Tiểu luận của tác giả trẻ Nguyễn Hữu Minh ở Thừa Thiên Huế

Vanvn- Nhà nghiên cứu – phê bình trẻ Nguyễn Hữu Minh sinh năm 1995 tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; cựu sinh viên và học viên cao học Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm – Đại học Huế; hiện công tác tại Trường THPT Thuận Hóa – Đại học Sư phạm – Đại học Huế; có nhiều bài nghiên cứu – phê bình văn học được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành; nhận Giải khuyến khích Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 19 (2017), Giải nhì Cuộc thi luận văn nghiên cứu văn học Nhật Bản – Giải thưởng Inoue Yasushi lần thứ 4 (2020).

Có thể nói, Nguyễn Hữu Minh là cây bút nghiên cứu – phê bình trẻ sớm đoạn tuyệt với kiểu tư duy học trò để xác lập tư cách chuyên nghiệp. Ngay từ những sản phẩm đầu tiên được công bố, Minh đã thuyết phục được giới chuyên môn bởi hướng tiếp cận mới mẻ, bởi sức đọc sức nghĩ của mình.

HOÀNG ĐĂNG KHOA giới thiệu

Tác giả trẻ Nguyễn Hữu Minh

Văn học và y học nhìn từ mối quan hệ liên ngành

 

Thế kỉ XIX, sự xuất hiện đặc biệt của hai vị bác sĩ tâm thần nổi tiếng là John Charles Bucknill (1817-1897) và Sigmund Freud (1856-1939) được công nhận là khởi điểm cho việc nghiên cứu một cách nghiêm túc về mối quan hệ giữa văn học và y học. Bởi Bucknill và Freud là hai trong số những nhà y học đầu tiên sử dụng văn học để tạo nên bước đột phá mới trong lịch sử y học. Việc Bucknill nghiên cứu những tác phẩm của Shakespeare nhằm khám phá những ý tưởng mới về bệnh lí tâm thần và việc Freud đặt nền tảng cho sự ra đời của phân tâm học là những trường hợp tiêu biểu minh chứng cho mối quan hệ giữa y học và văn học. Đặc biệt, từ khoảng nửa sau thế kỉ XX, nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều tờ báo, tạp chí khoa học, nhiều hội thảo… chuyên sâu trên thế giới đã khám phá các vấn đề liên ngành giữa hai lĩnh vực y học và văn học từ nhiều bình diện cụ thể.

Nhìn từ tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, văn học và y học vốn được xem là hai lĩnh vực có mối quan hệ tương hỗ lâu dài. Cùng lấy con người làm đối tượng trung tâm để tiếp cận, cả văn học lẫn y học đều có mục đích là khám phá, thấu hiểu con người trên mọi phương diện, từ đó đồng hành cùng con người trên hành trình vươn đến một đời sống khỏe mạnh, tốt đẹp cả về thể xác lẫn tinh thần. Thực tế đã chứng mình có vô vàn áng văn thơ vang danh đông tây kim cổ trở thành những “thần dược” chữa trị tâm bệnh hữu hiệu. Việc đọc một tác phẩm văn chương hay, có giá trị được ví như việc uống những viên thuốc bổ giúp bồi dưỡng trí tuệ và tâm hồn con người. Tương tự, từ y học cổ truyền đến y học hiện đại đều cho rằng một cơ thể khỏe mạnh không chỉ được biểu hiện ở sự cường tráng về mặt thể chất mà còn ở sự sảng khoái, minh mẫn, tinh anh về mặt tâm lí, tinh thần, trí tuệ.

Tính chất liên ngành giữa văn học và y học có thể thấy rõ qua một số khía cạnh nhất định. Nhiều đặc tính của y học được phản ánh trong văn học như những đối tượng cụ thể và ngược lại. Có không ít thuật ngữ y khoa từng được nhắc đến, minh giải trong các tác phẩm văn học. Thoạt đầu, một số chứng bệnh di truyền có liên quan đến sự đột biến gene như bệnh ma cà rồng, bệnh người sói, bệnh người lùn, bệnh người cá… đều được đặt tên theo các nhân vật trong một số truyện cổ dân gian. Nhiều tên gọi chứng bệnh của tâm lí học cũng có khởi điểm từ thần thoại Hi Lạp như mặc cảm Oedipe, mặc cảm Electra, mặc cảm Prométhée, bệnh lí Narcisse… Đến khi nền văn học viết được xác lập, nhiều tác giả văn học đã gọi tên và diễn tả các chứng bệnh trước cả khi y học ghi nhận về chúng. Ở Nhật Bản, xuất phát từ kiệt tác Truyện kể Genji của nữ sĩ Murasaki Shikibu, thuật ngữ “phức cảm Genji” đã được nhiều nhà tâm lí học cũng như người dân Nhật Bản đời sau sử dụng để miêu tả hiện tượng người Nhật luôn có ham muốn nương tựa vào mẹ của họ suốt cuộc đời. Hay ở Pháp, xuất phát từ vở hài kịch Người bệnh tưởng của đại văn hào Molière, thuật ngữ “bệnh tưởng” được sử dụng để chỉ rối loạn lo âu mắc bệnh và rối loạn triệu chứng thực thể, trong đó người bệnh luôn ám ảnh bản thân có bệnh nặng mặc dù chỉ có triệu chứng bệnh nhẹ. Còn ở Anh, sau khi nhà văn Robert Louis Stevenson cho ra đời cuốn tiểu thuyết dị kì Bác sĩ Jekyll và ông Hyde, tên gọi “Jekyll và Hyde” đã trở thành thuật ngữ tâm lí học chỉ hội chứng đa nhân cách của con người. Hơn nữa, trên lập trường lấy các vấn đề thuộc về y học làm đối tượng trung tâm để sáng tác và phản ánh, lịch sử văn học thế giới còn ghi nhận một khối lượng tác phẩm lớn đề cập đến các chứng bệnh của nhân loại: tiểu thuyết Trà hoa nữ (1848) của Alexandre Dumas (con) đề cập đến căn bệnh lao; tiểu thuyết Thằng ngốc (1868) của Dostoevsky đề cập đến chứng động kinh; tiểu thuyết Dịch hạch (1942) của Albert Camus đề cập đến bệnh dịch hạch; nhật kí Một lít nước mắt (1988) của cô gái nhỏ người Nhật Kito Aya đề cập đến căn bệnh thoái hóa tiểu não; tự truyện Chiếc áo lặn và con bướm (1997) của nhà văn Pháp Jean-Dominique Bauby đề cập đến chứng tai biến mạch máu não và tàn phế ở tuổi trung niên… Bên cạnh đó, không hiếm tác phẩm xây dựng hình tượng trung tâm là y bác sĩ và sử dụng nhiều diễn ngôn y khoa: tiểu thuyết Thành trì (1937) của A.J.Cronin kể về bác sĩ Andrew Manson; tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak kể về bác sĩ quân y Yury Zhivago; tiểu thuyết Sự im lặng của bầy cừu (1988) của Thomas Harris kể về bác sĩ thần kinh học Hannibal Lecter; tự truyện Khi hơi thở hóa thinh không của bác sĩ Paul Kalanithi kể về hành trình chống lại căn bệnh ung thư… Đặc biệt, khi lấy y học làm đối tượng phản ánh và khảo tả, văn học không ngừng khám phá bản thể vốn đa dạng, chi tiết mà thầm kín của con người, lí giải nhiều nguyên nhân có ý nghĩa về mặt y khoa, cũng như xem xét lại nhiều diễn ngôn truyền thống.

Nhìn từ chiều ngược lại, có không ít tác phẩm văn học là công cụ hữu hiệu trong việc nghiên cứu bệnh tật cũng như điều trị bệnh nhân. Đối với y bác sĩ và sinh viên y khoa, việc đọc các tác phẩm văn học không chỉ giúp họ giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi sau những giờ làm việc, học tập vất vả mà nhiều lúc còn giúp họ có thể diễn giải bệnh tật một cách sinh động, gần gũi đồng thời có thể gia tăng khả năng thấu cảm khi đối mặt với hoàn cảnh và vấn đề mà bệnh nhân mắc phải. Việc đọc tác phẩm văn học còn có thể giúp cải thiện đáng kể chỉ số lo lắng và trầm cảm của con người. Sách văn học là thứ giả dược quý giúp chúng ta giải phóng số lượng lớn hormone hạnh phúc dopamine trong não, đồng thời gia tăng khả năng ghi nhớ lâu dài.

Mối quan hệ liên ngành giữa văn học và y học còn được thấy rõ trong tổ hợp danh xưng nghề nghiệp của khá nhiều bác sĩ. Thực tế, không ít những vị lương y nổi tiếng trên thế giới đồng thời là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng: Friedrich Schiller – bác sĩ giải phẫu quân đội kiêm kịch gia tài ba nước Đức; Anton Chekhov – vị bác sĩ khả kính và cũng là nhà văn kiệt xuất người Nga; Archibald Cronin – vừa là một bác sĩ đại tài vừa là một trong những người viết truyện hay nhất thế kỉ XX… Ở Việt Nam, nhiều danh y xuất thân Nho học cũng đồng thời là nhà văn, nhà thơ lỗi lạc như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đình Chiểu… Trong không gian đương đại, nhiều bác sĩ, dược sĩ đồng thời là nhà văn, nhà thơ: Trương Thìn, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Đức Phước, Phạm Nguyên Tường, Trần Thanh Cảnh, Triều La Vỹ… Bên cạnh đó, nhiều nhà văn, nhà thơ xuất thân là sinh viên ngành y: Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Lê Minh Nhựt…

Có thể nói, không nhiều ngành độc lập lại có mối liên hệ sâu sắc như văn học và y học. Nếu như văn học chủ yếu bồi dưỡng trí tuệ và tinh thần cho người đọc một cách gián tiếp thông qua các hình tượng thẩm mĩ thì y học chủ yếu giúp bệnh nhân đảm bảo sức khỏe, chống lại bệnh tật một cách trực tiếp bằng các biện pháp và cơ chế y khoa. Nhìn một cách tổng thể, cả bệnh nhân và người đọc đều tìm đến y học và văn học xuất phát từ nhu cầu sống. Và như đã nói, có không ít người đọc văn học là bệnh nhân, đặc biệt là những người mắc hội chứng thần kinh; lúc này nhà văn như là bác sĩ tâm lí gián tiếp góp phần “chữa trị” cho họ bằng những liệu pháp tinh thần.

Trong quá trình giao thoa và phát triển của hai lĩnh vực y học và văn học, một số trường phái lí thuyết của y học có sự liên hệ, tương tác với văn học mà tiêu biểu nhất là phân tâm học do bác sĩ người Áo Sigmund Freud đặt nền móng. Mặc dù ngày nay, vấn đề phân tâm học có phải là một trường phái thuộc lĩnh vực y học hay không còn gây nhiều tranh cãi, nhưng số đông các nhà y học đã công nhận điều này. Nhìn về mối quan hệ gần gũi giữa văn học và phân tâm học, dễ thấy nhiều khái niệm mà phân tâm học từng đề cập và sử dụng có nguồn gốc từ văn học như đã trình bày ở phần trên. Thoạt đầu, Freud sử dụng những truyện kể cổ xưa để giúp mọi người tiếp nhận lí thuyết của ông một cách dễ dàng. Đến khi phân tâm học được đón nhận rộng rãi, nhiều nhà nghiên cứu văn học đã vận dụng một số lí thuyết quan trọng của trường phái này như lí thuyết về vô thức, lí thuyết về tính dục, lí thuyết về cơ cấu nhân cách toàn diện… để hướng đến giải mã nhiều vấn đề liên quan đến tác phẩm như việc luận giải các biểu hiện thuộc về vô thức, các mặc cảm của nhân vật hay nhìn nhận hành vi vô thức sáng tạo của một số tác giả văn học. Kế tiếp Freud, người học trò cũng là người bạn của ông – Carl Gustav Jung (1875-1961) đã đưa ra nhiều thuật ngữ về tâm lí học phân tích được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học như mẫu gốc (nguyên mẫu, cổ mẫu), vô thức tập thể, phức cảm, đồng hiện… Đặc biệt, phân tâm học còn trở thành tiền đề cho việc ra đời một số khuynh hướng và thể loại văn học thuộc chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Những lí thuyết xuất phát từ phân tâm học như trên không chỉ giúp các tác phẩm văn chương được tái khám phá, nhìn nhận ở góc độ mới mà còn trở thành khuynh hướng sáng tác văn học hấp dẫn được ưa chuộng trên thế giới vào khoảng từ nửa sau thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI. Tư tưởng của Freud về vô thức, về kĩ thuật liên tưởng tự do cũng như việc tái khám phá tầm quan trọng của những giấc mơ đã khuyến khích các tác giả văn học thử nghiệm sử dụng kĩ thuật dòng ý thức, đề cao lối viết tự động, cái ngẫu nhiên, từ chối tư duy phân tích logic mà tiêu biểu là các tác phẩm của chủ nghĩa dada và chủ nghĩa siêu thực. Bước sang địa hạt của văn chương hậu hiện đại, việc quá đề cao yếu tố trò chơi trong sáng tác, xem sự viết như một nghệ thuật phối ngẫu những mảnh ghép tự động, đặc biệt ở thể loại thơ, là minh chứng cho thấy sự gần gũi giữa phân tâm học và văn học.

Một trường phái khác của y học cũng được nhắc đến khá nhiều trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI và có mối quan hệ tương đối gần gũi với văn học chính là y học thẩm mĩ. Hướng đến việc sử dụng các phương pháp điều trị thẩm mĩ xâm lấn tối thiểu để tăng cường sự hài lòng của bệnh nhân về ngoại hình, y học thẩm mĩ đặc biệt quan tâm đến vẻ đẹp bên ngoài và sức khỏe của con người. Đây cũng là vấn đề rất được chú trọng trong phê bình nữ quyền phương Tây về các phạm trù như lí tưởng cái đẹp và thực hành làm đẹp. Chính sự xuất hiện những quy chuẩn, lí tưởng về vẻ đẹp đã trở thành tiền đề, nguyên nhân cho việc thực hành làm đẹp, cải tạo vẻ đẹp thân thể. Bản thân văn học cũng lấy thẩm mĩ làm đối tượng sáng tác và nghiên cứu, đặc biệt là vẻ đẹp ngoại hình của người nữ. Thần thoại cổ đại của phương Tây lẫn phương Đông đều nhắc đến các vị thần đại diện cho sắc đẹp nữ giới như Aphrodite (thần thoại Hi Lạp), Freyja (thần thoại Bắc Âu), Cliodna (thần thoại Celtic), Lakshmi (thần thoại Ấn Độ), Hathor (thần thoại Ai Cập), Oshun (thần thoại Yoruba – châu Phi), Ixchel (thần thoại Aztec)… Ca dao, dân ca Việt Nam cũng đề cập rất nhiều đến chuẩn mực vẻ đẹp của người phụ nữ xưa: Những người con mắt lá răm/ Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền; Ai xui má đỏ, môi hồng/ Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu; Những người thắt đáy lưng ong/ Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con; Một thương tóc bỏ đuôi gà/…/ Ba thương má lúm đồng tiền/ Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua; Lưng ong, mắt phượng, mày ngài/ Cổ cao ba ngấn kém ai trong đời… Đến thời kì văn học trung đại, vẻ đẹp hình thể của nữ giới càng được quan tâm khi xuất hiện rất nhiều phép ước lệ so sánh như khuôn trăng, nét ngài, da tuyết, mắt phượng, gót sen, tóc mây, tay măng… Bước sang thời kì văn học hiện đại và đương đại, vẻ đẹp hình thể người nữ trở thành một trong những chủ đề được bàn luận khá nhiều, đặc biệt là xuất hiện dày đặc trong các sáng tác của nữ giới lớp diễn ngôn thân thể và diễn ngôn chấn thương: “Cả thảy có mười một hồ sơ xin việc. Ba cô loại ngay vòng đầu vì quá xấu” (tiểu thuyết Chân trần của Thùy Dương); “…vợ hắn thừa hưởng từ cha đẻ hầu như toàn bộ hình thể, nhất là khuôn mặt với quai hàm vuông gấp bốn người thường; đã hơn bốn lần hắn nài nỉ vợ hắn nuôi tóc dài nhưng vợ hắn một mực từ chối, hắn đành bó tay để âm thầm chịu đựng” (tiểu thuyết Thang máy Sài Gòn của Thuận); “Sân khấu lúc này diễn trích đoạn balê Cái chết của con thiên nga, nữ diễn viên vai chính có khuôn mặt tuyệt đẹp nhưng đôi chân hơi béo, không múa mà chỉ đưa đẩy cặp mông vĩ đại gần như hở hoàn toàn dưới chiếc váy bồng, người xem không thể không liên tưởng đến một con vịt bầu” (tiểu thuyết Chỉ còn 4 ngày là hết tháng tư của Thuận)… Có thể thấy, hầu hết những diễn ngôn trên đều gián tiếp nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sở hữu một hình thể đẹp, dễ nhìn. Đặc biệt, bản thân “vẻ đẹp” là khái niệm thường được gắn cho nữ giới như một đặc trưng phái tính. Chính vì mong muốn đạt được vẻ đẹp ngoại hình, một bộ phận không nhỏ người nữ trong xã hội đã buộc bản thân lệ thuộc và tự ép mình theo những tiêu chuẩn đó. Thế kỉ XX và đặc biệt là đầu thế kỉ XXI, các dịch vụ phẫu thuật thẩm mĩ không ngừng nở rộ và văn hóa làm đẹp được đề cao. Đáng chú ý, tự bản thân văn học cũng đã từng tạo ra những hình tượng nhân vật được nhiều độc giả nhìn nhận là có ngoại hình lí tưởng, là động cơ để họ quyết định đi phẫu thuật thẩm mĩ sao cho giống với nhân vật đó nhất, bất chấp hệ lụy khôn lường. Báo chí từng ghi lại trường hợp Melynda Moon – một cô gái người Canada vì quá say mê bộ phim được chuyển thể từ thiên tiểu thuyết Chúa tể những chiếc nhẫn đã quyết định phẫu thuật đôi tai của mình trở nên nhọn hoắt. Và thậm chí, hiện tượng này còn xảy ra đối với cả nhiều người nam: chàng trai có tên Henry Rodri vì quá yêu thích nhân vật Red Skull trong bộ truyện tranh của Mavel đã quyết định phẫu thuật cắt bỏ, sửa mũi và cấy ghép thêm những nối lồi trên trán; Richard Hernandez – cựu Phó Chủ tịch của Ngân hàng Commerical Banking (Mĩ) vì quá cuồng mộ Voldemort – một nhân vật trong bộ tiểu thuyết Harry Potter đã quyết định trải qua hơn hai mươi lần phẫu thuật để biển đổi các bộ phận trên cơ thể… Chính điều này vô hình trung góp phần giúp ngành y học thẩm mĩ phát triển đa dạng hơn. Theo thị hiếu riêng của khách hàng, phạm vi chuẩn thẩm mĩ từ đó được mở rộng, mà có khi được “đo” từ những nhân vật trong các bộ tiểu thuyết hay truyện tranh nổi tiếng. Từ đó, các tác phẩm văn học dần trở thành đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu của các bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ nói riêng và ngành y học thẩm mĩ nói chung.

Như vậy, nhìn từ mối quan hệ liên ngành, văn học và y học có nhiều sự gặp gỡ và giao thoa thú vị. Ngày nay, trên thế giới, việc nghiên cứu mối quan hệ đặc biệt này đã không còn xa lạ, nhiều vấn đề đang bỏ ngỏ rất cần được tiếp tục minh giải. Với văn học, việc định hướng nghiên cứu từ góc nhìn y học giúp giải mã và thấu thị các hình tượng nhân vật có liên quan đến bệnh tật và thân xác, đặc biệt là những chấn thương về tinh thần. Xét thấy, không ít tác phẩm văn học Việt Nam, từ tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đến tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hay nhiều tác phẩm của Y Ban, Võ Thị Hảo, Đoàn Minh Phượng, Dạ Ngân, Thuận, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Khắc Ngân Vy… đã sử dụng không ít diễn ngôn y khoa như một hình thức liên văn bản trong truyện kể, nhìn nhận một cách đa chiều về tâm sinh lí con người. Thiết nghĩ, góc nhìn y học hứa hẹn là hướng mở giàu tiềm năng của khoa học văn chương.

Tranh của họa sĩ Uyên Thao

Mĩ cảm hiện sinh – nét đẹp truyền thống văn chương Nhật Bản

 

Nhắc đến văn hóa xứ sở Phù Tang, chúng ta không thể không nhắc đến tinh thần duy mĩ và duy cảm rất đặc trưng nơi đây. Đó vừa là điểm gặp gỡ độc đáo của các ngành nghệ thuật truyền thống nói chung và văn chương nói riêng, vừa là phẩm tính căn cước của con người Nhật Bản. Không phải chỉ đến văn chương thời hiện đại, qua những tên tuổi tiêu biểu như Ryunosuke Akutagawa (1892-1927), Kawabata Yasunari (1899-1972), Tanizaki Junichiro (1886-1965) và Yukio Mishima (1925-1970), độc giả trên khắp thế giới mới biết đến và cảm nhận được mĩ cảm hiện thực huyền ảo, mĩ cảm bi ai xao xuyến, mĩ cảm hoan lạc diễm tình hay mĩ cảm bi tráng dữ dội. Bởi tinh thần mĩ cảm trong văn hóa Nhật Bản đã bàng bạc xuyên suốt từ truyền thống cổ xưa cho đến đời sống xã hội đương đại trên nhiều góc độ: lịch sử, giáo dục, văn chương, tín ngưỡng, lối sống sinh hoạt…

Đặc biệt, khởi phát từ truyền thống biết yêu quý và tôn vinh cái đẹp, tâm thức hiện sinh bàng bạc trong văn hóa lẫn văn chương xứ sở Phù Tang như một quy luật thường hằng nhằm lưu giữ và lan tỏa các giá trị thẩm mĩ. Chính sự song hành và phát triển cùng với các vẻ đẹp, hiện sinh có thể được xem như một mĩ cảm đặc sắc. Đó là thứ mĩ cảm độc đáo thể hiện ý thức của người Nhật về lẽ tồn – vong, được – mất và sự suy tư, chiêm nghiệm về bản chất thế giới cái đẹp trong văn hóa Nhật như nó vốn có: ngắn ngủi, vô thường, vật ai và hủy diệt. Mặc dù, xét về mặt lí thuyết, mĩ học truyền thống Nhật Bản vẫn chưa gọi tên hiện sinh như một kiểu mĩ cảm riêng biệt, nhưng nhìn tổng thể về hành trình phát triển của văn hóa và văn học Nhật, thái độ nhìn nhận và khẳng định sự tồn tại của mĩ cảm hiện sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc vinh danh một đặc trưng, tính chất tồn tại trong hầu hết cái đẹp truyền thống Nhật Bản.

Ngay từ câu chuyện cổ xưa nhất còn sót lại – Taketori monogatari (Chuyện ông lão đốn tre) – đã góp phần dự ước và định hình về một “đất nước mặt trời mọc” thấm nhuần hương sắc ưu nhã, bàng bạc tâm thức phù du trong văn học. Hình tượng công chúa Kaguya bay về trời khi mãn hạn dương thế với tâm thức tự do, không ràng buộc là một trong những biểu hiện hiện sinh đầu tiên của văn học Nhật Bản, mang ý nghĩa cái đẹp hồi quy tự nhiên như quy luật vốn dĩ. Cuộc trải nghiệm, dấn thân ở chốn trần gian của nàng công chúa trong huyền thoại mang biểu trưng khám phá giữa những lựa chọn và dứt bỏ mọi thức cảm con người, vươn đến đời sống lí tưởng đương khi vượt khỏi những thứ phàm tục.

Tương tự với chuyến phiêu du xuống hạ giới của Kaguya, cuộc đời của chàng hoàng tử Hikaru Genji trong Genji monogatari (Truyện kể Genji) cũng là hành trình sống thấm đẫm mĩ cảm hiện sinh. Được xem là tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của thế giới, Truyện kể Genji mang tầm cỡ đồ sộ, thu góp trong nó không biết bao nhiêu chuyến phiêu lưu chinh phục người tình, bao nhiêu cuộc hành trình tìm kiếm và tận hưởng cái đẹp chốn hồng trần. Từ Phần chính cho đến Uji thập thiếp, thế giới mà tác phẩm gợi đến trong lòng độc giả ngập tràn hương sắc mĩ cảm của hoa đạo, hương đạo, các sắc phục truyền thống cùng sự hiện diện của hàng trăm mĩ nữ và mĩ nam. Đặc biệt, hòa trong phong vị mĩ cảm của tiểu thuyết là không khí u buồn, nỗi cô đơn và niềm nuối tiếc. Ý thức về tình yêu cái đẹp, Genji cùng tất cả nam nhân khác đều có ham muốn khẳng định, ưa thích chứng tỏ bản thân trong công việc chinh phục người tình. Cả Genji và sau đó là Kaoru đã trực tiếp dấn thân như một niềm đam mê với tâm thức tự do, bất chấp đạo đức. Dưới sự che chở và biện hộ của văn hóa mĩ cảm, các nhân vật dù sống một cuộc đời ong bướm, thậm chí có lúc loạn luân, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở sự hổ thẹn, lo lắng chứ không hề mang mặc cảm tội lỗi như trong tư duy văn hóa phương Tây. Bởi vậy, không gian xuyên suốt của truyện kể bàng bạc phức cảm Genji, niềm bi cảm aware và yếu tố huyền ảo yugen.

Không chỉ trong văn xuôi, thơ ca Nhật Bản từ khởi thủy đã thấm đượm tinh thần mĩ cảm hiện sinh một cách kì lạ. Lấy tình yêu làm chủ đề trung tâm, ngay từ những bài thơ đầu tiên được kể lại trong Kojiki về cuộc chinh phục công chúa Nunakawa của thần Yachihoko đã cho thấy ý thức về sự tự do và quyết tâm của kẻ đi chinh phục lẫn sự dâng hiến cho tình yêu, hướng đến tận hưởng khoái lạc của kẻ bị chinh phục: Em bây giờ vẫn/ Là chim bơ vơ/ Một mai em sẽ/ Bay về với ai/ Cuộc đời còn dài/ Xin đừng vội vã/…/ Cánh tay anh quấn quýt/ Bờ ngực em như tuyết/ Đang tan vào trong anh/ Dịu dàng ôm ấp/ Đến bao nhiêu lần/ Cánh tay ngà đan kết/ Với nhau không rời/ Và những đôi chân duỗi/ Khi ta nằm thành đôi/ Nhưng xin đừng vội/ Tình yêu đầu đời(1). Bài thơ giúp chúng ta nhận ra sự ý thức về kiếp sống hiện tồn đã xuất hiện từ rất sớm trong văn học Nhật Bản. Không chỉ vậy, sự ý thức ấy còn được đúc kết thành một trong những cảm thức xuyên suốt của văn chương những thời kì sau đó: nỗi sầu bi ai xuất phát từ tâm hồn đa cảm của nghệ sĩ. Hãy đến với một trong những bài tanka nổi tiếng của nữ sĩ Izumi Shikibu: Thời gian trôi/ Nỗi đau dài dặc/ Theo tôi mỗi bước đời/ Và hôm nay mưa mãi/ Dâng nước ngập hồn tôi(2). Với thủ pháp kakekotoba (quải từ) tinh tế, bài thơ đã thể hiện nỗi lòng sâu kín của chủ thể trữ tình: nỗi đau trải dài theo sự trôi chảy của dòng thời gian vô tình. Đó cũng là nỗi niềm riêng thầm kín, là cái tình cô đơn khắc khoải đến ám ảnh trước thời gian của nữ sĩ. Tuy nhiên, nếu như nỗi cô đơn của chủ thể trữ tình trong bài thơ trên chỉ mới bàng bạc trong nỗi đau thì sự ý thức về nỗi cô đơn trong bài thơ sau của Jakuren in trong Shinkokinshu (Tân cổ kim tập) đã được gọi tên một cách rõ ràng: Trong niềm cô đơn/ Sắc thu mờ ảo/ Cỏ cây âm thầm/ Hoàng hôn buông phủ/ Núi đồi xa xăm(3). Bài thơ man mác một nỗi buồn tịch liêu của sabi lẫn không khí thâm u của yugen, tạo nên chiều sâu tâm linh trong thức nhận của thi nhân: sự hòa điệu giữa sắc thu, dáng thu, hồn thu và tình thu. Chính ý thức về sự hiện hữu của cái đẹp nơi trần thế cùng khát vọng tận hưởng cuộc sống của tác giả đã cho thấy sự lan tỏa của mĩ cảm hiện sinh trên khắp bài thơ một cách mềm mại như cảnh “hoàng hôn buông phủ”.

Ở khía cạnh khác của mĩ cảm hiện sinh, độc giả còn có thể nhận thấy niềm xót thương về cõi phù thế cùng sự ý thức về tính chất hư vô của cuộc đời và danh vọng qua văn chương hai thời kì binh đao Kamamura cùng Muromachi. Dòng văn chương chiến kí đặc trưng của hai chặng đường này với sự xuất hiện của kiệt tác Heike monogatari (Truyện kể dòng họ Heike) cùng tập tùy bút Tsurezuregusa (Nhàn tư) đã viết về sự biệt li của con người như cảm hứng chủ đạo của văn học Nhật thời kì trung thế. Trong khi Bình gia vật ngữ viết về sự hư hao, phù du của quyền bính lẫn chiến công và nỗi cô đơn thường trực từ người chiến thắng đến kẻ chiến bại, thì Nhàn tư của thiền sư Yoshida Kenko lại thấm đượm tinh thần vô thường (mujo) của Phật giáo và những thú vui, những rung cảm ưu nhã nơi trần thế.

Tiếp đó, từ nửa sau thế kỉ XVII, cùng với sự phục hưng của văn học dưới thời Edo, tinh thần mĩ cảm hiện sinh bộc lộ rõ qua một số hiện tượng tiêu biểu như thơ haiku của Matsuo Basho, Yosa Buson và Kobayashi Issa hay tiểu thuyết bình dân của Ihara Saikaku… Trước hết, khi nhắc đến thơ ca Nhật Bản không thể không nhắc đến những vần thơ haiku bé nhỏ mà tinh tế, tiết chữ, kiệm lời, cô đọng mà giàu giá trị mĩ cảm. Tâm thức hiện sinh trong haiku thể hiện rất rõ qua sự dụng tâm và chú trọng một cách kĩ lưỡng trong quá trình tận thưởng thiên nhiên và lĩnh hội các sự vật, hiện tượng. Nhờ vậy, các vần thơ hiện lên vô cùng sinh động, được tạo tác bằng cả tâm hồn và sự rung cảm trước cái đẹp của mỗi thi sĩ. Một trong những bài thơ nổi tiếng và đặc biệt nhất gắn liền với khoảng thời gian cuối đời của Basho Nằm bệnh giữa cuộc lãng du/ mộng hồn còn phiêu bạt/ những cánh đồng hoang vu cho thấy khát khao được sống, được trải nghiệm hương sắc nơi cõi phù thế, thấm đẫm niềm bi cảm. Đó cũng là ý thức chung về một kiếp người ngắn ngủi nhưng tuyệt đẹp: Ta bà một nỗi đau/ cho dù mùa xuân đó/ đang nở những anh đào. Issa – nhà thơ của những niềm đau – đã triết lí như vậy về bản chất đầy mong manh mà khổ ải của sinh mệnh. Cả Basho và Issa đều sống theo tiếng gọi sâu thẳm của tâm hồn: Sống để yêu và theo đuổi cái đẹp trần thế. Cùng với hai nhà thơ này, Buson – một trong “haiku tứ trụ” – cũng đã sống và yêu hết mình với mùa xuân của đất trời lẫn mùa xuân của kiếp người. Để rồi khi bước sang ngưỡng kia cuộc đời, ông vẫn thường nghĩ về hoa anh đào: Xuân đang qua/ anh đào giấc cuối/ lá đẩy dần hoa. Mùa hoa sắp trôi qua, những cây anh đào thay áo bằng lớp lá xanh. Nhưng kìa, Buson đang suy tư về một cõi người đẹp như hoa (hana) và mong manh, vô thường như mộng (yume). Hòa trong ý vị Thiền tông cùng tín ngưỡng Thần đạo, thế giới chân không mà haiku mở ra chan chứa mĩ cảm hiện sinh trong lòng người lẫn lòng vật. Rõ hơn, đó là ý thức về sự hiện diện những đặc tính cơ bản nhất của vạn vật mà các chủ thể trữ tình có thể cảm nhận được: hữu thể, hữu linh, sự sinh sôi bất diệt hay sự giao hoán chuyển vị… Đây chính là hành trình của cặp đôi: cái đẹp và người tự do đam mê đi khám phá, tận hưởng cái đẹp.

Sang thời kì cận đại (từ Minh Trị đến Đại Chính), văn học Nhật Bản có cú chuyển mình hết sức mới mẻ. Dưới sự cải cách, mở cửa và chào đón rầm rộ văn hóa phương Tây, văn chương thời này chịu ảnh hưởng không ít từ các nền văn học Âu châu. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã có công lớn trong việc dịch thuật và sáng tác theo những phong cách văn học hiện đại. Năm nhà văn lớn của thời kì này là Mori Ogai (1862-1922), Futabatei Simei (1864-1909), Natsume Soseki (1867-1916), Toson Simazaki (1872-1943) và Kafu Nagai (1879-1959) đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nền văn học ngoại quốc lần lượt là Nga, Đức, Anh, Pháp và Hoa Kì. Chính những ảnh hưởng này đã khiến cho văn chương của họ mang màu sắc mới lạ, đa dạng hơn, hướng sự quan tâm chủ yếu đến trải nghiệm con người cùng ý thức về nỗi bất mãn, hoang mang trước thời cuộc, sự mâu thuẫn và xung đột giữa các hệ giá trị xã hội. Đồng thời, tự mỗi nhà văn luôn cố gắng tìm hướng đi mới trong việc tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật cũng như thể nghiệm các chủ đề là những mối quan tâm lớn của xã hội đương thời. Bởi vậy, tiểu thuyết của Futabatei Simei thường mang đặc tính tự thuật, đong đầy nỗi lo âu, yếm thế trước xã hội biến động. Trong khi đó, văn chương của Mori Ogai lại tỏ rõ khuynh hướng muốn đấu tranh cho tự do cá nhân, ý thức về thân phận của “kẻ bên lề” hay cam chịu. Còn với Natsume Soseki, tiểu thuyết của ông ngập ngụa nỗi cô đơn, sự va vấp và tinh thần tự nhiệm của kiếp người. Hay với Toson Simazaki, văn chương của ông mơn man nỗi bi quan cùng vẻ u sầu trước những xung đột của thời đại. Nhất là từ cuối chặng đường Minh Trị trở đi, cùng với truyền thống duy tình, duy mĩ trong văn hóa Nhật, mĩ cảm hiện sinh đã trở nên sống động hơn rất nhiều khi các nhà văn lớn như Tanizaki Yunichiro (1886-1965), Akutagawa Ryunosuke (1892-1927), Shiga Naoya (1883-1971), Yokomitsu Riichi (1898-1947) hay Kawabata Yasunari (1899-1972) đều thể hiện rõ ý thức miêu tả, phân tích tâm lí con người, chú ý khắc họa những cuộc trải nghiệm, ca ngợi việc tận hưởng những cảm giác mới và thường xoáy sâu vào xung đột nội tâm của nhân vật về các vấn đề đông tây kim cổ…

Đặc biệt, từ sau năm 1945, chính bối cảnh hậu chiến cùng những mất mát và đau thương quá lớn trong đời sống xã hội đã khiến văn học Nhật Bản càng thấm đẫm tinh thần mĩ cảm hiện sinh. Nhiều nhà văn nổi tiếng đương thời đã trở thành những hiện thân cho thế hệ sống, trải nghiệm và viết qua cuộc Thế chiến thứ hai như Masuji Ibuse (1898-1993), Fumiko Hayashi (1904-1951), Yasushi Inoue (1907-1991), Dazai Osamu (1909-1948), Kobo Abe (1924-1993), Mishima Yukio (1925-1970) hay Oe Kenzaburo (1935)… Ý thức về một thực tại đổ vỡ niềm tin, con người dần trở nên hỗn loạn, hoang mang, lo sợ, bi quan và bất tín trước sự rạn nứt của các lí tưởng truyền thống và giá trị đạo đức xã hội. Đó vừa là hoàn cảnh chung vừa là cảm hứng xuyên suốt của văn học giai đoạn này. Bởi vậy, độc giả thường bắt gặp trong tiểu thuyết của Yasushi Inoue nỗi cô đơn và sự ý thức về kiếp sống hư vô của con người. Trong khi đó, kiểu nhân vật mà Dazai Osamu miêu tả lại có nhiều hành vi nổi loạn và thái độ chống chế, cuối cùng cái chết được đề cập như một sự giải thoát những bế tắc. Còn với Mishima Yukio và Kawabata Yasunari, truyền thống đã trở thành niềm hứng thú bất tuyệt, là tiếng gọi những trái tim đa sầu đa cảm. Tuy nhiên, những giá trị vang bóng được họ khơi lại luôn mang một sắc diện mới mẻ, đánh dấu sự thay đổi nhanh chóng của xã hội thực tại trên tinh thần ý thức kiếp sống hiện sinh. Đặc biệt, cả Kobo Abe và Oe Kenzaburo đều chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng của triết học hiện sinh nên những chủ đề họ thường đề cập là sự tha hóa, phi lí và sự cố gắng tự thể hiện mình của con người trong xã hội Nhật Bản hiện đại.

Bước sang nền văn học Nhật Bản đương đại, tinh thần hiện sinh đã vơi bớt phần nào yếu tố mĩ cảm, bởi cái đẹp giờ đây không còn là cảm hứng chính của các tác giả. Thay vào đó, cảm thức hiện sinh được thể hiện trong các tác phẩm một cách rộng rãi và gần gũi với những đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh. Tiếp cận và thể nghiệm lối sống hiện đại, chịu ảnh hưởng khá lớn từ các trào lưu, khuynh hướng sáng tác của phương Tây trong khi vẫn ý thức giữ gìn cốt cách dân tộc, nhiều tên tuổi lớn như Murakami Haruki (1949), Natsuo Kirino (1951), Murakami Ryu (1952), Keigo Higashino (1958), Banana Yoshimoto (1964)… vẫn không ngừng khẳng định tên tuổi và để lại dấu ấn đặc sắc trong dòng chảy văn chương hiện sinh Nhật Bản.

Có thể nói, mĩ cảm hiện sinh đã trở thành vẻ đẹp đặc trưng của văn hóa lẫn văn chương Nhật Bản. Khó có nền văn học nào thể hiện tinh thần hiện sinh mạnh mẽ và xuyên suốt trong chiều dài lịch sử như “xứ sở hoa anh đào”. Tuy nhiên, không giống như tinh thần hiện sinh được các nhà hiện sinh chủ nghĩa phương Tây phát triển thành học thuyết chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, cảm quan hiện sinh của nền văn học Nhật Bản có sự kế thừa và truyền lưu bởi nền văn hóa bản địa lâu đời. Vì vậy, trong tương quan so sánh với thuyết hiện sinh của phương Tây, ở một chừng mực nhất định, tinh thần hiện sinh của Nhật Bản được biểu hiện một cách rất phương Đông như một thứ dân tộc tính: ý thức và khẳng định về sự tồn tại của cá nhân, cá thể nhưng vẫn không quên trách nhiệm tập thể, cộng đồng; khắc họa và nhấn mạnh về sự phi lí của thế giới và cuộc đời nhưng chỉ bàng bạc một cách nhẹ nhàng và luôn ý thức về sự tuần hoàn chứ chưa đến mức tàn khốc, nhìn nhận mọi giá trị đều tan vỡ; tinh thần tự do, nổi loạn tự thân và ý thức tự nhiệm luôn tồn tại nhưng không phải lúc nào cũng được đẩy đến mức mất phương hướng đến hỗn loạn… Trước khi chủ nghĩa hiện sinh ra đời và được gọi tên ở phương Tây thì ở Nhật Bản, từ các tác phẩm văn học đến ý thức văn hóa xã hội của người Nhật nói chung đã mang cảm thức hiện sinh rõ nét và được thể hiện trong nội hàm của một số thuật ngữ như aware, yugen, sabi, wabi, horobi… Tư tưởng hiện sinh ở Nhật cũng không có một hoàn cảnh ra đời cụ thể mà được nhìn nhận như một phẩm tính truyền thống trong cốt cách dân tộc, luôn dung hòa với các phạm trù văn hóa khác như diễm tình và ưu nhã. Theo tiến trình phát triển của lịch sử mĩ cảm hiện sinh Nhật Bản, đặc biệt kể từ sau sự kiện mở cửa rộng rãi của đất nước với thế giới phương Tây dưới thời Minh Trị, các giá trị tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh phương Tây bắt đầu du nhập vào Nhật Bản trong thế kỉ XX và dần được các nhà văn sau này đón nhận trên tinh thần đổi mới có kế thừa. Vì vậy, so với trước thời kì Minh Trị, mĩ cảm hiện sinh Nhật Bản từ thời hiện đại trở đi dần thay đổi một cách rõ rệt nhằm phản ánh xã hội và con người dưới thời đại mới.

Nhìn chung, xuất phát từ tình yêu và sự tôn thờ cái đẹp, tinh thần mĩ cảm được ánh xạ vào văn chương và hòa trong tâm thức hiện sinh đã dần trở thành một trong những phạm trù triết học liên ngành độc đáo, đặc trưng của riêng nền văn học Nhật Bản. Dù hành trình của thứ mĩ cảm lạ mà quen ấy có lúc hưng thịnh, đậm đà phong vị truyền thống (từ thời kì Edo trở về trước), có lúc được hồi cố, dung hòa giữa yếu tố Đông – Tây (thời kì Minh Trị đến Đại Chính), cũng có lúc nhẹ nhàng mà hư hao trong thời kì đương đại, nhưng tựu trung, tinh thần này luôn tồn tại và không ngừng phát tiết.

Dù mĩ cảm hiện sinh không phải là thuật ngữ chính thức trong hệ thống lí thuyết mĩ học Nhật Bản nhưng nhìn nhận một cách tương đối thì đó là sự giao thoa liên ngành giữa triết học hiện sinh Nhật Bản và mĩ học truyền thống. Việc nghiên cứu mĩ cảm hiện sinh từ văn hóa đến văn học Nhật không chỉ giúp người đọc giải mã các tầng lớp ý nghĩa tiềm ẩn của những hình tượng, biểu tượng để từ đó thấy được vẻ đẹp hiện sinh của mỗi tác phẩm, mà còn giúp người đọc hiểu rõ phong cách tác giả nói riêng và phong cách văn chương – văn hóa Nhật nói chung. Đặc biệt, khám phá mĩ cảm hiện sinh còn giúp chúng ta nhìn nhận một cách sâu sắc về việc cảm thụ cái đẹp Nhật Bản trong sự dung hòa nhất thể với vạn vật, ngay trong kiếp sống ưu buồn này.

_________

1, 2, 3. Nguồn: Nhật Chiêu, Ba nghìn thế giới thơm, Nxb Văn học, 2015.

 

Natsume Soseki – giữa chốn phù thế bất toàn và những giấc mộng dang dở

 

Trong văn hóa Nhật Bản, Bất toàn được xem là một trong những cảm thức thẩm mỹ đặc trưng bắt nguồn từ giáo lý Thiền tông của Phật đạo, đức tính khiêm tốn và ý chí tiến thủ của người Nhật. Cảm thức này đã được các nhà mỹ học Nhật gọi tên là Wabi-sabi, bao hàm trong nó tính phù du và sự không hoàn hảo của vạn vật. Ý thức về sự bất toàn thường gắn với cảm thức Horobi (Diệt vong) và được nhận biết rõ hơn cả qua những thời kỳ biến động của đất nước. Trong số đó, Minh Trị (Meiji) (1868-1912) vừa được xem là thời kỳ hoàng kim trong quá trình hội nhập, đổi mới và phát triển đất nước nhưng cũng vừa mang lại cho người Nhật không ít nỗi lo âu, sự bất an trước những thay đổi chóng vánh mà xa lạ của xã hội trên mọi mặt.

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh ấy, đại văn hào Natsume Soseki (1867-1916) – người được đánh giá là “một trong ba trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại” và là tác gia quan trọng bậc nhất của văn học thời kỳ Minh Trị đã chứng kiến đầy đủ và trọn vẹn những thăng trầm lịch sử của thời kỳ Meiji. Đặc biệt, cuộc đời và sự nghiệp văn chương lừng lẫy của ông cũng được xem là minh chứng tiêu biểu cho sự bất toàn của thời đại. Xuất thân trong một gia đình đông con và nghèo khó, tuổi thơ của văn hào sớm chịu nhiều nỗi bất hạnh, tủi hổ khi mới lên hai tuổi đã bị gửi làm con nuôi tại một gia đình không mấy êm ấm. Chính những xúc cảm xung đột trong tâm hồn ngây dại đã khiến ông sớm ý thức về sự cô đơn, cũng như mang mặc cảm thiếu thốn tình thương gia đình. Lớn lên, Soseki vốn là người không thích tiếng Anh, thậm chí lắm lúc biểu lộ sự chán ghét đối với môn văn minh phương Tây. Nhưng cuối cùng ông lại lựa chọn học khoa Anh, giảng dạy môn tiếng Anh và quyết định đi du học Anh theo trào lưu ưa chuộng phương Tây thời bấy giờ. Nhà văn không có quá nhiều chọn lựa theo sở thích của mình nhưng vẫn rất nỗ lực trong học tập. Sau đó, ông bất ngờ đảm nhiệm cương vị giáo viên tiếng Anh ở một trường hẻo lánh thuộc vùng Matsuyama. Những kinh nghiệm lúc còn sống ở đây đã được ông gợi mở trong tiểu thuyết Cậu ấm ngây thơ qua hình tượng Botchan – một chàng trai phóng túng, ưa thích tự do, được giới thiệu dạy toán ở một trường dưới quê vùng Shikoku sau khi tốt nghiệp. Dù vậy, ngoài thực tế, đây có lẽ là giai đoạn khủng hoảng tinh thần nhất đối với Soseki, khi ông vừa bị căn bệnh lao phổi hành hạ, vừa phải đối mặt với người vợ Kyoko mắc chứng trầm cảm nặng, thường xuyên có hành động quá khích. Cũng trong thời gian đó, Soseki ý thức rõ về nỗi cô đơn tự thân khi ông không tìm được niềm vui từ việc giảng dạy. Ông tiếp tục chọn con đường sang Anh như một lựa chọn mới của cuộc đời, ngoài ra còn với mục đích nhằm trốn tránh thực tại éo le từ gia đình. Sau đó, Soseki đã vỡ mộng hoàn toàn về chuyến du học kéo dài hai năm một tháng. Thậm chí, đây là khoảng thời gian khiến ông thêm ghét nước Anh và cả nền văn học Anh. Những bài giảng của các giáo sư khiến ông chán ngấy, hằng ngày chỉ muốn chăm chú vào việc đọc sách, sống cô độc trong căn phòng và ít giao du với bên ngoài. Trải nghiệm này thường được Soseki thể hiện trong cuốn Sanshiro như một thử thách của tuổi trẻ, cũng như thể hiện thái độ bất mãn với nền học vấn đương thời. Ngay trong tiểu thuyết này, qua lời của vị giáo sư khả kính Hirota, độc giả cũng có thể nhận thấy Soseki đã chán ghét nước Anh đến nhường nào: “Hãy quan sát nước Anh. Chủ nghĩa ích kỷ và chủ nghĩa vị tha đã được cân bằng một cách hoàn hảo qua nhiều thế kỷ. Đó là lý do tại sao nước Anh không biến động. Cũng không tiến bộ. Họ không có Ibsen, họ cũng không có Nietzsche. Thật tội nghiệp. Họ có vẻ đang dương dương tự đắc, kiêu hãnh, nhưng từ bên ngoài nhìn vào, chỉ thấy một sự xơ cứng như hóa thạch.”.

Thế rồi, ông quyết định rời khỏi nước Anh vĩnh viễn và sớm được chỉ định làm giảng viên tại trường Đại học Tokyo. Tuy nhiên, cuộc đời của văn hào là những trải nghiệm chóng vánh giữa muôn vàn lựa chọn, nỗ lực và từ bỏ. Bởi ông chưa bao giờ tự cảm thấy thỏa mãn về bất cứ điều gì, ngược lại luôn mang trong mình cảm giác hoài nghi và mong muốn thay đổi, đi tìm thể nghiệm mới cuộc đời. Bởi vậy trong một bức thư viết vào năm 1905, ông thẳng thắn: “Tôi mong muốn thôi làm giáo viên và trở thành một nhà văn. Từ lâu tôi đã viết, tôi cảm thấy một cách chắc chắn rằng tôi có bổn phận đối với Thượng đế và đối với con người, và dĩ nhiên đối với chính tôi nữa”. Việc chấp nhận từ bỏ vị trí giảng viên đại học đương lúc xác lập danh tiếng với học trò để đầu quân cho tờ Asagi, theo đuổi nghề viết báo của văn hào đã khiến những ai hay tin đều sửng sốt, khó hiểu. Nhưng kể từ thời điểm đó, Soseki đã thực sự bắt đầu hành trình xác lập vị trí quan trọng trong nền văn học Nhật cận đại. Những sáng tác đầu tiên của ông thường gây nên tiếng vang lớn trong đời sống xã hội. Chỉ vỏn vẹn trong vòng mười năm cuối đời, ông sáng tác gần hai mươi hai cuốn sách gồm tiểu thuyết, truyện ngắn và tự truyện, viết một số tiểu luận – phê bình cùng số lượng lớn thơ haiku và kanshi đặc sắc. Dù vậy, Soseki vẫn không nguôi lo lắng, bất an lẫn sợ hãi về thời kỳ du học ám ảnh, về xã hội Nhật đang trong thời kỳ đổi mới đầy biến động và về chứng bệnh thần kinh có từ thời du học lẫn chứng đau dạ dày ngày một nghiêm trọng.

Có thể nói, cuộc đời của đại văn hào Natsume Soseki là hành trình của chuỗi những dang dở: tuổi thơ dang dở, tình duyên dang dở, sự nghiệp dang dở và tương lai dở dang,… Sự nghiệp sáng tác của văn hào chỉ kéo dài vỏn vẹn trong khoảng mười năm cuối cuộc đời. Bắt đầu từ tiểu thuyết Tôi là con mèo (1905-1907), tác phẩm đã mang lại danh tiếng bất ngờ cho tác giả ngay khi vừa mới công bố và kết thúc với tác phẩm đồ sộ nhưng cũng dở dang bởi chưa hoàn thành thì đã giã từ trần thế – Meian (1916).

Nhìn một cách khái quát, hành trình sáng tác tiểu thuyết của Soseki, độc giả cũng có thể cảm nhận được sự dang dở qua mỗi tác phẩm mà ông thể nghiệm. Đó là Tôi là con mèo vừa hài hước nhưng cũng đầy chua chát, mỉa mai về giới trí thức sáo rỗng, chỉ biết tôn sùng một cách mù quáng vào những giá trị phương Tây. Đây có lẽ là cuốn tiểu thuyết hài hước nhất và mang tính đả kích nhiều nhất của ông, nhưng cũng để lại cho độc giả không ít nỗi ám ảnh. Khép lại tác phẩm, Soseki viết về cái chết đầy nhạt nhẽo của chú mèo sau hai năm sinh sống trong thế giới loài người. Mặc dù, chú mèo đã chết, kẻ mang vai trò chứng nhân và đánh giá con người không còn nhưng những nhân vật khác cho đến thời điểm đối mặt với cái chết vẫn tiếp tục cuồng quay trong vận mệnh mỗi người. Cái chết ấy không phải là sự kết thúc hoàn toàn cho một thiên truyện dài, Soseki đã dành lại khoảng dở dang cuối câu chuyện để mời độc giả tưởng tượng tiếp cái kết cho những cuộc đời khác. Sau thành công của tác phẩm này, ông tiếp tục thể nghiệm những lối viết độc đáo, khai thác những vấn đề mới nhưng chưa một tác phẩm nào sau đó lặp lại cái hài hấp dẫn và nét riêng đến từ việc gán sự tri kiến về loài người cho một con vật như Tôi là con mèo.

Tiếp bước thành công đầu tiên, chỉ ngay sau đó một năm, Soseki say mê sáng tác và cho ra đời cuốn tiểu thuyết được nhìn nhận là nổi tiếng nhất của ông – Cuộc nổi loạn ngoạn mục (1906). Tiểu thuyết là tập hợp những dòng suy tư miên man đầy hoài niệm và cả sự băn khoăn, lo lắng, nỗi cô đơn của một thời thanh xuân. Botchan – nhân vật chính trong tác phẩm cũng là hình mẫu cho tính cách Nhật Bản điển hình cho giới trẻ trong thời đại mới: lạc quan, vị tha, trong trắng, có đôi chút ngạo mạn và láu cá. Cuối tiểu thuyết, cuộc trốn chạy của hai nhân vật Botchan và Nhím có giá trị như một cuộc nổi loạn tự thân hay là lời khước từ của chính tác giả trước sự kệch cỡm của lối sống nửa Tây nửa Nhật đang ồ ạt, lan tràn đến tận những nơi yên bình nhất trên đất nước Nhật Bản. Cậu bé Botchan đầy ngây thơ trước kia sau bao trải nghiệm quý giá nay đã thực sự trưởng thành và bắt đầu biết suy nghĩ cho người khác. Tuy nhiên, đến đây, câu chuyện lại kết thúc một cách chóng vánh để lại nhiều niềm tiếc nuối cho độc giả.

Tuy nhiên, những gì Soseki bỏ ngõ, dang dở trong Cuộc nổi loạn ngoạn mục đã được ông ấp ủ và tiếp tục với Sanshiro (1908) – một “làn hương mới” của tuổi trẻ, đầy tinh khôi. Cuốn tiểu thuyết sau này được Haruki Murakami đánh giá: “Một tiểu thuyết có lẽ không đặc biệt quan trọng trong văn nghiệp của ông, nhưng ông đã phải viết ít nhất một tác phẩm như thế. Thực sự mọi tiểu thuyết gia đều có một tác phẩm như thế. Trường hợp của tôi chính là Rừng Na Uy (1987)”. Tác phẩm đong đầy sự trăn trở và hoài bão trước những thay đổi chông chênh của thời đại, thấm đẫm tinh thần mỹ cảm tinh tế với nỗi buồn mơn man nảy nở tự trong những thế giới mà Sanshiro tồn tại: Thế giới thứ nhất chính là quá khứ và những kỷ niệm đẹp đẽ về chốn làng quê yên ả; thế giới thứ hai đó là thế giới của học thuật với phòng đọc và sách vở, nơi thuộc về hai vị giáo sư Hirota và Nonomiya; và thế giới thứ ba đó là mùa xuân, là cái đẹp, là hương sắc cuộc đời, cũng là nơi có cô nàng Mineko mà anh thầm yêu trộm nhớ nhưng chẳng bao giờ có thể với tới được. Kết thúc tác phẩm, Soseki một lần nữa để lửng câu hỏi: Liệu sự lựa chọn tiếp theo của Sanshiro là gì? Tương lai của anh sẽ đi về đâu? Điều này vẫn còn rất mông lung. Đặc biệt, sự mông lung ấy không chỉ được khắc họa qua nhân vật Sanshiro mà còn được đề cập qua lời bình luận của giáo sư Hitaro về thời đại Minh Trị: “Đáng thương thay cho người Nhật chúng ta. Dù chúng ta có giành thắng lợi trong cuộc chiến Nga Nhật, dù chúng ta có trở thành cường quốc hạng nhất, thì chúng ta vẫn chỉ một bộ mặt như thế này, một thể trạng yếu ớt như thế này, nghĩa là chúng ta vẫn chả làm nên được điều gì khác biệt”. Kết cục, Sanshiro thực sự chưng hửng: “Miệng anh chỉ tự lẩm bẩm ‘Cừu đi lạc, cừu đi lạc’”. Anh đã lạc trong chính bản thể yêu huyền của mình. Đứng trước ngã ba thế giới, anh bị buộc phải tiếp tục dấn thân để tìm kiếm và chọn lựa cho mình con đường sắp đến.

Nếu như Cuộc nổi loạn ngoạn mụcSanshiro đều viết về tuổi trẻ, về một thời đại Minh Trị chớm nở cùng vô vàn điều mới mẻ thì Nỗi lòng của Soseki lại viết về tuổi già, về niềm tâm sự của con người trước buổi hoàng hôn Minh Trị. Tác phẩm thấm đẫm niềm bi cảm khi cả Tiên Sinh và nhân vật “tôi” đều ý thức được nỗi cô đơn và cô độc trong cuộc đời. Họ là những người Nhật tiêu biểu cho lối sống truyền thống, khép kín và hết sức bất ngờ trước vô vàn biến động của xã hội, điều dễ nhận thấy ngay trong khoảng thời gian Soseki du học. Tiểu thuyết kết thúc với những cái chết đã được tiên đoán trước từ cuốn Sanshiro: Thiên Hoàng Minh Trị băng hà, tướng Nogi và vợ cũng tự sát theo nghi thức của võ sĩ, K cũng tự sát, Tiên Sinh cũng tự sát, cha của nhân vật “tôi” cũng sắp chết. Chuyến đi của “tôi” lên Tokyo cuối tác phẩm diễn ra trong bất ngờ và hoảng loạn nhưng chẳng ai biết hành trình tiếp theo của “tôi” sẽ diễn ra thế nào vì Soseki đã dừng bút tại đó. Tuy nhiên, sự dang dở của tiểu thuyết không chỉ phản ánh tình trạng bế tắc của những kiếp sống đánh mất lý tưởng mà còn khắc họa vẻ đẹp nội tâm của con người: luôn hướng đến một kiếp sống tự do, đầy trải nghiệm, thậm chí có thể chết để từ bỏ lối sống phóng thể.

Ngoài sự dang dở trong những tiểu thuyết đã làm nên tên tuổi của Soseki nêu trên, một số tác phẩm khác như Gối đầu lên cỏ, Ngày 210, Mười đêm mộng, Cỏ ven đường đều là những thử nghiệm mang tính duy nhất trong suốt hành trình sáng tác của văn hào. Nếu như Gối đầu lên cỏ là cuộc thử nghiệm không ngừng nghỉ về thế giới nghệ thuật và cuộc đời thì Ngày 210 lại là thể nghiệm của một lối kể chuyện theo hình thức đối đáp mà ở đó câu chuyện bàn về những xung đột xã hội gay gắt, âm u. Trong khi đó, Cỏ ven đường được xem là cuốn tự truyện duy nhất của văn hào, viết về những điều bận tâm tưởng chừng nhỏ nhặt trong cuộc sống nhưng sâu thẳm là nỗi muộn phiền của văn hào trước nghịch lý xung đột giữa lý tưởng và thực tế cuộc sống. Chỉ riêng Mười đêm mộng, một tiểu thuyết ngắn đến bất ngờ khi chỉ đơn thuần kể lại những giấc mơ yêu huyền không mở đầu cũng không kết thúc và tưởng chừng chẳng liên quan gì đến nhau. Xuyên suốt tác phẩm, mỗi giấc mơ lại bàng bạc một kiểu không gian riêng biệt của những vẻ đẹp trong vô thức người Nhật: có vẻ đẹp u huyền của cái đẹp quy hồi bất tử, có vẻ đẹp tịch tĩnh của văn hóa truyền thống, lại có vẻ đẹp rực rỡ và chói lọi của sự hủy diệt, thậm chí có vẻ đẹp mơ hồ mà bi thương của cái chết và tội lỗi. Tất cả chỉ như gợi mở trong lòng người đọc về một Soseki đầy tâm trạng, đầy ẩn ức và những mặc cảm trước thời cuộc.

Tuy nhiên, chính những điều dang dở này đã không ngừng thôi thúc một Soseki luôn sống và thể nghiệm đam mê trong những hoàn cảnh khác nhau, kể cả khi phải đối mặt với niềm tuyệt vọng và sự thất bại. Chỉ riêng về mảng tiểu thuyết, người đọc có thể nhận thấy một văn hào đầy khát vọng trong việc thử nghiệm những giá trị mới và hướng đến yếu tố hòa hợp Đông – Tây. Hầu hết các tiểu thuyết của ông đều mang khuynh hướng tự thuật và được kể ở ngôi thứ nhất. Chính cách tiếp cận này đã giúp nhà văn có nhiều điều kiện thể hiện triệt để những vấn đề cá nhân trong các sáng tác của mình. Đó có thể là những quan niệm sống về hành trình sáng tác nghệ thuật, về một giai đoạn lịch sử đầy chông chênh hay nỗi u hoài, niềm bi cảm về kiếp người mong manh giữa trần thế.

Vượt lên trên tất cả, chính ý chí phi thường cùng niềm đam mê bất tuyệt với văn chương đã khiến những trang viết của Soseki hết sức lay động độc giả. Một phần, ông theo đuổi phong cách văn chương tâm lý cao sang, phần khác ông hướng những điều mình sáng tác gần gũi với cuộc sống con người và thời đại Minh Trị. Đọc tiểu thuyết Soseki, độc giả như sống lại những năm tháng rực rỡ mà bất toàn của lịch sử cận đại Nhật Bản.

Có thể nói, hành trình khám phá thế giới tiểu thuyết của Soseki là con đường dẫn dụ độc giả không ngừng trải nghiệm và chiêm ngưỡng thế giới đa sắc, đa âm từ niềm vui khôn xiết đến nỗi buồn da diết, từ tình trạng bấp bênh, bế tắc đến tinh thần tự quyết và tự nhiệm của con người. Nếu như bên ngoài xã hội, mọi người hãy còn đang khủng hoảng trước những thay đổi chóng vánh của truyền thống và sự du nhập ào ạt của văn hóa phương Tây; thì trong tiểu thuyết của ông, độc giả bắt gặp sự kết hợp độc đáo giữa một bên là phong vị Á Đông và một bên là tinh thần Tây phương. Tuy nhiên, ông cũng tỏ ra khá mâu thuẫn trong những lựa chọn ấy và thường giằng xé giữa hai tư tưởng này. Đặc biệt, dù sống và ý thức được thời đại bất toàn đương thời, Soseki vẫn luôn tiềm tàng ý thức về những cuộc nổi loạn trong văn chương và những thử thách mới cho chính mình. Đó là giải pháp mà ông đã chọn và định hướng cho bản thân, cũng như đối với bất cứ nghệ sĩ nào sống vào thời ấy: “vượt lên chính mình và những nỗi đau khổ của mình bằng cách tìm ra điều gì đó lớn hơn chính mình để theo đuổi, cho đến khi anh ta có thể cảm thấy chính mình tự vượt khỏi ra những mối bận tâm vị kỷ”.

Nhìn chung, có thể nhận xét về cuộc đời và văn nghiệp của Soseki một cách ngắn gọn qua hai chữ: Dang dở. Tuy nhiên, bắt nguồn từ sự dở dang ấy, văn hào dường đã ý thức được vẻ đẹp văn chương mà ông hướng đến có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống mỹ cảm Nhật Bản. Đó là sự hồi quy của cái đẹp và sự biến chuyển không ngừng của thế giới theo quy luật tuần hoàn. Bởi vậy, mỗi tác phẩm của ông có thể được xem như cuộc dạo chơi đầy ngẫu hứng: Có cuộc chơi của cái đẹp trong Gối đầu lên cỏ, có cuộc chơi của tuổi thơ trong Botchan, có cuộc chơi của tuổi trẻ trong Sanshiro, lại có cuộc chơi của tuổi già trong Nỗi lòng. Những cuộc chơi ấy đều có điểm dừng nhưng đó chỉ là những điểm dừng tạm. Người đọc vẫn có thể bâng khuâng gặp lại bóng hình Botchan thấp thoáng qua nhân vật Sanshiro, bắt gặp những cái vật “tôi” đơn lẻ trong Mười đêm mộng qua một nhất thể – Tiên Sinh trong Nỗi lòng. Đặc biệt, chúng ta còn có thể nhận thấy sự gặp gỡ thú vị của các nhân vật nữ trong hầu hết tiểu thuyết của Soseki từ Madona (Cuộc nổi loạn ngoạn mục), Nami (Gối đầu lên cỏ), Mineko (Sanshiro) cho đến người vợ của Tiên Sinh hồi còn trẻ (Nỗi lòng) đều là những cô gái ít nhiều mang đặc điểm song trùng: Cùng gợi đến vẻ đẹp mong manh, khó đoán và thường hay thích thú trong việc đùa giỡn các chàng trai. Hơn hết, mỗi sự dang dở ấy đều ngầm chứa trong nó những thông điệp riêng, gắn liền với từng kiếp người; và có lẽ, tự bản thân Soseki cũng đã muốn khắc họa nên sự dở dang của cả thời đại Minh Trị lúc bấy giờ.

Natsume Soseki đã sống và viết như thế trong bốn mươi chín năm ngắn ngủi với những niềm đau và nỗi bất an, đặc biệt là mười năm cuối đời hết sức rực rỡ nhưng cũng lắm chông gai trên con đường văn nghiệp. Vượt qua một thời đại bất toàn, một cuộc đời bất toàn, văn hào đã sống một kiếp hiện sinh đầy giá trị.

NGUYỄN HỮU MINH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *