Tiếng vọng ngày xanh – Truyện dài của Huỳnh Văn Quốc – Kỳ 2

Vanvn- Những ngày chờ đợi kết quả thi cứ như kéo dài ra. Chúng tôi thỉnh thoảng lại rủ nhau đi xem điểm, lần nào đi cũng chỉ thấy sân trường vắng tanh, chưa dán yết. Thời gian trông chờ càng lâu, tư tưởng tôi càng biến đổi liên tục. Lúc mới thi về, tôi vẫn an tâm về bài làm của mình, đầu óc rất thanh thản. Khi đã qua nửa tháng rồi mà chẳng có tin tức, tôi lại đâm lo, nghĩ hôm đó mình làm thiếu chỗ này nhầm chỗ nọ, rồi gạch xóa lung tung, nếu gặp giám khảo khó tính họ không thèm đọc thì rớt là cái chắc!

Nhà văn Huỳnh Văn Quốc ở Phú Yên

Chuyên đề Văn học thiếu nhi:

>> Chú gà trống mộng du – Truyện ngắn thiếu nhi của Lê Quang Trạng

>> Chùm thơ thiếu nhi của Khang Quốc Ngọc

>> A Hào – Truyện ngắn thiếu nhi của Lý Thị Thủy

>> Những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của văn học thiếu nhi

>> Những con sao biển: Bài học về tình yêu thương

>> Chùm thơ thiếu nhi của Lê Nguyên Khôi

>> Tiếng vọng ngày xanh – Truyện dài của Huỳnh Văn Quốc – Kỳ 1

>> Phát huy sức mạnh giáo dục nhân cách cho trẻ bằng Văn học thiếu nhi

>> Chùm thơ thiếu nhi của Lê Hưng Tiến

>> Chàng thợ gốm – Truyện thiếu nhi của Trần Thu Hằng – Kỳ 4

>> Nhà văn Vũ Tú Nam và chuyện “Văn Ngan tướng công”

 

Chương XIV:

Mùa thi

 

Một hôm thằng Chạm thì thầm hỏi tôi:

– Quyết à, nhà mày gần nhà Hồng Vân không?

– Nhà nó ở xóm trên, nhà tao xóm dưới, cũng không gần gì mấy. Mà mày hỏi làm gì vậy?

Thằng Chạm lại thầm thì, vẻ mặt vừa hào hứng vừa ngượng ngập:

– Mày không thấy nó đẹp gái à?

Tôi ngớ ra. Ừ nhỉ! Mới đó mà nhanh thật. Chúng tôi đã sắp hết tuổi thiếu niên, có đứa đủ tuổi đã được kết nạp vào Đoàn thanh niên. Tôi cũng đang là đối tượng Đoàn, sẽ được kết nạp trước kì thi tốt nghiệp cấp II, thầy Cư chủ nhiệm lớp cũng là Bí thư Đoàn trường bảo vậy. Nay đang là những tháng cuối cùng của năm học lớp 9, con trai con gái trong lớp đều quan tâm tới nhau hơn, không còn mắc cỡ ngại ngùng như trước nữa. Nhiều đứa “trưởng thành” sớm, tối không lo học mà đã lo đến nhà bạn gái “tán tỉnh”, có thể bạn học cùng lớp, có thể bạn ở ngoài. Có lẽ tôi là thằng “lạc hậu” nhất nên vẫn còn tính trẻ con như ngày nào, chỉ biết có sách vở. Thằng Chạm nài nỉ tôi:

– Tối nay mình đến nhà cậu, cậu dẫn mình tới nhà Hồng Vân chơi nhen!

Tôi giãy nảy:

– Sao không đi ban ngày?

– Mình còn phải làm giúp cha mình.

– Vậy thì cậu đi một mình. Ban đêm mình ớn lắm.

Thằng Chạm xuống giọng:

– Nếu nhà khác mình đi một mình cũng được, nhưng nhà Hồng Vân mình ngại lắm!

Tôi cười:

– Sao? Ngại mà cũng đòi đi?

– Nhưng vì Hồng Vân đẹp gái, mình lại cứ muốn đến nhà chơi.

Tôi nói cho xong chuyện:

– Vậy thì còn ngại gì nữa. Cứ “liều mình như chẳng có” là xong thôi.

Chạm lại bần thần:

– Nói thật với Quyết, mình còn ngại mấy chiếc roi cày của cha Hồng Vân lắm. Không biết ông còn nhớ mặt mình không?

Tôi bật cười:

– Cậu thật là… Sáu bảy năm rồi, cậu đã lớn nhiều mà vẫn chưa quên mấy chiếc roi cày hồi nhỏ sao? Theo mình, cha của Hồng Vân quên từ lâu rồi, người lớn hay quên chuyện trẻ con lắm. Cậu chưa phải người lớn, vậy mà bày đặt…

Chạm cười ngượng ngập:

– Nghĩ lại hồi đó mình bị Hồng Vân đánh đau quá nên phát cáu. Chớ nếu bây giờ, Hồng Vân có đánh mình một trăm roi chắc cũng chẳng thấy đau!

Tôi làm ra vẻ hiểu biết, lắc đầu:

– Cậu bị hớp hồn rồi!

Chạm cười vu vơ, tôi tiếp:

– Xem ra cậu rảnh thật đấy! Con gái học giỏi, nó lên mặt lắm, cậu đừng có tơ tưởng! Kỳ thi tới nơi rồi, dứt tốt nghiệp cấp II là tiếp tới chuyển cấp lên lớp mười. Kỳ thi nào cũng găng cả, vậy mà cậu không lo, còn lo cha của Hồng Vân có nhớ mặt mình không!

Chạm xua tay:

– Cậu nói giống thầy Cư quá. Nhưng nói thật, mình chán học lắm rồi, tốt nghiệp lớp 9 sợ còn chưa được, nói gì lên lớp 10. Cha mình đã sắm sẵn bộ đồ nghề thợ mộc, chờ mãn năm học mình sẽ ở nhà để lo làm ăn. Sau đó cưới vợ, vậy là xong.

Có lẽ Chạm nói cũng đúng. Trong lớp hiện giờ đang chia thành hai hướng. Một hướng đợi tốt nghiệp xong sẽ xin học các lớp Trung cấp chuyên nghiệp để ra đi làm, nếu rớt ở nhà làm thợ. Còn hướng kia cứ theo lên học cấp III, tuy nhiên còn phải đợi kết quả thi, có đứa còn quả quyết nếu thi rớt, năm sau sẽ lại tiếp tục thi lớp mười, không đổi hướng! Tôi thì không dám nghĩ đến sự kiên trì như vậy, chỉ thầm quyết tâm sẽ đậu ngay đợt này, chứ nếu thi rớt, việc học sẽ bị “mất trớn” ngay, chắc gì năm sau đã đủ khí thế để thi đậu! Hơn nữa nhà tôi cũng đâu thuộc diện nằm dài ra mà học. Phải làm! Mẹ tôi hứa: “Nếu thi đậu, nhà dẫu nghèo, mẹ cũng cố cho con ăn học. Thà nghèo tiền bạc chứ đừng để nghèo kiến thức, cha con nói rồi”. Tôi chỉ là một học sinh học tập rất ngẫu hứng, nói như ngôn ngữ thể thao là “phong độ” không ổn định! Khi hứng lên, tôi học rất khá, cứ lấy lớp phó học tập làm chuẩncó khi tôi gần “soán ngôi” chứ không ít. Thầy cô và bạn bè đều nhìn tôi với đôi mắt tin tưởng, thường ngầm xếp vào loại “top ten” của lớp!

Nhưng chỉ được một thời gian là tôi lại lơ là, về nhà không bao giờ ngó ngàng đến sách vở, ngoài việc làm giúp mẹ, cứ hễ rảnh ra là kiếm sách truyện hoặc những sách ngoài chương trình về đọc, rồi lại đi chơi! Kết quả nhiều môn tôi gần như bị “mất căn bản”. Những thầy cô tin tưởng quí mến tôi nhất, có lúc đã buộc phải phê vào sổ liên lạc: “Kết quả học tập đi xuống trầm trọng. Học hành như thế à?”. Thông thường ở các lớp, cứ nửa năm đầu tôi học khá, nửa năm sau bắt đầu ỷ lại nên lơ là, tuột dốc lúc nào không hay. Kết quả cuối năm bao giờ tôi cũng chỉ được xếp loại học tập trung bình khá. Vậy nhưng nhiều khi thi đố vui để học giữa các trường, hoặc thi học sinh giỏi, bao giờ tôi cũng được chọn vào đội tuyển của trường. Tôi chỉ học giỏi các môn xã hội, còn môn tự nhiên chỉ rớ tới mỗi khi phải đối phó với kì thi. Những môn tự nhiên, khi tôi đã để mắt đến rồi thì học cũng đâu đến nỗi. Tôi không học tủ, nhưng kết quả thi của những môn này bao giờ cũng cao điểm vào hàng nhất nhì lớp. Còn môn văn là môn tôi đam mê, tuy cao nhất so với lớp nhưng điểm đạt vẫn thấp hơn những môn này! Những lúc ấy tôi thấy học toán-lí-hóa sướng hơn học văn nhiều, nhưng vì tôi không chăm nên kết quả trung bình cả năm vẫn thấp, vẫn bị lệch so với môn văn. Giá như tôi không đợi “nước tới chân mới nhảy”, mà học các môn này ngay từ đầu nhỉ? Một sự nuối tiếc muộn màng gây nên cảm giác hụt hẫng trong lòng tôi. Tôi giận mình đâu phải là thằng không có khả năng, vậy mà bao nhiêu năm vẫn cứ học lệch, ngẫu hứng, tuy cũng được thầy khen bạn mến nhưng chưa bao giờ có được một suất phần thưởng cuối năm mang về cho mẹ mừng cả! Bao nhiêu lần nuối tiếc là bấy nhiêu lần tôi tự hứa sẽ khắc phục từ đầu, vậy nhưng rồi lại bị “nguội” quyết tâm sau ba tháng hè, khi bước sang năm học mới vẫn cứ lặp lại sai lầm cũ! Chiến thắng bản thân thật khó.

Tranh của họa sĩ Lê Trần Thanh Thủy

Năm học lớp 9 đã sắp qua rồi, hai kì thi quyết định sắp tới rồi, vậy mà tôi vẫn bỏ bê sách vở, mãi đến lúc này nghe mẹ nhắc lời cha “thà nghèo tiền bạc chớ đừng nghèo kiến thức”, tôi mới vắt chân lên cổ mà chạy! Kiến thức thì nhiều mà thời gian lại ít, đêm đêm tôi thức đến hai ba giờ sáng, tức là phải học bù lại những ngày không chịu học. Chẳng có gì phải kêu ca, cho chừa mày đi, Quyết ạ! Tôi tự rủa sả mình như vậy. Bốn môn thi, hai tự nhiên, hai xã hội, học gấp gáp trong vòng một tháng. Tôi chia ra mỗi tuần phải “đánh” bay một môn. Thời gian đã eo hẹp mà những đứa ỷ học từ sớm rồi nên cứ tới nhà tìm tôi, ngồi chơi hàng buổi. Tôi không biết làm cách nào, không chơi với nó thì mất lòng, mà chơi thì mất thời gian, làm sao học kịp chương trình? Anh Hai góp ý: “Dễ ợt! Em cứ ôm sách vở lên chùa ông mình mà học, vừa yên tĩnh vừa khỏi bị bạn bè phát hiện quấy rầy”. Mẹ tôi giục ngay: “Phải đấy, lên chùa học cho Trời Phật phù hộ, thi dễ đậu. Ngày xưa, cô giáo Lý ở làng này cũng đã ôn bài vở hàng tháng ở chùa mới thi đậu Tú tài đấy”. Chuyện này thì tôi có nghe. Lúc ấy ở làng hiếm người học lắm, không như bây giờ, học lên Tú tài càng hiếm, cho nên trai tráng thời kỳ ấy mới có câu: “Rớt Tú tài anh đi trung sĩ” kia mà! Nhưng Tú tài cũng đâu có dễ đậu. Đó là cô Lý bây giờ đang dạy trường làng, và anh Trương mất đã lâu. Hai người yêu nhau, rủ nhau cùng đến chùa học cho Trời Phật phù hộ như lời mẹ tôi nói, sau khi thi đậu sẽ lấy nhau. Đến kì thi, chỉ một mình cô Lý đậu, còn anh Trương bị rớt. Anh buồn bã suốt mấy ngày và đã tìm đến cái chết. Dân làng ai cũng cảm thương anh, chép miệng thở dài: “Thua keo này bày keo khác, việc gì phải lụy đến thân”.

Chùa làng được xây trên một khu đất cao biệt lập với xóm làng, quanh năm thoáng mát. Vì có ông tôi (bên ngoại) trụ trì ở đây nên tôi thường lui tới. Ngôi chùa đối với tuổi thơ tôi có gì như vừa bí hiểm vừa xa lạ. Những hàng chữ Hán cùng với các hình vẽ ông Thiện ông Ác đã một thời làm tôi tò mò và e ngại. Bây giờ thì tôi không còn cảm giác ấy nữa. Tôi thấy như các ông đang chào tôi, vui mừng khi thấy tôi đến, vì ở đây vắng vẻ quá! Chỉ những hôm rằm và mùng một đầu tháng âm lịch, chùa mới đông người cúng bái, còn thì chỉ mình ông tôi sớm khuya tụng kinh gõ mõ. Thấy tôi đến học, ông vui vẻ bảo:

– Ở đây tha hồ cho con học. Nếu ăn cơm chay được thì trưa ở lại ăn với ông, khỏi phải về mệt.

Ở với ông, phải nói là thoải mái thật. Tuy đạm bạc đơn sơ nhưng phóng khoáng vô cùng. Buổi trưa ăn cơm, tuy không mặn mà như ở nhà, nhưng mọi thứ đều rất thơm tho, tinh khiết. Hèn chi không bao giờ tôi thấy ông bị bệnh. Chiếc nồi đồng ôm thắt eo ngang hông như hình củ tỏi, ông dùng để nấu cơm. Gạo lức nấu nồi đồng ôm ăn với muối mè, tuy không phải cao lương mĩ vị gì nhưng ăn mãi không chán. Những miếng cháy ở quanh hông nồi, vàng ruộm, ăn rất thơm miệng. Chỉ có nấu nồi đồng ôm, cơm mới thơm tho đậm đà như vậy. Tôi như được ăn hạt cơm khác mà từ trước đến giờ chưa được nếm qua. Ở quanh vườn chùa, rau nấu canh mọc nhiều, ông tôi thường hái rau dền làm món chính. Rau dền tía nấu canh, nước đỏ như khoai tím, ăn rất thơm. Những bữa cơm trưa ăn cùng ông, món ăn đơn sơ mà tôi thấy ngon miệng lạ! Thỉnh thoảng ông lại dạy tôi dăm ba chữ Hán nói về đạo đức. Tôi nắn nót viết vào sổ tay, thấy trang trọng vô cùng.

Ban ngày tôi học ôn ở chùa, ban đêm về nhà thức nhồi bài đến khuya, quay đi quay lại đã hết veo thời gian. Vậy nhưng tôi cũng đã gạo bài “cạn kiệt” những điều trong sách, không còn phải lo lắng gì nữa. Tôi bước vào phòng thi tốt nghiệp cấp II với tâm lí hết sức thoải mái, tự tin. Kết quả điểm số tôi rất cao, môn nào cũng đạt 9 điểm, đứng thứ nhì sau đứa đậu thủ khoa có môn toán đạt mười điểm. Vậy nhưng khi cộng điểm học tập cả năm, kỳ thi này tôi điểm cao nhưng vẫn chỉ xếp loại trung bình! Lặp lại bài học cũ rích nhưng khó sửa! Giá như ngay từ đầu năm tôi đã học cực lực như kì thi này thì kết quả xếp loại chắc chắn sẽ ở hàng đầu. Chỉ tại vẫn chứng nào tật nấy, cứ đợi “nước đến chân mới nhảy”!

Nỗi buồn “xếp hạng” cũng chỉ thoáng qua, tôi lại vùi đầu vào chặng ôn thi chuyển cấp. Đang trong khí thế của đợt thi tốt nghiệp đậu cao tôi “thừa thắng xông lên”, học rất nhanh. Thằng Dự học cùng lớp vốn là anh em con cô con cậu với tôi, đã không hăng hái lại còn gieo tư tưởng bi quan:

– Nói thiệt với anh Quyết, chỉ có anh em mình nghèo mới phải cắm đầu cắm cổ học mà còn lo ngay ngáy như vầy. Chớ tụi nhà khá, nó có học hành gì đâu, nhưng chưa thi đã biết đậu rồi đấy!

– Sao lạ vậy?

– Lạ gì mà lạ! Người ta đút tiền vào các cửa, làm gì mà con em họ chẳng đậu. Trong khi vào lớp 10 đâu phải cứ xét từ năm điểm trở lên là đậu như thi tốt nghiệp. Phải cạnh tranh, như vậy ai có tiền là cạnh tranh mạnh chớ sao!

Chuyện hối lộ và gian lận trong thi cử, tôi đã nghe nhiều rồi. Lúc này lại nghe thằng Dự tâm sự, tôi không khỏi ăn khoăn:

– Chẳng lẽ bài thi không làm được câu nào, vẫn cứ có tiền đút lót là đậu à?

Dự ra vẻ sành sỏi:

– Anh chỉ biết học chớ chưa biết mánh khóe của thiên hạ đâu. Thiếu gì cách họ phù phép cho hơp lí! Nói anh biết, nhà thằng Tiêu cũng đang “chạy” cho nó vào lớp mười đấy. Hồi chị nó cũng “chạy” theo kiểu ấy mà tốt nghiệp được lớp mười hai. Có hai người trùng tên, vậy là bài điểm cao được đánh tráo tên cho chị nó. Còn người kia bị rớt, ức quá chút xíu nữa là tự tử, may mà can kịp.

Từ lâu thằng Dự vốn được coi là sành đời quả không sai. Nó giống như thằng Chạm, thứ gì cũng biết, duy chỉ có việc học là chểnh mảng. Tôi cũng chểnh mảng như nó nhưng khác nhau ở chỗ, cứ tới kì thi là tôi lập lại được “trật tự”. Còn nó thì “lập lại” không nổi, đành buông xuôi luôn. Nó nói chuyện tán tỉnh con gái rành hơn chuyện học, còn thằng Tiêu và thằng Chạm cũng vậy, cho nên bi quan về việc thi cử là phải. Vậy mà thằng Tiêu còn muốn học lên theo con đường tiêu cực, trong khi thằng Chạm và thằng Dự đã chuẩn bị sẵn cho mình một cái nghề. Tâm lí tôi vốn thoải mái, vậy mà nghe lời tính toán của thằng Dự, tôi cũng đâm lo lắng, ngán ngẩm. Chúng nó đã tính trước cả rồi, nếu thi rớt chuyển cấp sẽ ở nhà làm nghề này nghề nọ. Còn tôi lỡ thi rớt sẽ biết làm gì đây? Lo là ở chỗ đó!

Ngày đi thi, mẹ bảo anh Hai theo tôi để cổ vũ tinh thần. Tôi không chịu, nói để đi với bạn bè, cổ vũ lỡ rớt thì xấu hổ chết. Thằng Năm xóm dưới có lần tâm sự với tôi, lúc trước nó nhác việc nhà lắm, nhưng dạo này chuẩn bị đi thi, nhiều việc cha mẹ chưa bảo nó đã tự giác làm trước rất chu đáo. Nó bảo phải làm vậy để lỡ có thi rớt, cha mẹ sẽ nghĩ thương mà không nỡ rầy la. Thằng này quả là khôn khéo thật!

Thi cả ngày mà trường lại xa, mẹ và ông cho tiền ăn trưa. Tôi vốn ngại quán xá, cố ăn sáng thật no để thay cho bữa trưa, còn tiền sẽ mua sách mà đọc. Những lúc mải chơi tôi cũng đã quen nhịn như vậy rồi. Tính tôi rất lười ăn, không thấy đói trong những lúc đi xa. Vào phòng thi, tôi lầm lũi làm bài cho đến hết giờ, thấy đề khó, làm câu được câu không, rất khó đoán điểm. Nhiều đứa bỏ ra trước. Tôi cố “nhằn” cho hết các câu mới thôi. Lúc ra tới cổng trường, tôi đã thấy ngay anh Hai đứng chờ tự lúc nào! Câu đầu tiên anh hỏi:

– Sao em, làm bài được không?

Tôi dè dặt đáp:

– Vốn liếng bao nhiêu, em dốc ra cả, thấy cũng không đến nỗi bí lắm.

Anh thở phào:

– Vậy thì ổn rồi. Anh em mình tìm chỗ ngồi nghỉ để chiều em thi cho thoải mái.

Trường cấp ba này vốn cũng là trường quê mới dựng được vài năm, xung quanh hàng quán thưa thớt, hôm nay lại gặp học sinh chen chúc không đủ chỗ ngồi, phải đứng cả ra ngoài đường, vừa nhai bánh mì vừa bàn tán sôi nổi bài làm khi sáng. Có đứa vui vẻ ra mặt, có đứa rầu rĩ chẳng muốn tham gia. Hai anh em tôi không chen vào đấy. Anh Hai bảo tôi dắt xe đạp đi vòng ra sau cánh đồng, dọc theo con mương lớn có nhiều cây dương. Tới một nơi khá vắng vẻ, hai anh em ngồi xuống vệ cỏ bên gốc dương. Anh Hai lấy từ trong bọc giấy ra hai cuốn bánh tráng, vừa cười vừa nói:

– Mẹ biết em không ưa ăn quán, sợ nhịn đói làm bài không tốt, nên đã làm sẵn hai cuốn bánh bảo anh mang đi “tiếp tế” cho em.

Nhìn cuốn bánh to bằng bắp tay, tôi không hề có cảm giác đói chút nào. Lúc này tôi đâu còn muốn ăn, nhưng vẫn phải ăn với anh Hai cho vui lòng mẹ. Gió đồng mơn man thổi. Tôi cảm thấy thật thơ thới trước môn thi còn lại, chắc sẽ không phụ lòng mẹ và anh.

***

Những ngày chờ đợi kết quả thi cứ như kéo dài ra. Chúng tôi thỉnh thoảng lại rủ nhau đi xem điểm, lần nào đi cũng chỉ thấy sân trường vắng tanh, chưa dán yết. Thời gian trông chờ càng lâu, tư tưởng tôi càng biến đổi liên tục. Lúc mới thi về, tôi vẫn an tâm về bài làm của mình, đầu óc rất thanh thản. Khi đã qua nửa tháng rồi mà chẳng có tin tức, tôi lại đâm lo, nghĩ hôm đó mình làm thiếu chỗ này nhầm chỗ nọ, rồi gạch xóa lung tung, nếu gặp giám khảo khó tính họ không thèm đọc thì rớt là cái chắc! Càng nghĩ tôi càng thấy mất tự tin. Sao mà mung lung quá! Từ chỗ lạc quan, tôi dần dần cảm thấy bi quan, không còn niềm tin vào chính khả năng của mình nữa.

Giữa lúc tôi đã bắt đầu chán nản thì thằng Tiêu đến. Đâu khoảng chín mười giờ đêm, tôi đang ngủ vùi bỗng nghe tiếng gõ cửa thật mạnh:

– Quyết ơi! Quyết ơi! Có kết quả rồi.

Tôi vùng ngay dậy. Nhưng mẹ tôi còn nhanh hơn, hình như mấy đêm nay bà không ngủ được, bà bước lại mở cửa. Thằng Tiêu ào vào. Giọng nó hào hển nói:

– Đậu rồi! Đậu rồi! Làng mình có sáu đứa thi kì này, ông cao điểm nhất bọn đó!

Bao nhiêu phấp phỏng chờ đợi, bây giờ như vỡ òa ra. Tôi mừng đến phát run, hỏi rối tít:

– Vậy hả? Có thiệt không? Mà sao lại đêm hôm mới biết như vầy?

Có lẽ vui quá nên thằng Tiêu không giấu giếm:

– Nói thiệt, tôi định nhờ người quen xuống thị xã “chạy” giùm. Ông ta bảo kết quả đã công bố từ chiều, còn “chạy” gì được nữa! Tôi liền rủ mấy đứa xách hon-đa chạy lên trường. Thấy điểm tôi không cao nhưng cũng vừa đủ đậu, mừng quá trời. Nhìn sang điểm ông, thấy điểm cao gấp hai, tôi phấn khởi quá, về ghé nhà con bồ chơi một lát rồi vào đây báo trước cho ông mừng. Tôi chưa về nhà mà!

Lúc này trông thằng Tiêu thật đáng mến. Xởi lởi, nhiệt tình và thật lòng! Phần mình đã ổn rồi, tôi lại nghĩ đến những đứa khác, hỏi nó:

– Trong nhóm bạn bè gần đây, đứa nào cũng đậu hết chớ?

Thằng Tiêu chép miệng:

– Rớt nhiều! Thằng Dự nè, thằng Chạm nè, thằng Đinh nè… còn nhiều lắm, ngay cả con Hồng Vân cũng rớt còn nói chi ai!

Tôi cảm thấy một nỗi buồn man mác. Vậy là “tan đàn sẻ nghé” cả. Tội nghiệp thằng Dự em họ tôi, sao không cố lên một chút, chưa thi đã tính bỏ cuộc! Còn Hồng Vân, nghe đồn gia đình đã ưng thuận cho một đám đến hỏi, tính cưới “tảo hôn”, bây giờ với kết quả này thì rõ rồi! Những năm này, trường cấp ba còn khan hiếm quá, tỉ lệ đậu có khi một phải chọi mười. Thi vào lớp 10 sao mà cơ cực! Tôi mừng cho tôi nhưng vẫn thấy buồn cho những bạn bè khác, rớt rồi thì mỗi đứa một cảnh. Giá như có nhiều trường để việc thi bớt ngặt, bạn bè tôi cùng được vào học hết thì hay biết bao nhiêu.

HUỲNH VĂN QUỐC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.