Tiểu luận của tác giả trẻ Lê Thùy Giang ở Lai Châu

Vanvn- Lê Thùy Giang sinh năm 1985, thạc sĩ ngữ văn, giảng viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu sau đó chuyển về Tạp chí Văn Nghệ Lai Châu công tác.

Là tác giả trẻ hiếm hoi chuyên tâm theo mảng lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số và miền núi phía Bắc, Lê Thùy Giang đã hoàn thành các tập lý luận phê bình: “Phong vị Tây Bắc”, NXB Hội Nhà văn, 2020; “Văn xuôi dân tộc và miền núi phía Bắc đầu thế kỉ XXI”. Ngoài ra Lê Thùy Giang còn sáng tác nhiều thể loại như: thơ, truyện ngắn, tản văn, bút ký… chị vừa cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn và tản văn: “Lạc giữa mùa bông”, NXB Sân khấu.

Sự chuyển động của văn trẻ dân tộc và miền núi phía Bắc thế kỉ XXI” là tiểu luận của Lê Thùy Giang, cho chúng ta hình dung rõ hơn về văn học dân tộc miền núi, nhất là văn học trẻ dân tộc miền núi phía Bắc, xin được giới thiệu cùng bạn đọc.

NÔNG QUANG KHIÊM giới thiệu

Tác giả trẻ Lê Thùy Giang

Sự chuyển động của văn trẻ dân tộc

và miền núi phía Bắc thế kỉ XXI

 

Văn học dân tộc và miền núi đương đại là một bộ phận trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại. Văn học về dân tộc và miền núi ra đời vừa là nhu cầu tự thân của văn học, vừa là quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại còn rất trẻ. Bắt đầu hình thành từ những năm 50 của thế kỉ XX, đến nay hơn nửa thế kỉ phát triển, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có được những thành tựu nhất định góp phần vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Việt Bắc và Tây Bắc vẫn là hai miền đất vàng của văn chương miền núi, nơi ngưng tụ nguồn mạch chính của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Văn học dân tộc và miền núi phía Bắc được xác định là bộ phận văn học bao gồm những sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số và nhà văn người Kinh viết về dân tộc miền núi và những trăn trở của họ về các vấn đề đời sống, xã hội của nhân dân các dân tộc ít người ở Tây Bắc và Đông Bắc của tổ quốc. Thật tự nhiên là những sáng tác đó, đa phần là của các tác giả hiện sinh sống, hoặc từng sinh sống, từng đến với miền Bắc Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này, người viết chủ yếu khái quát tình hình của một số thể loại văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa (thể loại ký xin đề cập ở một bài viết khác).

Thế kỉ XXI với những biến đổi mạnh mẽ của cuộc đại cách mạng công nghệ 4.0, đã tác động lớn lao đến các vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội, xu thế hội nhập quốc tế là tất yếu để phát triển. Đặc điểm của thời đại, quốc gia, dân tộc đã tác động mạnh mẽ tới các hình thái ý thức xã hội trong đó có văn học. “Một nền văn học chịu nhiều phân tán, ngập ngừng, nhiều lần mở, khép. Một nền văn học dung hợp cả các yếu tố truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại” (Nguyễn Thị Thanh Xuân)

Khảo sát 20 năm đầu thế kỉ XXI, văn xuôi nói chung, văn xuôi về dân tộc, miền núi phía Bắc nói riêng đã có những thành tựu nhất định trong sự tiếp nối, kế thừa của văn xuôi dân tộc thiểu số giai đoạn trước đó, đặc biệt là từ sau đổi mới 1986. Số lượng các tác giả, tác phẩm không ngừng được tăng nhanh. Trong cuốn “Văn xuôi dân tộc và miền núi đầu thế kỷ XXI” (xuất bản 2011) dày hơn 800 trang gồm 63 tác phẩm của 63 tác giả trong cả nước đã tập hợp khá toàn diện bức tranh văn học về đề tài dân tộc và miền núi ở thập kỉ đầu thế kỉ. Dưới ngòi bút của các tác giả, đời sống của đồng bào các dân tộc và miền núi hiện lên đa chiều cạnh. Hai thập kỉ qua không phải là khoảng thời gian ngắn, nhưng cũng chưa là nhiều trong tiến trình phát triển của văn học. Hai mươi năm đầu thế kỉ là một “hiện tại đang tiếp diễn”. Cho nên, dù chưa có nhiều hiện tượng nổi bật như 15 năm cuối thế kỷ XX song văn xuôi giai đoạn này đã có những thành tựu nhất định trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc.

Thế hệ đặt nền móng của văn học dân tộc miền núi không thể không kể đến những tên tuổi như Tô Hoài, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Vi Hồng, Hoàng Hạc, Triều Ân, Vy Thị Kim Bình, Mã A Lềnh, Ma Văn Kháng, Sa Phong Ba… Họ là những người có nhiều đóng góp đối với sự phát triển của văn học dân tộc thiểu số, đã “nuôi dưỡng ngọn lửa văn chương của dân tộc mình” (Lâm Tiến) và truyền lửa cho thế hệ sau. Tiếp sau đó, văn đàn ghi nhận diện mạo, phong cách văn chương của những nhà văn gạo cội, tiêu biểu như: Cao Duy Sơn, Hữu Tiến, Đoàn Lư (Cao Bằng), Vũ Xuân Tửu (Tuyên Quang), Hà Lâm Kỳ (Yên Bái), Hồ Thủy Giang, Bùi Thị Như Lan (Thái Nguyên), Đoàn Hữu Nam (Lào Cai), Nguyễn Trần Bé (Hà Giang), Bùi Minh Chức, Hà Lý (Hà Nội), Du An, Trần Đức Lợi (Điện Biên)… Trước sự lo lắng về sự “già hoá” của đội ngũ thì thật may mắn là sự “nhập cuộc” gần đây của đông đảo những cây bút thế hệ 7x, 8x và cả 9x như: Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Bích Thuý (Hà Nội); Mã Anh Lâm (Lào Cai); Tống Ngọc Hân, Vũ Thị Huyền Trang (Phú Thọ); Kiều Duy Khánh (Sơn La); Nông Quang Khiêm (Yên Bái);  Chu Thị Minh Huệ, Lục Mạnh Cường (Hà Giang); Chu Thanh Hương, Vi Thị Thu Đạm, Nông Ngọc Bắc (Lạng Sơn); Bùi Việt Phương, Phạm Thuý Quỳnh, Kiều Xuân Quỳnh (Hoà Bình); Trịnh Thanh Phong, Hồng Giang, Ma Thị Hồng Tươi (Tuyên Quang), Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Triệu Thị Mai, Bế Phương Mai (Cao Bằng); Phan Đức Lộc (Điện Biên)… Dù đội ngũ thay thế còn non trẻ, nhưng đó là nguồn tài nguyên cần nuôi dưỡng, khích lệ tiếp bước thế hệ đi trước ở lĩnh vực đòi hỏi nhiều tài năng, sự trải nghiệm, kinh nghiệm… Các tổ chức văn học, các tờ báo và một số nhà xuất bản đã góp sức động viên phong trào sáng tác trong thế hệ trẻ, nhằm phát hiện tài năng mới. Chỉ xin đưa một dẫn chứng: Nhà xuất bản Trẻ (TpHCM) kiên trì tổ chức các cuộc thi “Văn học tuổi 20” qua các năm. Trong đó, tập truyện ngắn Tiếng hú trên đỉnh Pù Cải của tác giả trẻ người dân tộc Tày Yên Bái – Nông Quang Khiêm cũng nằm trong tủ sách này. Đội ngũ này đã tạo nên nhiều tác phẩm giá trị, đạt nhiều giải thưởng văn học. “Văn học trẻ từ đầu thế kỷ XXI ít cất lên tiếng nói đại diện cho lý tưởng tập thể, mà chủ yếu khẳng định cái tôi cá thể của mình… Màu sắc giáo huấn, phúng gián nhường chỗ cho các sắc màu khác, được dệt bởi những nhận thức và trải nghiệm mới, khi văn học hiện diện như một sân chơi tinh thần mà luật chơi dân chủ của nó chấp nhận tất cả các ý hướng dấn thân, ngẫu hứng, phá phách… của những cái tôi tự trị” (Đoàn Ánh Dương).

Không thể phủ nhận đóng góp của những nhà văn người Kinh đối với văn học dân tộc thiểu số là rất lớn và có ý nghĩa, không những về chất lượng mà cả về số lượng. Những cây bút tiêu biểu về mảng đề tài này như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp… sau những cuốn sách thành công ban đầu viết về dân tộc miền núi đều viết ít đi, hoặc không viết về đề tài này nữa. Vào những năm đầu thế kỷ XXI, những tác giả người Kinh vẫn không ngừng trăn trở về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc. Ở thế hệ tiền bối, Ma Văn Kháng, sau Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1999) mười năm, đã trở lại với đề tài miền núi trong tiểu thuyết Một mình một ngựa (giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2009). Vũ Ngọc Chương với tiểu thuyết Khau slin hùng vĩ – 2006 và Rừng vàng – 2007). Trịnh Thanh Phong với tiểu thuyết Ma làng (2002) và Ông Mãnh về làng (2011). Đoàn Hữu Nam sáng tác tiểu thuyết Thổ Phỉ, Giải A Văn xuôi của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2010; tiểu thuyết Tình rừng – 2000, Dốc người– 2001, Trên đỉnh đèo giông bão -2004. Hoàng Thế Sinh viết các tiểu thuyết Xứ mưa – 2000, Rừng thiêng -2007, Thuốc phiện và lửa – 2013 và tập truyện ngắn Sao tổn khuống – 2009). Vũ Xuân Tửu với nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết, gần đây nhất là Chuyện ở bản Piát (tập truyện, 2007). Nguyễn Anh Tuấn với Lũ muộn (tập truyện, 2007). Hồ Thủy Giang với Nhà có năm người (tập truyện, 2008), Mắt rừng (tiểu thuyết, 2015). Thế hệ văn trẻ, theo xu thế thời đại, dành nhiều thời gian cho thể loại truyện ngắn hơn: Phạm Duy Nghĩa với Cơn mưa hoa mận trắng (tập truyện, 2006) và Đường về xa lắm (tập truyện, 2007). Kiều Duy Khánh với các tập truyện thiếu nhi và truyện ngắn Bí mật dưới vực sâu (2001), Buổi đi săn cuối cùng (2003), Thám tử miền sơn cước (2005), Chim gọi ngày đã hót (2017) và Trở về với núi (2018). Nguyễn Trường Thanh với các tập truyện ngắn Dặm dài ải Bắc (2012), Tiếng đàn sơn cước (2013), tiểu thuyết Một thời biên ải (2001), Hương ngàn (2008), Nguyễn Thị Quỳnh Nga với tập truyện ngắn Hoa sơn cước (2006), Mùa sau sau đỏ lá (Giải trẻ 2006), Cúc đắng (2007), Nguyễn Thị Hương Giang với Tiếng hát từ bản Nà Lùng, Nguyễn Thị Ngọc Bốn với tập truyện Dưới chân Khau Slung  (2014), Lê Tiến Thức với tiểu thuyết Phương Bắc hoang dã (2013)…

Những tác giả trẻ giàu kinh nghiệm, cũng thường khởi đầu từ truyện ngắn, và dần thử sức với thể loại dài hơi hơn như truyện vừa, tiểu thuyết… Đỗ Bích Thúy được biết đến từ chùm truyện ngắn Sau những mùa trăng, Ngải đắng ở trên núi Đêm cá nổi đoạt giải nhất cuộc thi trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1998-1999. Bước sang những năm 2000, Đỗ Bích Thuý sáng tác nhiều về đề tài dân tộc miền núi với nhiều tập truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết. Trong suốt gần 20 năm qua, chị đã cho ra đời 19 đầu sách, trong đó có rất nhiều tác phẩm hay dành riêng cho mảnh đất Hà Giang núi đá đã dâng hiến cho văn đàn Việt một cây bút mang đậm sắc màu, nổi trội và riêng biệt, một vẻ đẹp miền cực Bắc hiện đại: Những dấu vết mang thanh âm kỳ diệu âm vang sau bờ rào đá, bay trên những mái nhà khói bếp như mây. Hành trình sáng tác của chị từ đầu thế kỉ XXI với nhiều tập truyện ngắn Sau những mùa trăng (2000), Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (2002), Ký ức đôi guốc đỏ (2003), Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2005), Đàn bà đẹp (2013), truyện vừa Người đàn bà miền núi (2008), các tiểu thuyết Bóng của cây sồi (2005, giải C cuộc thi Sáng tác Văn học Tuổi trẻ do NXB Thanh niên tổ chức), Cánh chim kiêu hãnh (2013), Chúa đất (2015), Lặng yên dưới vực sâu (2017) và gần đây nhất là tản văn Tôi đã trở về trên núi cao (2018). Đỗ Bích Thuý còn bén duyên với việc viết kịch bản phim như phim Sau những mùa trăng, Chuyện của Pao, Lặng yên dưới vực sâuChúa đất. Những bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm của chị đã đón nhận được nhiều sự quan tâm, yêu mến của khán giả đương đại. Chu Thanh Hương, xuất phát điểm từ môi trường công an nhân dân, cũng là một cây bút tài năng, với nhiều tiểu thuyết dày dặn về mặt trái xã hội. Tác phẩm của chị là nguồn tư liệu quý cho thể loại phim trinh thám, hình sự miền núi phía Bắc – vốn luôn thiếu kịch bản hay. Hiện, tiểu thuyết Hoa bay của Chu Thanh Hương đã được đạo diễn NSƯT Xuân Sơn chuyển thể thành bộ phim cùng tên.

Nhà văn của cao nguyên đá Hà Giang – Đỗ Bích Thuý cũng từng nói: “Núi rừng cho tôi nhiều thứ… Núi rừng là cảm hứng, là vốn sống, là tư liệu, là không khí, hơi thở… để tôi có thể viết về nó”. Và Đỗ Bích Thúy đã viết, viết bằng ký ức của một người con xa quê. Miền núi, cho đến giờ, với chị: “Vẫn là một vùng đất mà tôi vừa thuộc về vừa cảm thấy chưa bao giờ tôi hiểu nó đến tận cùng. Thế nên, cứ viết vậy thôi”; “Mỗi khi ngồi trước màn hình máy tính, viết những câu văn về miền núi, tôi lại có cảm giác như vừa được trở về nhà, uống nước ở suối ấy, hít hơi gió thổi ra từ trong khe núi ấy, ngồi trên cái hiên nhà ấy, với con chó nhỏ ấy… quen thuộc vô cùng”. Và, cũng như những cảm nhận khi đọc văn của Đỗ Bích Thúy, mảnh đất núi chính là “nơi về” trong tâm tưởng của chị, dù hiện giờ Thuý đã định cư ở thủ đô, và bắt đầu ngấm mình trong mảnh đất ấy với những tác phẩm mới về Hà Nội như “Cửa hiệu giặt là”…  “Sở dĩ tôi không ngừng viết về miền núi vì đó là mảnh đất của tôi, mỗi khi viết về nó, đắm chìm trong thế giới ấy, tôi lại như người đi xa được trở về nhà… Cái tâm trạng ấy, nói thực lòng, tôi chưa bao giờ cảm thấy khi viết về một đề tài khác, mảnh đất khác”. Đỗ Bích Thúy được ví là “bông hoa ban giữa đất kinh kì” (Nguyễn Văn Thọ), viết về một Hà Giang trong trí nhớ, hoài niệm. Truyện cô Thúy ngồn ngộn, hôi hổi bao nhiêu chất liệu đời sống của nơi mà các nhà văn hiện đại bấy nay, sau thế hệ Tô Hoài, dường như bỏ quên, sót lại bao điều chưa biết của nhiều sắc tộc Mông, Tày, Dao, La Chí, Pu Péo… Bằng sự hòa mình vào đời sống dân tộc, và sự chỉn chu của ngòi bút, Chu Thị Minh Huệ đã tái hiện được cuộc sống của người Mông đầy sắc nét đến mức có người phải thốt lên rằng “Huệ thực sự là người Mông viết về người Mông!”.

Khi miền núi trở thành tình yêu sâu đậm trong tâm hồn thì cùng với tài năng của ngọn bút tác giả, tự nhiên sẽ mang lại sự thăng hoa đầy giá trị. Ý mà nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét về lí do Đỗ Bích Thuý viết những trang văn hôi hổi hơi thở cuộc sống miền cao cũng chính là cái cách mà những nhà văn khác sáng tạo nên những chi tiết đời thực đắt giá, những nhân vật đúng “chất” con người miền núi, những tác phẩm là tiếng nói cho con người ở xứ sở ấy: “Nhờ đắm mình trong đời sống, hiểu cặn kẽ mọi ngóc ngách từ cảnh sắc, phong tục, tập quán, đến đời sống tính cách, tâm hồn và văn hóa của người dân vùng cao, với con mắt của người dưới xuôi, chị phát hiện được nhiều vẻ đẹp mà có khi chính người vùng cao không nhìn ra được…”.

Trong không khí sáng tác ngày một nở rộ của văn học miền núi, Tống Ngọc Hân thể hiện bút lực dồi dào trong thập niên thứ hai của thế kỉ XXI với việc xuất bản liên tục các tập truyện ngắn Khu vườn yên tĩnh (2009), Sợi dây diều (2010), Đêm không bóng tối (2013), Hồn xưa lưu lạc (2014), Mây không bay về trời (2015), Tam Không (2016), Kiều mạch trắng (2017, đoạt giải Nhất cuộc thi viết truyện ngắn trên tạp chí văn nghệ ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ, năm 2017; giải ba Những làn gió Tây Bắc 2019), Bức phù điêu mạ vàng (2018), Vợ đẹp (2019), Bên kia dòng sông mây (2019) và các tiểu thuyết Huyết ngọc (2015), Âm binh và lá ngón (2019). Gần đây, Tống Ngọc Hân trở thành một trong những cây bút xuất sắc về dân tộc miền núi. Chị đạt rất nhiều giải thưởng của Lào Cai, của khu vực ba tỉnh Lao Cai- Yên Bái- Phú Thọ (Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn 2017 cho truyện ngắn Kiều mạch trắng), của Hội văn học nghệ thuật Thiểu số Việt Nam (Tập truyện ngắn Khu vườn yên tĩnh), của Tạp chí VNQĐ (Con trai người Xá PhóGóc khuất cuối làng năm 2013-2014); Giải C cuộc thi viết về đề tài Vì an ninh tổ quốc và bình yên cuộc sống do Bộ Công an và Hội nhà văn tổ chức (2011- 2015) cho tiểu thuyết Âm binh Lá ngón; Giải Ba Cây bút vàng do Bộ Công an trao (2017) cho truyện ngắn Đường biên giới màu đỏ; Giải thưởng cuộc thi viết về đề tài Nông thôn đổi mới do Bộ Nông nghiệp và Hội nhà văn tổ chức cho tuyển tập truyện ngắn Cổng làng.

Một cây bút nữ khác của mảnh đất Hà Giang là Chu Thị Minh Huệ cũng đóng góp các tập truyện ngắn Bông dẻ đẫm sương (2013); Mười hai tầng trời (2018); Ngược dòng thiên di (2019), và tiểu thuyết Chủ đất (2016, vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết 2017-2018 của Hội Nhà Văn, đoạt giải B của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số năm 2019); Phan Đức Lộc 9x với các truyện ngắn rất mới Mùa đông ở Sính Phình, Thung lũng Mưa, Đường về Sai Chản, Bông ban nở muộn, Xác đá…

Bên cạnh những tác giả người Kinh vừa nêu thì đội ngũ những cây bút là người dân tộc xuất hiện đông đảo. Nói về vai trò của nhà văn dân tộc thiểu số khi nói lên tiếng nói của chính dân tộc mình, nhà văn Tô Hoài từng thừa nhận: dẫu tôi đã cố gắng nhưng những tác phẩm ấy chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức ký họa thông qua cảm xúc mới mẻ của mình. “Muốn hiểu đời sống thực của người dân miền núi và dân tộc phải có đời sống thực của người trong cuộc. Tôi không thể có được tâm hồn và những hiểu biết để thể hiện như Đinh Ân (Mường), Vi Hồng (Tày), Mã Thế Vinh (Nùng), Mã A Lềnh (Mông)”. Văn học các dân tộc thiểu số có thực sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc của chúng ta. Các nhà văn người Kinh viết về dân tộc và miền núi vẫn có một khoảng cách nhất định giữa chủ thể và đối tượng. Họ chưa thể có được sự hòa nhập hoàn toàn giữa chủ thể sáng tạo và đối tượng mô tả như các nhà văn dân tộc thiểu số viết về con người, cuộc sống của dân tộc mình. Có những giá trị không thể thay thế của những tác phẩm mà các nhà văn dân tộc thiểu số cống hiến bên cạnh những sáng tác của các tác giả người kinh viết về dân tộc và miền núi.

Đóng góp cho văn xuôi dân tộc miền núi thế kỉ XXI có các cây bút một số dân tộc. Tác giả người dân tộc Thái có Sa Phong Ba với các tập truyện ngắn Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2005), Người rừng ở Pá Lống (2017); Vương Trung  có tiểu thuyết Đất bản quê cha (2007), tác giả Cầm Hùng có tiểu thuyết Cơn lốc đen (2009), Hà Phong có Vượt qua dãy Hoàng Liên (truyện dài, 2009, Giải B của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam),  Bàng bạc mưa rừng (tập truyện ngắn và kí, 2010), Chim Tăng ló kêu tiếng buồn (tập truyện ngắn, 2014), Hoa vẫn nở trên Pu-ta-leng (tự truyện, 2019)… Các cây bút người Mường có Bùi Minh Chức với Sự tích một câu nói (tập truyện, 2001) và Hà Lý với Ngọt đắng vị Mường (tập truyện, 2002), Lạc giữa lòng Mường (tập truyện, 2008). Tác giả người Nùng có Địch Ngọc Lân với Hoa mí rừng (tiểu thuyết, 2001). Hiện nay cả nước có hơn 1.000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, chỉ có ba nhà văn người dân tộc Mông, đó là cha con Mã A Lềnh và Mã Anh Lâm (Lào Cai) và Hùng Đình Quý (Hà Giang). Nhà văn Mã A Lềnh dù đã tuổi cao sức yếu nhưng vẫn tiếp tục đóng góp cho văn xuôi dân tộc miền núi thế kỉ XXI với các tác phẩm: Thằng bé củ mài (2000), Chuyện xưa ở Mường Tiên (2001), Nàng Gua và chàng Sóc (2001), Rong ruổi vùng cao (2003), Chộn rộn đường xuân (2005). Mã Anh Lâm với một số truyện ngắn và tiểu thuyết Đối mặt phía nửa đêm (2006)…

Trong đội ngũ nhà văn dân tộc thiểu số, các tác giả là người dân tộc Tày (Việt Bắc) là chiếm đa số. Trong đó, Cao Duy Sơn là nhà văn Tày tiêu biểu với nhiều tác phẩm giá trị: tập truyện ngắn Những đám mây hình người – 2002; Đàn trời – tiểu thuyết, 2006; Ngôi nhà xưa bên suối – tập truyện ngắn đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008, giải thưởng văn học ASEAN năm 2009, Chòm ba nhà – tiểu thuyết, 2009). Hà Lâm Kỳ với tiểu thuyết gần đây nhất Cánh cung đỏ – 2019, Giải A Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” giai đoạn 2018 – 2020). Cây bút nữ quân đội với sức viết khoẻ từ suốt thập niên cuối của thế kỉ trước – Bùi Thị Như Lan. Đến nay chị liên tục trình làng các tập truyện ngắn như Tiếng chim kỷ giàng – 2003, Mùa hoa mắc mật – 2005, Hoa mía – 2006, Lời Sli vắt ngang núi – 2008, Bồng bềnh sương núi – 2009, Cọn nước đôi – 2012, Mùa hoa Bjooc phạ – 2013, Tiếng kèn Pí Lè – 2015, và tiểu thuyết Chuyện tình Phja bjooc (2017). Bùi Thị Như Lan đạt nhiều giải thưởng văn học bao gồm giải Ba – truyện ngắn Núi đợi (Cuộc thi Viết truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (2001 – 2002), giải Nhì cho truyện ngắn Gió hoang (Cuộc thi Truyện ngắn và Bút ký của Tạp chí Văn hóa các dân tộc), giải C cho Tập truyện Hoa mía của Hội Văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam (2006); Giải A cho Tập truyện ngắn Tiếng chim kỷ giàng (Giải thưởng 5 năm Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên)…). Nhà văn Hữu Tiến của Cao Bằng, trong hai thập kỉ đầu thế kỉ XXI cũng đã xuất bản các tập truyện ngắn Đèo không lặng gió – 2003, Cô gái nhặt bông gạo – 2006 và tiểu thuyết Dòng đời – 2007, Hữu hạn – 2012). Hoàng Hữu Sang tiêu biểu với tiểu thuyết Cửa rừng – 2000, Vực thuồng luồng – 2006)…

Tiếp nối thế hệ tiền bối, là sự xuất hiện của các cây bút trẻ người dân tộc. Trong đó, các tác giả dân tộc Tày chiếm vị thế “áp đảo” trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số và thành tựu sáng tác của họ đã được ghi dấu đậm nét trên văn đàn dân tộc từ cuối thế kỉ XX đến nay. Chẳng hạn như Vi Hồng, Hoàng Triều Ân…, gần đây nhất là Cao Duy Sơn với tiểu thuyết Đàn trời – Giải B Hội Văn học nghệ thuật và các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2006; và đặc biệt, tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối cùng lúc nhận 2 giải thưởng: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008 và Giải thưởng văn học Đông Nam Á năm 2009… Đương đại, các nhà văn trẻ dân tộc Tày vẫn tiếp tục thể hiện tài năng: Chu Thanh Hương (dân tộc Tày) thành công của tiểu thuyết Hoa bay, 2010 đạt giải A cuộc thi tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống giai đoạn 2007 – 2010” do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức; Nông Quang Khiêm với nhiều tập truyện ngắn, bút kí như Tiếng hú trên dỉnh Pù Cải (2017)- giải B giải thưởng Liên hiệp VHNT Việt Nam, Giọt núi–  giải B giải thưởng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2018), Hun hút đường quê (2019), Trên đỉnh La Pán Tẩn;  Vi Thị Thu Đạm (Tập truyện kí Chuyện tình ở bản Nà Lài – giải B văn xuôi 2007 Trung ương Liên hiệp các Hội VHNT VN), Lục Mạnh Cường (Trăng trên Khau Luông, 2018), Đoàn Ngọc Minh (Núi Bó Phạ trở về, Phía sau đỉnh Khau Khoang)…

Nói chung, các tác giả đến từ các dân tộc khác nhau đã thực sự hòa nhập vào dòng chảy của văn học đương đại, tạo nên nhiều tác phẩm giá trị, phản ánh chân thực cuộc sống của đồng bào miền núi qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc.

Đến nay, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có một đội ngũ đầy triển vọng ở hầu hết các dân tộc và nhiều tỉnh thành. Tuy nhiên, sự chênh lệch về số lượng tác giả văn xuôi người dân tộc thiểu số giữa các tỉnh cũng rất đáng kể. Ví dụ Điện Biên, Lai Châu… còn ít những cây bút văn xuôi người dân tộc thiểu số. Trong khi đó, Cao Bằng, Lạng Sơn… tỏ ra là vùng đất có thế mạnh về lực lượng này với hơn một chục cây bút văn xuôi có sức viết dồi dào. Sự không đồng đều về số lượng và chất lượng các cây bút văn xuôi giữa dân tộc thiểu số này với dân tộc thiểu số khác cũng là một thực tế.

Trước những chính sách mới của Đảng và Nhà nước, đời sống của vùng núi phía Bắc dù còn khó khăn nhưng đã được nâng lên, nhà văn được tự do sáng tạo để tạo nên giá trị địch thực trong văn hóa văn nghệ, để phát triển tài năng. Tiềm lực văn hóa của tác giả được nâng lên một cấp độ đáng kể. Xu hướng hội nhập, thế giới phẳng, internet, công nghệ phát triển khiến các nhà văn dân tộc thiểu số tiếp cận, học hỏi kho tàng trí tuệ nhân loại, của dân tộc Việt Nam, rút gần khoảng cách giữa vùng cao và vùng đồng bằng, giữa văn học dân tộc miền núi và văn học miền xuôi nói chung, giữa Việt Nam và thế giới. Tất nhiên, cơ hội cũng luôn đi với thách thức. Và nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế cũng mang đến những mặt trái – tạo thành một tiểu đề tài được đề cập đến trong nhiều tác phẩm của văn nghệ sĩ miền núi phía Bắc. Nhìn chung, những điều kiện khách quan và chủ quan đã giúp đội ngũ và tác phẩm về dân tộc, miền núi được mở rộng. Tuy nhiên, vẫn còn một thực trạng là còn nhiều dân tộc thiểu số chưa có nhà văn đại diện cho tiếng nói cộng đồng của dân tộc mình. Tuy nhiên, các nhà văn dân tộc thiểu số vẫn đang tiếp tục hành trình chinh phục độc giả cả nước bằng những tác phẩm mới của mình và lực lượng kế thừa trẻ đang trưởng thành. Nếu các tác giả là người miền xuôi phải đi thực tế miền núi, kiếm tìm cảm hứng và vốn sống, tư liệu mới viết được thì các nhà văn dân tộc thiểu số với vốn sống, vốn văn hoá, ngôn ngữ ẩn tiềm một cách tự nhiên, cố hữu trong mình, họ và những tác phẩm của họ sẽ là “tài nguyên” chính của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại. Đó là những cây bút có giọng điệu, có bản sắc riêng, và thật sự chất lượng dẫu không phải họ sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ. Nhiều tác phẩm của tác giả ấy đã đạt các giải thưởng chính thức về văn chương.

Có thể thấy, trong hơn hai chục năm qua, số lượng tác giả người dân tộc thiểu số tham gia vào đội ngũ người viết văn xuôi ngày càng đông đảo, khiến cho bức tranh văn hóa trong văn xuôi các dân tộc thiểu số thêm đa dạng với nhiều sắc thái phong phú. Mỗi người một vẻ, những cây bút văn xuôi về dân tộc và miền núi đã cố gắng tìm tòi một lối đi riêng. Tác phẩm của họ đã góp vào đời sống văn học Việt Nam những giá trị mới, đã tạo nên những ấn tượng nhất định trong lòng công chúng thế kỷ XXI. Tuy chưa có được những tài năng xuất sắc, những phong cách đích thực, nhưng những cây bút trên đã thực hiện được sứ mệnh nuôi giữ ngọn lửa văn chương của dân tộc mình.

Nếu như ở giai đoạn nền móng của văn học dân tộc miền núi còn thưa thớt những nhà văn nữ. Giai đoạn 15 năm cuối thế kỉ XX ghi nhận sự đóng góp của các nhà văn nữ như Vy Thị Kim Bình, Bùi Thị Như Lan… Bước sang thế kỉ XXI, bắt đầu xuất hiện những tên tuổi mới và cho đến nay (2020), những nhà văn nữ này đã trở thành cái tên được nhiều độc giả tìm đọc và nghiên cứu, tiêu biểu là Đỗ Bích Thuý và Tống Ngọc Hân, Chu Thị Minh Huệ, Vũ Thị Huyền Trang, Chu Thanh Hương, Vi Thị Thu Đạm… Những trang viết của họ hôi hổi những chi tiết đời sống, đi sâu vào thế giới tâm hồn, những góc khuất cuộc sống mà nếu không đủ hiểu, đủ sâu nặng với mảnh đất ấy, ta không thể nhận ra. Đằng sau những cảnh thiên nhiên hùng vĩ tươi đẹp, sau những chuyện đời, chuyện người ấy ánh lên những khát vọng sống, khát vọng yêu, những giá trị chân – thiện – mĩ sâu sắc. Trong đó, Đỗ Bích Thúy được đánh giá “là một trong những cây bút nữ quan trọng nhất hiện nay ở mảng văn học về đề tài miền núi” (Trần Đăng Khoa). Đỗ Bích Thúy đã tạo nên “một khuôn mặt văn chương viết về cực Bắc không lẫn vào bất kỳ cây bút nào trước và sau cô, kể cả với nhà văn gạo cội chuyên viết về phía Bắc, có những tác phẩm lớn như nhà văn Tô Hoài. Đỗ Bích Thúy là đóa hoa văn cực Bắc trong bàng bạc sương mù tháng ba bồng bềnh ngự trên núi non địa đầu tổ quốc”. Chị đã góp một tiếng nói riêng cho văn đàn dân tộc miền núi và văn học Việt Nam đương đại nói chung với nhiều tác phẩm về cảnh sinh hoạt truyền thống và thân phận con người miền cao. Đỗ Bích Thuý viết tinh tế, sắc sảo đến độ nhà văn gạo cội về đề tài dân tộc miền núi của thế hệ trước như Trung Trung Đỉnh phải thú thực rằng: “Tôi có cảm giác Đỗ Bích Thúy còn quá nhiều điều để viết về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của đất nước ta. Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kỳ vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ… chào thua!”, “Truyện nào của Đỗ Bích Thuý cũng đem đến cho ta một cảm giác mới, một vẻ đẹp mới, giàu bản sắc của một vùng đất văn hoả vừa huyền hoặc vừa rất cuộc đời”. Trong tác phẩm của Thuý là một Tây Bắc hiện đại, tràn đầy sức sống mà vẫn huyền diệu, bí ẩn khác với vẻ hoang sơ mà Tô Hoài đã từng viết trước đó. Có thể thấy lịch sử, văn hóa, thiên nhiên, con người miền núi là nguồn cảm hứng, cảm xúc mãnh liệt trong suối nguồn sáng tác của các nhà văn dân tộc miền núi thế kỉ XXI.

Trước sự quan tâm của Đảng, diện mạo đời sống dân tộc miền núi đã có những thay đổi tích cực. Tuy nhiên đứng trước thách thức của thời kì đổi mới, hội nhập, vẫn còn có sự chênh lệch vùng miền, miền núi phía Bắc vẫn còn nhiều khó khăn về kinh tế, y tế, giáo dục; con người – văn hoá, đạo đức đang đứng trước sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường; vùng biên ải phức tạp với các thế lực thù địch, phản động, vùng có nhiều tội phạm ma túy, buôn bán người, tội phạm xuyên quốc gia… Thế hệ nhà văn trẻ chính là “nguyên khí” để tiếp cận, phản ánh cuộc sống, nhằm hướng tới xây dựng một miền núi nhân văn, tiến bộ, phát triển cùng với đất nước và đậm đà bản sắc dân tộc. Nhà văn bên cạnh tài năng, cần hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ về lịch sử, về phong tục, tập quán, môi trường sống… mới có thể  cống hiến những tác phẩm hay về dân tộc miền núi.

Những thành tựu của văn trẻ dân tộc miền núi phía Bắc thế kỉ XXI là tín hiệu vui cho thấy giới trẻ vẫn dành nhiều sự quan tâm, tình yêu lớn lao với cuộc sống – văn hoá – con người vùng núi phía Bắc. Như những chú ong chăm chỉ hút nhị từ mảnh đất núi để dâng cho đời những giọt mật ngọt, hi vọng trong thời gian tới, các cây bút trẻ tiếp tục giới thiệu đến văn đàn những trang văn tinh tế, dệt nên tấm văn chương thổ cẩm rực rỡ sắc màu. Cứ thế, truyền lửa cho những thế hệ tiếp theo để cùng phác hoạ diện mạo văn học thế kỉ XXI với nhiều đỉnh cao mới trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc.

    LÊ THÙY GIANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *