dốc khi mồ hôi đổ
Thành cây dăng trước mọi bão bùng
Thành chân trời chim hót phía hừng đông.

(Trước cửa rừng)

Trên đỉnh ngàn thước này tôi đâu ngỡ gặp em
Rừng thảng thốt hơi mưa hơi nắng
Hoa mỏng mảnh như xưa buông trên tầng đá xám
Ẩn chút buồn sâu kín mới phôi pha.

(Năm ấy hoa bìm)

Không gian kỷ niệm có khi lại làm mềm lòng người đọc với vẻ đẹp của nỗi buồn, sự nhớ nhung, xa cách. Chiến tranh khiến cho tình cảm cách chia. Những đôi lứa thương nhau chỉ biết gần nhau bằng kỷ niệm, bằng nhớ nhung và chờ đợi. Dường như những nỗi nhớ niềm thương ấy đã thấm cả vào đá, vào không gian để rồi mọi thứ ngưng đọng trong kỉ niệm và hồi ức:

Ngày không em chiếc ghế vẫn bên hồ
Thời gian chảy tháng ngày trên mặt đá
Lúc đến bên em, hồ thành xa lạ
Chuyện đời mình làm đá cũng ưu tư…

(Không đề I)

Bên cạnh những bài thơ tình lãng mạn, Hoàng Hữu còn dành nhiều trang thơ của mình để viết về gia đình với những kỉ niệm ấu thơ:

Cả nhà ngồi một xe

Lưng cha che gió rét.

Những tình cảm yêu thương người cha dành con cái, cho gia đình trong cuộc đời là một sợi dây vô hình kết nối, là những kỷ niệm làm con nhớ mãi. Hình ảnh “lưng cha che gió rét” giản dị, chân thực mà nao lòng cả tuổi thơ. Nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ mà cồn cào một nỗi nhớ thương những người thân trong gia đình. Đó là hình ảnh người bà đã đi xa như “giàn trầu” đã héo hắt, mòn mỏi:

Bây giờ bà đi xa

Cả nhà không được gặp

Giàn trầu xanh héo hắt

Bám hờ trên tường vôi

Nhưng vẫn còn đó là lời dặn của ông cha:

Khói trầm trên mái rơm
Phải lời cha dặn dẽ?
Đất ông bà cội rễ
Suốt đời thương cháu con.

(Tháng giêng, chiều đất bãi)

Tình cảm của người cha dành cho con rất thiết tha, trìu mến. Tình cảm này bộc lộ tự nhiên, chân thực qua những lời nhắn gửi của cha cho con. Người cha muốn con sống phải có nghĩa tình, thuỷ chung với quê hương, gia đình.

Có thể nói, trong thơ Hoàng Hữu, hình ảnh những người thân trong gia đình luôn hiện lên đầy sự yêu thương. Đó là hình ảnh người cha lấy thân mình che đi cơn gió rét cho cả gia đình, hình ảnh người bà tần tảo sớm hôm, là hình ảnh ông cha suốt đời “thương cháu con”. Đó đều là những cội nguồn yêu thương, làm nên sức mạnh cho mỗi người Việt Nam ra trận, chiến đấu, hi sinh và chiến thắng.

2. Sự giao thoa thơ – họa trong thơ Hoàng Hữu

Vốn là một họa sĩ có tài, lại được đào tạo chính quy nên bản thân nhà thơ Hoàng Hữu luôn mang trong mình tư duy hội họa sâu sắc. Chính điều này đã giúp ông rất nhiều trong quá trình “từ một tâm hồn thơ, anh đã trở thành một nhà thơ”. Bản thân nhà thơ luôn quan niệm được sống thật với cảm xúc của mình, được hòa mình vào thiên nhiên với hồn dân tộc chính là con đường dẫn ông đến với thơ, với nghệ thuật:

Sóng dào lên sáng ánh tay em
Là vũ điệu dân gian của tảo tần bận mọn
Được buông thả hết mình cùng cỏ cây ngợi sáng
Được thật với chính mình nào dễ đâu em.

Hoạ sĩ dường nhập cuộc với thiên nhiên
Màu thuần phác đồng quê tươi mới mãi
Hồn dân dã tổ tiên trao gửi
Qua nét khắc mộc thô trên vân gỗ lượn bày.

(Mỉm cười trên giấy điệp)

2.1. Giá trị tạo hình của ngôn ngữ thơ Hoàng Hữu trong những bức tranh phong cảnh

Đọc thơ Hoàng Hữu, người đọc dễ bị mê hoặc bởi những ngôn từ đầy chất hội họa. Hãy xem họa sĩ Hoàng Hữu vừa vẽ vừa làm thơ về các nàng thôn nữ xuống tắm hồ sen đêm trăng khi anh làm nhiệm vụ sao chép lại các bức phù điêu ở đình làng, chuẩn bị cho cuộc tái thiết sau chiến tranh :

Dường như từ trăng kia các em xuống tắm hồ
Màu ngà ngọc tròn đầy da thịt
Dường như các em nở ra từ nước
Mát tươi tơ ngó ùa lên.
Suốt một ngày tay cuốc tay liềm
Giờ khoả nước ngón xoè nõn búp
Trăng loáng chảy ướt ròng khuôn ngực
Chút ngập ngừng cong lẳn sáng bờ vai

(Mỉm cười trên giấy điệp)

Những vần thơ gợi được sự thanh thoát, lung linh, buông thả mà kín đáo, đẹp và thơ… Thân thể trần truồng của người đàn bà là vẻ đẹp vĩnh hằng, xác tín của tạo hóa ban cho con người. Trong vẻ đẹp quyến rũ lành mạnh như một tín ngưỡng này, bức tranh của Hoàng Hữu thần bút hơn cả.

Chất họa diệu kì ấy còn biến những vật vô tri sống dậy có linh hồn:

Vầng trăng rất thật kia cũng mới chỉ vầng trăng
Cá quẫy sóng cho tan rồi lắng lại
Để hiện giữa rong rêu chói lói
Một vầng trăng cho cá suốt đời tìm.
(Thơ đề tranh cá)

Hàng loạt những ngôn từ gợi lên cho người đọc một hình dung vừa mơ vừa thực về bức tranh “Lý ngư vọng nguyệt” ( cá chép trông trăng ) của một nghệ nhân dân gian mà nhà thơ có dịp được thưởng lãm ở nhà một người bạn ở Vĩnh Phú. Trong bài thơ, nhà thơ cố vẽ lại cảnh chú cá chép rất sống động, đang nghiêng ngó vầng trăng dưới nước ẩn hiện trong đám rong rêu bằng ngôn ngữ thơ. Sự phối màu có chủ ý giữa màu ánh trăng và màu rong rêu xen lẫn mà như là nét chấm phá trong hội họa về hai chủ thể màu đối cực là tối và sáng. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Trong bài thơ chứa đựng bức tranh và trong bức tranh chứa đựng bài thơ, giữa chúng có cái gì đó trộn lẫn nhau, tương tác, chuyển động liên tục.”

Là một nhà thơ – một họa sĩ tài ba nhưng có lúc trước cảnh chiều quê đẹp nao lòng, nhà thơ cũng từng cảm thấy bất lực khi không kịp tái hiện lại bức ký họa quê đồi:

Hồn pha mây pha sương
Bút màu không kịp vẽ
Chú bò lưng đốm lửa
Khép chiều trong ngõ quê.
(Quê đồi trong ký họa)

Đọc thơ của Hoàng Hữu, người đọc dễ dàng tìm thấy sự hài hòa, đa sắc màu trong thơ. Đó có khi là màu đỏ của phù sa sóng nước sông Hồng:

Sóng ngoài xa cần mẫn đầy vơi
Lớp sóng đỏ nói những lời giản dị
Cả một đời phù sa không ngơi nghỉ
Vất vả yêu thương bên lở bên bồi.

                 (Đêm ven sông)

Hay màu xanh biếc của sắc nước, hương trời, của cây xanh và của cả niềm tin và khát vọng mai sau:

Sắc biếc thầm thì chót vót ngọn cây
Là màu thắm muôn đời của đất
Mặt trời thổi cháy lên bát ngát
Màu xanh khát vọng đến muôn sau
.

(Trước cửa rừng)

Hay:

Khi lá xanh chưa mở
Nhựa đã lấp đầy cành
Cháy bùng lên hoa lửa
Sáng kịp màu xuân xanh.
(Hoa gạo)

Và đôi khi là màu trắng của sỏi đá, màu chín ửng của nắng, của mùa heo hanh  cũng tạo ra một bức tranh đẹp yên bình với mấy vệt màu thắm tươi sinh động:

Vắt ngang mùa heo hanh
Mía chật đường đá trắng
Nắng sau mưa chín ửng
Mát thơm mùi rượu cay.

(Một vùng mía bãi – 1976)

Đó cũng có khi là màu tím ngẩn ngơ:

Khi anh  lắng nghe :
Chiều chìm tím lặng bàng thưa
Lặng lờ lá rụng ngẩn ngơ cành gầy
Là khi hạt nắng chót ngày
Dồn cho mắt biếc cháy đầy mình hoa.
(Là khi)

Dường như khi mọi điều lọt vào tầm thơ Hoàng Hữu đều trở nên chuẩn xác, sâu lắng, đẹp và ý nhị. Ông tả mưa mang màu nỗi nhớ: “Mưa cứ thả vào lòng đêm từng hạt nhớ” (Đêm nay nhớ bạn vùng than). Ông viết về gió “Ngọn gió lật chiều sang hướng khác – Vòi vọi trên đầu đám mây khô khốc” (Không đề I). Ông họa lại sắc màu của thời gian “Chiều xanh xanh đến thẫn thờ – Không em. Liễu cứ bên hồ đợi anh” (Thị xã không em). Ông diễn tả cái lạnh không mùa “Rét ngọt chừng chưa qua – Tần ngần trong ruộng mía – Còn băn khoăn chi nữa – Cây đã đầy mật thơm” (Tháng giêng). Những vần thơ như mang trong mình cả sự chuyển động trong thi ảnh, thi hình. Có thể nói, những vần thơ của tác giả Hoàng Hữu đã bộc lộ rõ cảm quan về hội họa, tạo được sự hài hòa, cộng hưởng độc đáo của thơ – họa.

2.2.  Giá trị tạo hình của ngôn ngữ thơ Hoàng Hữu trong những bức tranh nỗi niềm riêng chung

Khi họa sĩ vẽ tranh và khi thi sĩ làm thơ thì hình ảnh trong tác phẩm có một phần tình cảm của người nghệ sĩ. Thơ Hoàng Hữu cũng như vậy. Ông gửi nỗi nhớ của mình trong “Lắc thắc mưa rơi ướt bí bầu – Cái màu hoa ấy nhớ về nhau” (Mưa đôi bờ tháng chạp). Ông giãy bày tấm lòng trong “Cánh buồm nhuận sắc đất đai – Gửi người đi nối chân trời khát khao” (Hát tặng chân trời). Ông trân trọng nâng niu “Chẳng ai nỡ hái chung nhau ngắm – Một chút làng xanh giữa đảo mờ” (Làng đảo). Và có khi là sự say mê ngắm nhìn người mình yêu trong mùa đông ấm:

Khi anh nhìn ngắm :
Má bừng chín giữa khăn choàng gió
Tựa trái mùa đông ấm mắt nhìn.
(Ký họa sông Đà)

Với căn bệnh tim hiểm nghèo, Hoàng Hữu luôn ý thức được rằng sự hữu hạn của đời, của thơ mình nhưng lúc nào ông cũng cố gắng níu kéo một cái gì đó của sự sống với mong muốn được hóa vào vĩnh cửu:

Đôi bờ tháng chạp màu hoa nhắc
Mưa để lòng cau thắm với trầu.
(Mưa đôi bờ tháng chạp)

Mây núi xòa chông chênh hơi rượu tan
Hoa thắm lại, chiều dễ gì tắt được.
(Năm ấy hoa bìm)

Tôi cùng sóng bước heo may gió
Cỏ mén hơi sương mướt lối vào

…Trái tim đập suốt mùa giông bão
Trời nối vào thu tự lúc nào.
(Một mình trong vườn thu)

Chính nhà thơ Sóng Hồng – Trường Chinh – trong bài tựa tập thơ của tác giả, cũng đã thừa nhận: “Thơ là một viên ngọc long lanh dưới ánh sáng mặt trời… đồng thời cũng là vẽ, là nhạc”. Thơ Hoàng Hữu thực sự là viên ngọc ấy bởi: “Trong thơ có họa” (Thi trung hữu họa). Thơ Hoàng Hữu với sự dung dị, chân thành mà độc đáo ấy sẽ cứ mãi là vầng trăng xanh, tròn đầy, viên mãn chờ đợi độc giả khám phá và cảm nhận.

Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh

Cứ một nửa như đời anh một nửa

như trăng sẽ tròn đầy trăng sẽ…

Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ?

Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau.

(Hai nửa vầng trăng)

Với gia tài thơ và họa quý giá mà nhà thơ Hoàng Hữu để lại, chúng ta đều cảm nhận được về ông – “Một con người tài hoa mà khi sống, trong như gương, dịu như trăng, hiền như cây, run rẩy, gượng nhẹ từng cử chỉ nhỏ. Một con người yêu quý tất cả, và cũng được đền bù tất cả.” (Hữu Thỉnh).

***

Nhà thơ Hoàng Hữu mặc dù không phải là người con sinh ra trên vùng đất Tổ Vua Hùng nhưng với gia tài thơ và họa gắn liền với dải đất Phú Thọ này, nhà thơ Hoàng Hữu xứng đáng có một vị trí nhất định trong chương trình giáo dục địa phương tỉnh Phú Thọ. Bên cạnh một Hoàng Hữu của hội họa, chân dung Hoàng Hữu của thi ca – tuy chỉ xuất hiện khoảng chục năm nhưng đã gây được những ấn tượng sâu sắc với công chúng. Nói đến Hoàng Hữu, người đọc nhớ ngay đến bài thơ nổi tiếng Hai nửa vầng trăng được ông viết vào tháng 8/1981, giữa những cơn bạo bệnh, với những câu thơ như là định mệnh: “Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết/ em đã khóc/ trăng từng giọt tan vào anh mặn chát/ em đã khóc/ nhưng làm sao tới được/ bến bờ anh tim dội sóng không cùng…”. Tìm hiểu nhiều hơn về di sản thơ ông để lại, người đọc cảm nhận được cái tự nhiên như hoa rừng, gió núi, vùng đồi trung du. Mỗi từ, mỗi câu thơ đều mang nặng tình quê và ẩn chứa tình yêu quê hương đất nước, con người nơi đây.

ĐẶNG LÊ TUYẾT TRINH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *