Tiểu luận của tác giả trẻ Hà Thy Linh ở Hà Nội

Vanvn- Hà Thy Linh tên thật Trình Thị Minh Hảo sinh ngày 21.9.1989, cử nhân văn học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và hiện là biên tập viên sách ở Hà Nội.

Là cây bút trẻ đam mê sáng tác truyện ngắn, tản văn và yêu thích lý luận phê bình, Hà Thy Linh có bài đăng trên nhiều báo chí và in sách chung, đang chuẩn bị xuất bản truyện dài Sinh viên Văn khoa và tiểu thuyết Nếu không ngại quá khứ thì hãy cứ yêu em. Riêng mảng tiểu luận cho thấy Hà Thy Linh khá công phu trong việc tìm tòi, soi chiếu và phát hiện vẻ đẹp các văn bản theo góc nhìn riêng của người trẻ tinh tế, nhiệt huyết, đắm đuối với văn chương. Đó cũng là yếu tố cơ bản để Hà Thy Linh có thể bền bỉ với con đường nghiên cứu văn học.

Tác giả trẻ Hà Thy Linh

Người sót lại của rừng cười

và thân phận người lính nữ trong chiến tranh

 

Chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng nhưng dấu tích mà nó để lại còn mãi in hằn trong ký ức người lính. Điều này được thể hiện rõ nét trong văn chương. Ở từng thời kỳ, từng giai đoạn văn học, đề tài chiến tranh lại được khai thác, tiếp cận và phản ánh theo những góc độ và cảm hứng khác nhau. Văn xuôi Việt Nam trước năm 1975 mang âm hưởng sử thi với cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, nên những gì thuộc về thân phận con người dường như chưa được đề cập đến hoặc nếu có cũng chỉ lướt qua và khá mờ nhạt. Ngược lại, sau năm 1975, những tác phẩm viết về chiến tranh được phản ánh một cách đa chiều và toàn diện hơn. Ví dụ, trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng hình tượng người lính trong khói bom lửa đạn vẫn luôn giữ được sự hào sảng, lạc quan và khí thế quật cường, nhà văn ca ngợi những chiến công anh dũng của những con người bất khuất, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc; còn trong truyện ngắn Người sót lại của rừng cười, Võ Thị Hảo không khai thác vinh quang mà lại cho chúng ta thấy bi kịch của những người lính sau cánh rừng Trường Sơn, đặc biệt là người lính nữ, khiến độc giả không khỏi rùng mình, ớn lạnh trước những điều khủng khiếp mà chiến tranh gây ra: Nó chà đạp và tước đi quyền sống của con người.

Cùng là phụ nữ trong chiến tranh, Nguyệt và Thảo có những nét tương đồng, nhưng lại có số phận khác nhau. Họ đều là những cô gái xinh đẹp, mang trong mình nhiệt huyết tuổi trẻ và quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Nguyễn Minh Châu đã lãng mạn hóa và khắc họa cái đẹp phi thường, nâng vẻ đẹp của Nguyệt thành hoàn mỹ. Mặc cho bom đạn tàn phá, Nguyệt vẫn tự bộc lộ vẻ đẹp ngời sáng trong tâm hồn. Cô mang “vẻ đẹp giản dị và mát mẻ như sương núi”. Cô dũng cảm, dù bị thương cũng không hề nao núng, vẫn gan góc chiến đấu để hoàn thành nhiệm vụ. Chính vì thế, chúng ta cảm mến và ngưỡng mộ Nguyệt. Còn Thảo, khi đọc Người sót lại của rừng cười, ta cảm thấy có chút gì tưng tức ở trong tim, cảm thấy chua chát và buồn thấu tận tâm can, tưởng như nước mắt cứ chực tuôn trào, khóc thương cho số phận éo le và đầy bi kịch của cô. Thảo rất cao thượng, cô sẵn sàng buông bỏ và lựa chọn cách ra đi để người mình yêu hạnh phúc, để Thành mãi là chàng hoàng tử hào hiệp của cô và các đồng đội, để giữ trọn lời hứa với chị Thắm, rằng không để đàn ông thương hại. Thảo đã viết trong lá thư tự gửi cho chính mình: “Em là người sót lại của rừng cười, nhưng hạnh phúc chẳng còn sót lại nơi em”. Câu nói ấy mới cay đắng và xót xa làm sao!

Câu chuyện tình yêu kỳ lạ nhưng thú vị giữa Nguyệt và Lãm mang đến người đọc những cảm xúc dịu dàng, lắng đọng. Nhưng, tình yêu của Thảo và Thành cũng từng rất đẹp. Người con trai mà Thảo yêu “được khúc xạ qua bao lớp bụi và khói, cuối cùng đến lớp sương mù lung linh huyền ảo của ký ức, hiện lên như một chàng hoàng tử hào hiệp thủy chung”. Thành vẫn giữ lời thề thốt yêu đương ngày trước, săn sóc Thảo chu đáo, ân cần, độ lượng và khoan dung. Chỉ tiếc rằng chiến tranh quá tàn nhẫn và thời gian khiến mọi thứ đổi thay, tình cảm của anh đã không còn nguyên vẹn như lúc đầu, điều còn lại trong anh có lẽ chỉ là trách nhiệm. Trong rừng cười, Thảo đã bền bỉ chống chọi với nỗi cô đơn, với những điều “mà chỉ những ai đã từng đi qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp ranh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi”, nhưng trái tim cô được soi đường bởi ánh sáng tình yêu. Cô đủ sức vượt lên bởi có động lực và niềm tin. Song nỗi cô đơn trong hòa bình còn khủng khiếp hơn hàng ngàn hàng vạn lần nỗi cô đơn trong chiến tranh, bởi mọi hy vọng của Thảo dường như đã bị dập tắt. Những người lính chiến đấu quên mình, sống sót được qua chiến tranh đã là điều kỳ tích, nhưng khi trở về với hiện thực, họ không thể hòa nhập với cuộc sống mới. Họ đã bước ra khỏi cuộc chiến nhưng không sao thoát khỏi những ám ảnh kinh hoàng của quá khứ. Thảo vẫn còn sống nhưng không còn là Thảo của ngày xưa, cô luôn cảm thấy tự ti, lạc lõng; không ai có thể đồng cảm hay chia sẻ với cô, dường như không ai muốn chấp nhận cô. Cuối cùng, Thảo chỉ có một sự lựa chọn, sự lựa chọn duy nhất tốt cho cả cô và những người khác, mặc dù điều đó mang đến Thảo biết bao đau đớn, tựa hồ như ngàn mũi kim đâm vào tim.

Sau năm 1975, các nhà văn đặc biệt khám phá và diễn tả chiều sâu bi kịch của người phụ nữ trong quan hệ với chiến tranh. Truyện ngắn Người sót lại của rừng cười thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Thị Hảo với những người phụ nữ khi bước ra khỏi cuộc chiến. Tác phẩm đã thành công trong việc khắc họa thân phận con người trong chiến tranh. Mô tả nỗi đau thương của chiến tranh đôi khi không cần nói đến sự hủy diệt hay chết chóc, nhiều khi cái chết trong tâm hồn còn đau đớn gấp vạn lần những nỗi đau thể xác. Ví như Quỳ, người con gái hoàn mỹ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, cũng không có được hạnh phúc, bởi nỗi ám ảnh chiến tranh theo cô suốt cuộc đời, biến cô thành người đàn bà mộng du trong đời thực. Con người không thể cưỡng lại được sự tàn phá của chiến tranh, “mái tóc óng mượt dài chấm gót” của Thảo “chỉ còn là một túm sợi mỏng mảnh xơ xác”, bất chấp sự cố gắng của những cô gái còn lại, bởi “rừng mạnh hơn”. Không gian mênh mông, thời gian vô tận, năm cô gái bé nhỏ giữa Trường Sơn huyền bí, sâu thẳm dường như càng nhỏ bé: “Chuyện thần thoại của chiến trường không xảy ra ở đây. Bốn cô gái không chống chọi nổi đã dành viên đạn cuối cùng cho mình để tránh ô nhục”. Họ đặt toàn bộ hy vọng của mình trên vai Thảo, nhưng đến cuối cùng, Thảo đâu có được niềm hạnh phúc trọn vẹn như họ đã ước mong? Những dòng nhật ký của Hiên đã phần nào thể hiện được sự tàn khốc của chiến tranh: “Sẽ không bao giờ mình quên được những gì đã nhìn thấy ở rừng cười. Có lẽ cảnh chết chóc còn dễ chịu hơn! Ôi! Thế là sau chín năm ở chiến trường, nay tôi đã thấy ở rừng cười cái cười méo mó man dại của chiến tranh”. Ai đi qua chiến tranh mà không từng có lúc giật mình, hoảng hốt trong những cơn mơ ám ảnh, vọng về từ quá khứ? Thảo cũng vậy: “… trong giấc mơ tuổi thanh xuân, cô chỉ thấy tóc rụng như trút, rụng đầy khuôn ngực đã bị đâm nát của chị Thắm, và từ trong đám tóc ấy lẩy ra hai giọt nước mắt trong veo và rắn câng như thủy tinh, đập mãi không vỡ”.

Văn học sau năm 1975 đã phơi bày những góc khuất, những đau thương của hiện thực chiến tranh, nhất là những nỗi đau trong tâm hồn. Cảm hứng bi kịch càng đau đớn, xót xa hơn khi viết về hạnh phúc và tình yêu. Trong chiến tranh, người phụ nữ đã hy sinh quãng đời đẹp nhất của mình. Không chỉ vậy, bom đạn và sự tàn phá của thời gian còn tước đoạt đi cơ hội làm vợ, làm mẹ của họ. Sau chiến tranh, họ chỉ còn lại hình hài đầy thương tích cùng những chuỗi ngày xót xa, trăn trở. Nếu không có chiến tranh, sẽ không có những con người lặng lẽ ôm lấy tổn thương và tự mình liếm láp những vết thương ấy, để rồi trốn chạy hiện thực, sống hoài trong quá khứ. Nguyễn Thị Hảo đi sâu vào khám phá những phần khuất lấp ở hiện thực, diễn tả những nỗi đau tâm hồn bằng sự đồng cảm sâu sắc và nhân ái thiết tha của người phụ nữ. Người sót lại của rừng cười thực sự có sức hút lớn, để lại trong lòng độc giả những nỗi thương cảm và băn khoăn, khơi dậy tấm lòng trắc ẩn trong mỗi con người. Câu chuyện với kết thúc mở để lại cho người đọc những khoảng trống với nhiều trằn trọc, suy tư.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Anh Đào

Bản chất của nghệ thuật

 

Octario Paz – người đoạt giải Nobel Văn học năm 1982 cho rằng bi kịch là thừa trí tuệ, thiếu tâm hồn. Mà nghệ thuật chính là yếu tố nuôi dưỡng tâm hồn, hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ. Do vậy, nghệ thuật tất nhiên cần bộc lộ được những điều đẹp đẽ, tuyệt vời và đáng trân trọng. Cái đẹp làm rung động trái tim, mang đến lòng người những xúc cảm trong lành, nhẹ nhàng như buổi sớm mai.

Chẳng hạn có một lúc nào đó, khi tâm hồn chúng ta đồng điệu với nhà thơ Xuân Diệu trong hai câu thơ:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

(Chiều)

Dường như khi đó, ta đang lạc trong thế giới riêng, nơi có những suy nghĩ vẩn vơ, nơi ta mắc kẹt trong xúc cảm rối bời và tự vấn bản thân những điều thật khác… Bỗng ta nghe một giai điệu lắng sâu, ngắm một bức tranh đẹp hay một kiến trúc kỳ vĩ, xem một bộ phim hay, đọc một cuốn sách thú vị… ta lại thấy yêu đời, trái tim lại reo vui. Đó chính là sức mạnh lớn lao của nghệ thuật: Nghệ thuật tác động tới thế giới nội tâm của con người.

Những tác phẩm nghệ thuật chân chính chạm tới trái tim và mang đến rung cảm cho người tiếp nhận chúng. Dù đó là một công trình kiến trúc, một bức tranh, một bài hát, một bài thơ, một vở kịch, một cuốn sách hay một bộ phim… đi chăng nữa thì chắc chắn ngoài việc tác phẩm nghệ thuật đó “đẹp”, chúng còn phải thật có ích. Có ích nghĩa là sao? Nghĩa là chúng có một ý nghĩa nhất định, có tầm quan trọng hay ảnh hưởng nhất định tới con người, cần thiết cho con người. Chính vì thế, người nghệ sĩ phải là người hết sức tài hoa và tinh tế. Bởi trước tiên họ phải là người thấu hiểu nội tâm của người khác. Có ích nghĩa là có giá trị – một hay nhiều giá trị nào đó đối với cuộc sống. Khi đọc một cuốn sách hay xem một bộ phim, ta thu về cho mình thêm nhiều kiến thức, hiểu biết về thế giới, về thiên nhiên, vũ trụ và con người. Nghệ thuật cũng có thể tác động tới chính trị, đời sống xã hội. Ví dụ, bức tranh Guernica của Picasso có tác dụng động viên cuộc đấu tranh của nhân dân yêu chuộng hòa bình chống phát xít. Ví dụ, ta chưa từng đặt chân đến Paris nhưng có thể tưởng tượng ra thủ đô của Pháp, dường như kinh đô ánh sáng ở ngay trước mắt ta… qua những trang sách đã đọc, những bộ phim đã xem. Thế hệ trẻ ngày nay được sống trong hòa bình nhưng có thể cảm nhận được sự ác liệt, tàn khốc của chiến tranh; lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí cứu nước sục sôi của quân và dân ta; cùng những đau thương mất mát mà toàn dân tộc phải trải qua trong những năm tháng đó qua các tác phẩm về chiến tranh, như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi, Nỗi buồn chiến tranh… hay phim Đừng đốt, Mùi cỏ cháy… và nhiều tác phẩm khác.

Nghệ thuật có ích và “nhân đạo hóa” con người ở chỗ nó đào sâu vào thế giới nội tâm, thậm chí là đến từng góc khuất sâu nhất trong tâm hồn con người, chỉ ra những khát khao vươn tới Chân – Thiện – Mỹ, cái đẹp của thiên nhiên và xã hội; đồng thời giúp con người tự hoàn thiện nhân cách, đem đến cảm hứng, giúp chúng ta tự soi lại bản thân, hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Như vậy, tác dụng xã hội của nghệ thuật ngoài giá trị thẩm mỹ còn có nhận thức thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ.

Nghệ thuật phản ánh hiện thực khách quan một cách khéo léo qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Vì thế, những tác phẩm nghệ thuật chân chính sẽ mang con người đến gần nhau hơn, “nhân đạo hóa” con người, giúp con người biết cảm thông, chia sẻ, quan tâm và thêm yêu thương đồng loại.

Hình thức và nội dung luôn đi liền với nhau. Nếu chỉ chú trọng hình thức mà bỏ qua nội dung thì chỉ như một cái xác không hồn, bề ngoài đẹp nhưng bên trong rỗng tuếch. Và ngược lại. Cũng phải nói thêm là, hình tượng nghệ thuật không chỉ thể hiện ở bề ngoài, mà quan trọng hơn ở cốt lõi bên trong. Vì thế, nếu chỉ khắc họa cái đẹp thì hoàn toàn chưa đủ. Nghệ thuật còn phải bao gồm cả cái có ích và cái nhân đạo, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, bổ sung tương hỗ lẫn nhau, không thể tách rời.

Bởi vậy, có thể khẳng định rằng, “bộc lộ cái đẹp không phải là mục đích duy nhất của nghệ thuật, nghệ thuật cần có ích cho cuộc sống của con người, ‘nhân đạo hóa’ con người”.

Trong tác phẩm Nghệ thuật là gì? được xuất bản năm 1896, Lev Tolstoy đã định nghĩa nghệ thuật như một hình thức truyền đạt các cảm xúc mà một người đã trải qua tới những người khác, khiến cho những người này cũng bị lây nhiễm các cảm xúc đó và thấy như mình cũng trải qua những kinh nghiệm đó. Thành công của việc sáng tạo nghệ thuật chính là, ta sáng tạo hình mẫu về bản thân ta hoặc về những người xung quanh ta, nhưng phần đông người khác lại thấy họ trong đó, như soi mình trong gương. Đặt mình ở vị trí người sáng tạo nghệ thuật, chúng ta sẽ hiểu điều này.

Bản chất của nghệ thuật, như đã nói ở trên, là biểu hiện những lý tưởng xã hội, ý vị mỹ học, tình cảm luân lý. Thông qua đó tác động trực tiếp tới thế giới nội tâm của con người, gián tiếp tạo ra những ảnh hưởng khác tới chính trị và đời sống xã hội. Trên tất cả, nghệ thuật sinh ra là vì con người. Trước đây từng có cuộc tranh cãi nảy lửa trên văn đàn về “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”, nhưng ta có thể khẳng định rằng, nghệ thuật phải là sự kết hợp giữa yếu tố hình thức và nội dung, giữa nghệ thuật và con người. Văn học chân chính góp phần hoàn thiện đạo đức, nhân cách con người, làm cho con người sống tốt đẹp hơn. Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân biểu dương nhân cách cao đẹp trong sự hài hòa giữa đẹp và dũng. Đôi mắt của Nam Cao hướng chúng ta tới một cách nhìn đời sáng suốt hơn, chớ nhìn đời bằng con mắt phiến diện, ấu trĩ mà không hiểu đúng sự việc. Văn chương gửi gắm tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, quan điểm và cảm xúc của người viết. Những người cầm bút chắc hẳn không ai là không biết tới tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao trong các tác phẩm của ông, đặc biệt là Giăng sángĐời thừa: Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối!

Nghệ thuật phản ánh chân thực cuộc sống, văn học cũng vậy. Đọc những tác phẩm văn học, chúng ta có thể hiểu về quá khứ, hiện tại, thậm chí là dự đoán được tương lai. Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi hay Truyện Kiều của Nguyễn Du mang trong mình dấu tích lịch sử rõ nét, giúp chúng ta hiểu hơn về xã hội Việt Nam thời đó. Ngược lại, các tác phẩm khoa học viễn tưởng lại giúp chúng ta phát huy được khả năng tưởng tượng của mình, cũng có thể đó là những dự báo về tương lai… Văn học chân chính góp phần tố cáo những thế lực đen tối, tàn bạo trong xã hội, chà đạp lên quyền sống của con người. Văn học cũng tiếp thêm sức mạnh để con người có thể chống lại điều ác, xóa bỏ bất công trong xã hội. “Tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật, công chúng sẽ tìm thấy ở đó một cách tự giác những bài học về nhân cách, về tình yêu con người, lòng vị tha, công lý, tình yêu quê hương đất nước và cả những tình cảm riêng tư…” (Theo Bài giảng Nghệ thuật học đại cương). Nghệ thuật chân chính mang lại cảm hứng, giúp con người hướng thiện, tự hoàn thiện bản thân, sống đẹp và sống có ích hơn.

Hamlet của William Shakespeare cũng như các tác phẩm bi kịch khác của ông là sự phản ánh một cách thiên tài toàn bộ sự lạc điệu của đời sống xã hội đương thời. Kịch bản của Shakespeare phỏng theo một truyện dân gian Đan Mạch và ông không bịa ra cốt truyện cho vở bi kịch, chỉ là có những sáng tạo khiến cho vở kịch hấp dẫn và mới lạ hơn. Thời Phục Hưng, các nhà tư tưởng thường suy ngẫm về thế giới theo tinh thần của chủ nghĩa nhân bản trừu tượng. Họ xem con người là trung tâm của vũ trụ. Trong quan niệm của họ, cái hài hay cái bi đều là hiện thân của trạng thái nhân sinh. Hamlet là nhân vật bi kịch thể hiện sự tan vỡ lý tưởng của Shakespeare nhưng ông không hề mất niềm tin vào tương lai, ngược lại, ông tìm thấy trong quan niệm nhân sinh của nhân dân niềm tin yêu cuộc sống.

Don Quixote là một trong những tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại, trước hết và chủ yếu là do nội dung nhân đạo sáng ngời cùng nghệ thuật độc đáo mà tác giả đã đóng góp vào cuộc đấu tranh chung cho quyền sống của con người, cho một nền nghệ thuật tiến bộ, chân chính. Về một mặt nào đó, tác phẩm đề cao tinh thần yêu thương nhân loại, yêu quý tự do, bình đẳng, ghét thói xa hoa, ăn bám, quý trọng danh dự, tôn thờ đạo nghĩa.

Xưa nay, cái đẹp vẫn được coi là địa hạt hợp pháp của thơ, hay nói cách khác thì thơ là vương quốc của cái đẹp. Thơ là sự biểu hiện phần cao đẹp của đời sống con người. Thơ ca chân chính bao giờ cũng phải gợi lên được phần thanh tao mơ mộng, bù đắp cho đời sống những ước mơ của con người. Nghệ thuật, đặc biệt là thơ trữ tình có tác động mạnh mẽ tới tâm trí người đọc. Những hình tượng thơ có giá trị nghệ thuật cao truyền cho người đọc tình yêu mãnh liệt đối với cái đẹp, cái cao cả và nhân văn.

Nghệ thuật cung cấp cho con người hiểu biết, tri thức về thế giới xung quanh, về thiên nhiên, con người và chính bản thân mình để họ khám phá và tự khám phá chính mình. Cái tôi hay tự ngã, bản ngã là điều mà con người luôn tìm kiếm. Trong tình yêu cũng có những lý lẽ riêng. Có những câu thơ tình ngọt ngào, đằm thắm, rung động trái tim của biết bao nhiêu người. Xuân Quỳnh miêu tả tình yêu mãnh liệt của một cô gái, mang thương nhớ vào trong mơ. Niềm nhung nhớ tha thiết, dạt dào:

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

(Sóng)

Nỗi nhớ của người đàn ông cũng chẳng hề thua kém nhưng có phần lý trí hơn, thể hiện qua thơ của Hữu Thỉnh:

Biển vẫn cậy mình dài rộng thế

Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn

(Thơ viết ở biển)

Xuân Diệu có những câu thơ triết lý về tình yêu, như:

Yêu là chết ở trong lòng một ít

(Yêu)

hay:

Người ta khổ vì thương không phải cách

Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người

(Dại khờ)

Bản chất của nghệ thuật cũng được thể hiện rõ nét qua các tác phẩm điện ảnh. Bộ phim Em sẽ đến cùng cơn mưa (Be with you) của đạo diễn Nobuhiro Doi, được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của tác giả Ichikawa Takuji, mang đến người đọc những xúc cảm dịu dàng mà lắng sâu. Khung cảnh bộ phim đẹp và lãng mạn, sự tính toán và sắp xếp đầy ý đồ nghệ thuật của đạo diễn làm tăng hứng thú và lôi cuốn người xem ngay từ những cảnh phim đầu tiên. Phim cũng mang giá trị nhân văn sâu sắc, giúp chúng ta thêm trân trọng tình cảm gia đình. Đó là tình cảm vô cùng sáng trong, không chút vụ lợi hay tính toán. Nội dung phim ca ngợi vẻ đẹp của con người trong cuộc sống, ca ngợi tình yêu giữa các thành viên trong gia đình. Khán giả yêu mến các nhân vật trong phim và có cảm giác như mình đã từng gặp họ ở đâu đó, ngay trong cuộc sống thực này. Bộ phim khiến người xem cảm động, và tự nhắc nhở, ô kìa, sao ta còn vô tâm với cha mẹ mình thế, phải quan tâm cha mẹ nhiều hơn, vun đắp cho tổ ấm gia đình ấm áp và hạnh phúc.

Các bộ phim của đạo diễn Kim Ki Duk như Cánh cung hay Xuân, hạ, thu, đông, rồi lại xuân… đều rất ấn tượng, có tính nghệ thuật cao. Và mỗi bộ phim của ông đều có những ý nghĩa ẩn khuất sau những khung hình đẹp như thơ, để lại cho khán giả nhiều suy ngẫm và bài học sâu sắc.

Đẹp – có ích – nhân đạo là ba yếu tố quan trọng nhất của nghệ thuật. Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết, không thể tách bạch, không thể tách rời nhau, bởi lẽ nếu thiếu một trong ba sẽ chẳng thể tạo thành tác phẩm nghệ thuật chân chính, không thể là nghệ thuật đúng nghĩa.

Để hiểu được đầy đủ nhất bản chất của nghệ thuật, chúng ta không nên chỉ đề cao và coi là độc tôn bất cứ khía cạnh nào giữa cái đẹp và cái có ích. Nghệ thuật rất cần thiết và đem đến cho con người cả cái đẹp lẫn cái có ích, nhưng nếu nó không vì con người, không nhân đạo hóa con người, thì cũng không thể coi đó là thứ nghệ thuật chân chính, đúng nghĩa. Vậy nên, có thể nói như nhà nghiên cứu nghệ thuật Nguyễn Quân: ‘Nhân đạo là bản chất của nghệ thuật. Cái gì phản con người, phủ nhận con người đều không thể là nghệ thuật. Cái gì xa lạ với niềm vui sống và nỗi lo sợ trước cái chết của con người đều phi nghệ thuật’ – Nguyễn Quân, Ghi chú về nghệ thuật” (Theo Bài giảng Nghệ thuật học đại cương).

Như vậy, sức sống của nghệ thuật không chỉ nằm ở cái đẹp bên ngoài, mà phải phục vụ nhu cầu thẩm mỹ của con người, bởi con người là trung tâm nhận thức của nghệ thuật. Nghệ thuật bộc lộ cái đẹp, cái có ích cho con người, và vì nhân đạo mà nghệ thuật mới tồn tại bền lâu. Những giá trị nghệ thuật sẽ mãi trường tồn, vĩnh hằng cùng thời gian!

Tranh của họa sĩ Nguyễn Anh Đào

Nỗi buồn trong Thơ mới

thể hiện quan niệm và cách ứng xử với thế giới của các nhà thơ

 

Thơ mới “là tiếng nói giải phóng cái tôi cá nhân – một cái tôi nội cảm, cái tôi sáng tạo xuất phát từ mối bất hòa trước thực tại trên cả hai phương diện nhân sinh và thẩm mỹ. Nói đến cái tôi cá nhân là nói đến sự cô đơn. Biểu hiện thường trực của cô đơn là nỗi buồn. Thơ mới ngập tràn nỗi buồn”[1]. Đó là cái buồn mênh mang, xa vắng; cái buồn tàn tạ, thê lương hay đau đớn, quằn quại; cái buồn mơ hồ, không duyên cớ; cái buồn giữa cuộc đời tẻ nhạt nhưng cũng có thể là cái buồn ngay ở những phút giây tưởng chừng hạnh phúc nhất của đời người…

Thơ mới thể hiện nỗi buồn một cách trực tiếp:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

(Chiều – Xuân Diệu)

hay:

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn

(Buồn đêm mưa – Huy Cận)

Buồn, cô đơn là tâm trạng riêng lẻ của một cá nhân nhưng lại là nét chung của các nhà thơ mới. Cái buồn thấm sâu vào từng trang viết và quan niệm thẩm mỹ của thi nhân bởi “cô độc là bệnh của chủ nghĩa lãng mạn”[4]. Octavio Paz – người từng đoạt giải Nobel Văn học cho rằng “cái cô đơn là đặc trưng cuối cùng của thân phận con người” và “con người là sinh vật duy nhất cảm thấy mình đơn côi”.

Cảm giác buồn chán, cô đơn là mặt trái của việc đề cao cá nhân

Thơ mới mang màu sắc của cái tôi cá nhân độc đáo, thể hiện nhu cầu giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân; song cũng phảng phất nỗi buồn. Các nhà thơ cảm thấy bế tắc, không lối thoát. “Thơ mới vừa cất tiếng chào đời đã buồn ngay trong bản chất”[5], sự cô đơn và nỗi buồn được coi như “một thứ tâm bệnh của thời đại”. Mặc dù vậy, các nhà thơ cảm thấy kiêu hãnh với nỗi cô đơn đó và luôn mang trong mình một khát vọng vắng mặt, đó là khát vọng đuổi theo những thứ mơ hồ, viển vông, thể hiện trạng thái không hài lòng, không thỏa mãn với hiện tại. Có thể nói, nỗi buồn da diết và chất chứa trong Thơ mới xuất phát từ bản chất cô đơn của người nghệ sĩ – đó là nỗi buồn vĩnh cửu – khi những cảm xúc tinh thần không tìm thấy tri âm tri kỷ để đồng điệu, sẻ chia. Cái buồn đã thấm sâu vào quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ. Theo Huy Cận, “cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”. Với các nhà thơ mới, dù là trong tình yêu hay cuộc sống, không phải cái gì đủ đầy, trọn vẹn cũng đẹp và vui:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở

(Ngập ngừng – Hồ Dzếnh)

Thi nhân không tìm thấy sự giao cảm với cuộc đời. “Họ cảm thấy bơ vơ lạc lõng giữa lòng nhân loại, không tìm thấy niềm thân mật giữa cõi đời”[3].

Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối

(Khi chiều giăng lưới – Xuân Diệu)

Từ cái buồn sẵn có trong mình, các thi nhân dễ dàng bộc lộ cái tôi. Dường như trước sự biến suy của xã hội cùng ảnh hưởng văn hóa phương Tây, cái tôi trong Thơ mới bấy lâu dồn nén chợt vỡ òa. Các nhà thơ mới đều có ý thức khẳng định mình như một thực thể duy nhất không lặp lại. Với Xuân Diệu, sự tồn tại của cái tôi mang một ý nghĩa tuyệt đối. Khi buồn càng lớn, sầu càng nặng, nỗi cô đơn càng cao, cái tôi tự khẳng định mình:

Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng ta

(Hy Mã Lạp Sơn – Xuân Diệu)

Và ước mơ, khát vọng vượt lên trên thực tại:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!

(Giục giã – Xuân Diệu)

Buồn là một cách để phủ định, khước từ và phê phán thực tại

Nỗi buồn Thơ mới là kết quả từ sự tác động của hiện thực khách quan, khi cái tôi lý tưởng va đập thực tế nghiệt ngã của thời đại, các nhà thơ dường như mất phương hướng, mất chỗ bấu víu nên đành gửi tâm tư vào thơ. Và những vần thơ ấy rất buồn, nỗi buồn bàng bạc mà kéo dài, đôi khi khiến cõi lòng chông chênh và trống rỗng. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh viết: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận. Cả trời thực trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta. Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế”[2]. Cái tôi trong Thơ mới trộn vào nhiều nẻo khác nhau với nhiều màu sắc phức tạp, nhưng ở đâu cũng buồn, cô đơn, bế tắc và không lối thoát. Đó là nỗi buồn mênh mông, xa vắng. Thơ mới là dàn đồng ca đa điệu sầu, những nỗi sầu muôn năm vạn kỷ. Nỗi buồn trong Thơ mới là nỗi buồn nhân thế, khi cái tôi đối diện với toàn cõi nhân gian, nhận ra tình trạng lênh đênh phù du của kiếp người và biết mình chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi. Ta bắt gặp nỗi buồn hoài cổ trong Tràng Giang của Huy Cận:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Cuộc đời dường như chìm trong vô tận nỗi sầu, tất cả chỉ là hư vô, mọi thứ chẳng bền lâu và không có nghĩa lý gì, như cái tựa tập thơ Điêu tàn.

Trời hỡi trời hôm nay ta chán hết

Những sắc màu hình ảnh của trần gian

(Tạo lập – Chế Lan Viên)

Chế Lan Viên lạc trong thế giới siêu hình, thần bí, băn khoăn nghi ngờ bản thể và tìm đến một nơi giá lạnh để trốn tránh nỗi cô đơn:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu phiền đau khổ với buồn lo

(Những sợi tơ lòng – Chế Lan Viên)

Khi cuộc đời “không ngoài nghĩa khổ đau” thì dù mùa xuân có đẹp đến mấy cũng không làm cho tâm hồn nhà thơ bớt cô đơn, quằn quại:

Tôi có chờ đâu có đợi đâu?

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu

Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

(Xuân – Chế Lan Viên)

Trong cái thời đại mà theo Bi-ê-lin-xki thì “mọi cái cũ đã phá đi và chưa có chút gì mới để thay thế, con người chỉ là cái khả năng của một cái gì sẽ có thật trong tương lai và là một ảo ảnh trong thực tại”, các nhà thơ thấy bơ vơ, lạc lõng:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

Một đôi người u uất nỗi chơ vơ

Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa

Bị quê hương ruồng bỏ giống loài khinh

(Phương xa – Vũ Hoàng Chương)

Cái tôi khi đối diện với bản ngã đã nảy sinh mâu thuẫn với chính mình, cho rằng bản thân là kẻ thất bại, tình duyên lỡ làng, sự nghiệp dở dang:

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Em đi dang dở đời sương gió

Chị ở vuông tròn phận lãnh cung

          (Xuân tha hương – Nguyễn Bính)

Trong thơ Xuân Diệu, cảm thức về thời gian đã trở thành nỗi ám ảnh. Xuân Diệu ham sống, say sống là thế nhưng vẫn buồn. Từ cái buồn vẩn vơ, vô cớ:

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì

(Thơ duyên – Xuân Diệu)

đến cái buồn bởi tình yêu đã hết:

Anh một mình nghe tất cả buổi chiều

Vào chầm chậm ở trong hồn quạnh hiu

(Tương tư chiều – Xuân Diệu)

và cái cô đơn, lạnh lẽo đến thê lương:

Bốn bề ánh bạc: biển pha lê

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề

Sương bạc buồn thinh, khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê

            (Nguyệt cầm – Xuân Diệu)

Thơ Xuân Diệu man mác buồn, dù đó là nỗi buồn thoáng qua, trong khoảnh khắc, không triền miên, không thê lương, không tuyệt vọng:

Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều

Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn

(Chiều – Xuân Diệu)

Ngay cả tình yêu cũng không xóa nổi nỗi đơn côi:

Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá

Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ

(Trăng – Xuân Diệu)

Và tột đỉnh của sự cô đơn là lúc tự mình phải đối diện với chính mình:

Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn

Chớ để riêng em phải gặp lòng em

(Lời kỹ nữ – Xuân Diệu)

Huy Cận “bước tới thi đàn bằng một tâm hồn đa cảm, đa sầu (…) mang đến phong trào Thơ mới những vần thơ buồn bã, ảo não bậc nhất. Buồn bã, cô đơn là tâm trạng chung của các nhà thơ mới nhưng không có nhà thơ nào buồn nhiều, buồn sâu, buồn thấm như Huy Cận”[6]. Đó là nỗi buồn tràn lan khắp vũ trụ:

Than ôi! Trời đẹp nhưng trời buồn

Như cảnh tươi màu rạp cải lương

Tôi đội tang đen cùng mũ trắng,

Ra đi không hẹn ở trên đường.

(Giấc ngủ chiều – Huy Cận)

Huy Cận cũng giống như các nhà thơ lãng mạn cùng thời, cảm nhận rất rõ nỗi buồn thế hệ – nỗi buồn của những con người bị mất thiên đường, bị cuộc đời thờ ơ, lạnh nhạt. Nhà thơ ý thức sâu sắc về cá nhân và thế giới nội tâm của mình, nên càng hiểu nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời đầy gió bụi. Không tìm được niềm giao cảm, thi nhân hụt hẫng, thất vọng:

Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán

Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh

(Trình bày – Huy Cận)

Nỗi buồn ấy thấm đẫm cả không gian, kéo dài từ quá khứ đến hiện tại. Sầu muộn, buồn bã như đọng lại thành giọt làm nặng lòng nhà thơ:

Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm

Gió trăng ơi! Nay còn nhớ người chăng?

Hơn một lần chàng đã gởi cho trăng

Nỗi hiu quạnh của hồn buồn không cớ.

(Mai sau – Huy Cận)

Hoài Chân viết: “Ở Huy Cận, ta không thấy những khát khao âm ỉ, nồng nàn như Xuân Diệu, không thấy sự mộc mạc, quê mùa như Nguyễn Bính, không thấy cái buồn ủy mị, trụy lạc như Vũ Hoàng Chương và cũng không thấy cái buồn nhẹ nhàng, vơ vẩn như Lưu Trọng Lư” [4]. Đối với Huy Cận, nỗi buồn không chỉ hiển hiện trong nội tâm mà có thể tìm thấy, nghe thấy ở tất cả mọi nơi. Nỗi buồn kết thành những giọt sầu và khi đi vào thơ Huy Cận thì lắng đọng hồn người:

Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán

Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh

(Trình bày – Huy Cận)

Mộng đẹp vỡ tan, nhà thơ buồn, lắng nghe nhịp đời trải dài theo năm tháng:

Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm bể

Suốt một đời như núi đứng riêng tây

Lòng chàng xưa chốn nọ với nơi này

Đây hay đó chỉ dựng chòi cô độc

(Mai sau – Huy Cận)

Trong bài Tâm sự, nhà thơ bày tỏ:

Một buổi xưa kia phòng vắng bạn

Đó ngày quen biết với cô đơn

Vì cô độc giữa cuộc đời nên Huy Cận mang nỗi sầu trĩu nặng, mênh mang với những suy tư, khắc khoải. Đó là nỗi buồn của một cá nhân cảm thấy tâm hồn không còn được bình an, không còn thấy sự hài hòa giữa thiên nhiên và vũ trụ. Đó là “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” trong Tràng Giang hay “Muôn sao bàng bạc sầu nhân gian” trong Hồn xa. Đó còn là cái buồn thiên cổ xa xăm tự ngàn xưa:

Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu

                    (Ê chề – Huy Cận)

hay

Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về

(Chiều xưa)

Hồn thơ Huy Cận lẻ loi, đơn độc:

Trời! Ảo não những chiều buồn Hà Nội

Hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu

      (Trò chuyện – Huy Cận)

Thơ Hàn Mặc Tử là hành trình của đau thương, bắt nguồn từ sự chia ly:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

          (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử)

Càng về sau, nỗi buồn càng trở nên tuyệt vọng:

Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra

               (Say trăng – Hàn Mặc Tử)

Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng kêu thống thiết từ sâu thẳm tâm hồn. Ta bắt gặp một cái tôi mê dại, não nề, cô độc đến trống rỗng, khát thèm đến đê mê trong thú đau thương. Cái tôi ấy đắm mình trong day dứt; xa đời, xa người và xem thế giới ảo mộng là người tình.

Nguyễn Bính – người tự nhận mình là “kiếp con chim lìa đàn” lại mang nỗi sầu bi của một cái tôi lỡ dở trong biến thiên cuộc đời, thất vọng giữa phố thị:

Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang

Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng

Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị

Tôi đã về đây rất vội vàng

        (Sao chẳng về đây – Nguyễn Bính)

Cái tôi ấy trôi dạt trong mộng tưởng, tìm về quá khứ. Nhưng con đường về với “chân quê” lại xa xăm, mờ mịt:

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

                 (Tương tư – Nguyễn Bính)

Nỗi buồn trong thơ Thế Lữ lại là sự bất lực trước thời cuộc, là nỗi hận của chúa sơn lâm bị tù hãm: “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Thế Lữ buồn cả khi đã được thoát lên tiên, Tiếng sáo thiên thai dội vào lòng nhà thơ:

Tiếng đưa hiu hắt bên lòng

Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn!

Chế Lan Viên có “nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời”; Lưu Trọng Lư “lịm người trong thú đau thương” nhưng cũng buồn nhẹ thanh trong Tiếng thu; Thâm Tâm xoáy sâu vào nỗi buồn ly biệt:

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

                    (Tống biệt hành – Thâm Tâm)

Mỗi nhà thơ mang một nét buồn riêng, nhưng tất cả hợp lại thành nỗi buồn Thơ mới. Đó không còn là nỗi buồn riêng tư, mà đã trở thành cái bệnh của thời đại, như Xuân Diệu chia sẻ: “Nỗi buồn đó vốn là nỗi buồn chung của con người, bọn thi sĩ chúng tôi nhẹ lòng nhẹ dạ nên lĩnh mang giùm tất cả cho nhân gian”. Cái buồn trong Thơ mới đẹp, thanh khiết và tích cực vì đó là cái buồn của những tâm hồn chưa khô héo, chưa lãnh đạm, thờ ơ với thời cuộc. Các nhà thơ đã gửi thông điệp về sự hòa nhập giữa nỗi buồn, sự cô đơn của cá nhân nhỏ bé trước cuộc đời. Xuân Diệu khẳng định: “Chúng tôi cũng bơ vơ, mỗi hồn người là một cõi bơ vơ trong đất trời là một khung bơ vơ; chúng ta đồng một bơ vơ với nhau, vậy thì người cũng bớt bơ vơ một chút”. Thơ mới là dàn đồng ca điệu sầu, với Huy Cận khắc khoải không gian, Xuân Diệu ám ảnh thời gian, Hàn Mặc Tử đau đời, Nguyễn Bính u uất và hoài cổ, Thâm Tâm ấp ủ mộng ly khách ra đi không về… Tất cả làm nên giọng buồn đặc trưng của thơ lãng mạn Việt Nam 1932-1945.

HÀ THY LINH

Tài liệu tham khảo:

  1. Chế Diễm Trâm, Nỗi buồn trong Thơ mới.
  2. Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, 1999.
  3. Phan Cự Đệ – Trần Đình Hượu, Văn học Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo dục, 2005.
  4. Hoài Chân, Nhìn lại phong trào Thơ mới.
  5. Nguyễn Thị Thu Hằng, Thơ lãng mạn thường thấm đượm nỗi buồn.
  6. Trần Khánh Thành – Lê Dục Tú, Huy Cận về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2003.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *