Thông diễn “Những trang sách thức tỉnh con người” của Nguyễn Khắc Phê

Vanvn- Khởi đầu trang sách, nhà văn dòng Nguyễn Khắc, xuất thân con nhà nho khoa bảng đất Hương Sơn đã khiêm nhường và ngại – rất ngại, xếp mình vào giới lý luận phê bình… phê bình hạng nhất. Vì lẽ đó, Nguyễn Khắc Phê tự nhận chỉ là người “Phê bình ngoại hạng”; hiểu như cái Tâm của ông đạt đến “huyền đồng” của một con người tuổi ngoài tám mươi, từng trải qua bao cuộc đầy vơi sơn trường, nghiệt ngã…; với mười lăm năm trên những cung đường, những cây cầu bắc qua sông suối nơi tuyến lửa – nhất là tuyến lửa miền Tây Quảng Bình –  đẫm máu và nước mắt; với chín lần đội bom đạn, chìm đò, lật xe… tưởng rằng ông đã chết, tuy không chết nhưng nhà văn họ Nguyễn cũng đã gửi lại nơi cung đường ấy một trong hai “cửa sổ tâm hồn” mà người mẹ đã ban cho lúc ông cất tiếng khóc chào đời bên dòng Hương giang.

Với “Đời văn, đời báo của ông là số phận không định trước”(Nguyễn Khắc Phê) – rõ là không định trước – vậy mà ông, hơn một đời người (nếu một đời người là một nguơn đời sáu mươi năm) mê đọc sách, mải viết tính đến hôm nay đã có ngàn bài báo, hai chục rưỡi đầu sách đủ thể loại và ông, vẫn còn tiếp tục cuộc hành trình của số phận không định trước đời văn đời báo! Rồi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê tự bạch, rằng: “Cuốn này xin được ghi thể loại là “Phê bình ngoại hạng” cho vui và nếu bị chê, sẽ không lây tiếng xấu đến các nhà phê bình chính danh”(tr.6).

Tập phê bình ngoại hạng Những trang sách thức tỉnh con người, tập hợp 48 bài viết của nhà văn Nguyễn Khắc Phê (Nhà xuất bản Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022),  khiến người đọc thao thức, trăn trở và suy ngẫm “Một văn bản (text) không chỉ nói lên một ý nghĩa, mà còn diễn tả cả một lối suy tư, một cuộc sống, một lịch sử tương quan với những lịch sử khác, lối suy tư khác cũng như những cách sống khác”[1].

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

1. Kiến giải nghịch lý

Đời đầy rẫy những nghịch lý, nhiều và phổ biến nghịch lý tới mức: nghịch lý hiện hữu một cách hợp lý giữa đời. Do đâu? Giữa ta và người, giữa riêng và chung, giữa xưa và nay, giữa trong và ngoài, giữa chủ và khách, giữa nhất nguyên, nhị nguyên và đa nguyên, … cuộc sống muôn vàn khác biệt. “Bất cứ một sự hiểu biết nào cũng có những mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa những cái nhìn chung (khách quan), và cái nhìn riêng rẽ của chủ thể, tức chính lối sống (existential) của mỗi người”[2]. Có bấy nhiêu khác biệt là có bấy nhiêu nghịch dị! Đọc và viết trường hợp Nguyễn Khắc Phê không chỉ chia sẻ, giải bày mà còn kiến giải những nghịch lý như thế (trong phạm vi chữ nghĩa, đánh động đến đời sống văn hóa, xã hội, lịch sử, …). Cách tiếp nhận như vậy, có thể nói, cũng một cách truy vấn phi lý. Là “Cùng Lý” vậy!

Trong tâm tư Trần Đình Sử: “Nguyễn Khắc Phê là một nhà văn hết sức tâm huyết đối với số phận con người, với vận mệnh đất nước cũng như đối với sự tiến bộ của xã hội. Ngòi bút của anh không hề né tránh các vấn đề nhạy cảm của đất nước, đồng thời anh đã nêu các vấn đề đó một cách điềm tĩnh và rất chân thành. Cho nên ngôn ngữ của anh có sức thuyết phục và tôi nghĩ không những đối với tôi mà đối với xã hội cũng có sức thuyết phục như vậy”[3]. Quả thực, Nguyễn Khắc Phê thẳng thắn, sòng phẳng với cả đời sống xung quanh và với chính mình[4]. Ông không né tránh, không e ngại những vấn đề còn “lẩn khuất” nhất thời khó rạch ròi. Đời sống vốn dĩ vẫn luôn ẩn chứa những nghịch lý. Dù phán đoán thế nào cũng có thể ngã vào chỗ thiên lệch, chủ quan. Nhưng, hướng về phía tiến bộ xã hội, song hành với vận mệnh đất nước, có lẽ Nguyễn Khắc Phê đã kiến giải những nghịch lý (chí ít trong phạm vi chữ nghĩa) đến chỗ “thấu tình đạt lý”.

Chưa dám lạm bàn chỗ “cùng lý” của Nguyễn Khắc Phê, nhưng bạn đọc dễ dàng tìm thấy những đoạn chia sẻ, những dòng chữ trớ trêu, cay đắng, chua chát của số phận con người trong cuộc xoay vần trời đất quê hương. Đó cũng là những chia sẻ của ông khi bắt gặp trang hồi kỳ “Gánh gánh … gồng gồng … ”của Xuân Phượng. “Nửa thế kỷ sau tôi mới được biết ba tôi đã từ trần từ năm 1981 tại San Diego. Em trai thứ hai là đại tá không quân của quân đội Cộng Hòa tại Đà Nẵng, đã cùng gia đình vội vã rời Sài Gòn chỉ ba ngày trước khi tôi – lúc bấy giờ là phóng viên chiến trường – đang cùng đồng nghiệp vào quay phim Dinh Độc Lập sau ngày 30/4/1975..” […] Tháng 7 năm 1989, tôi gặp mje mình và các em tại sân bay Charles de Gaulle Paris. Gia đình đã bay từ Mỹ sang thăm vì tôi chưa có thị thực vào Mỹ. Chúng tôi cười cười khóc khóc trong niềm vui đoàn viên. Trong một bữa cơm trưa, bỗng mẹ tôi chống đũa nhìn tôi: “Con ơi, sao con theo họ làm chi, để gia đình ly tán, phải rời quê cha đất tổ, con ơi! Tiếng kêu thảng thốt tự đáy lòng của một người già ly hương làm mọi người chết lặng”(tr.178-179). Trớ trêu, nghịch cảnh giữa quốc nạn và gian biến, dường như chẳng riêng một ai. Cảnh nhà Xuân Phượng hay cảnh nhà của nhiều người dân Việt khác nữa, có lẽ, cũng chính là tình cảnh quê hương nói chung. Phải chăng, Nguyễn Khắc Phê cũng nhìn thấy chính mình trong nỗi day dứt khôn nguôi của Xuân Phượng.

Nghịch lý trong “Đất lạnh” thành “Đất vàng”, Nguyễn Khắc Phê lấy ‘cảm thông’ chia sẻ để sẻ chia với nghịch lý thời đại, với những đau thương trong mái gia đình. “Tác phẩm chủ yếu lấy bối cảnh một làng quê đồng bằng Bắc bộ, xoay quanh những thăng trầm của mẹ con bà Sửu và bác sĩ Thịnh, nhưng với thủ pháp hồi cố và hiện tại đan xen liên tục, câu chuyện lại mở rộng đến 2-3 thế hệ các gia đình nội-ngoại với đủ tầng lớp, với vô số màn kịch bi-hài trải qua nhiều biến động xã hội của đất nước suốt hơn nửa thế kỷ, nên “Đất lạnh” không thuộc dòng sử thi, không trực tiếp miêu tả các sự kiện lớn mà vẫn giúp bạn đọc hiểu sâu hơn lịch sử; mặt khác, “Đất lạnh” của nhà văn Vũ Oanh cũng không hẳn là tiểu thuyết gia đình, nhưng lại đặc biệt chú trọng đến sự tan rã của gia đình qua những biến động xã hội, trong đó cuộc cải cách ruộng đất, mặc dù chuyện “cải cách” chỉ là những lát cắt trong dòng hồi cố của nhân vật. Đây cũng là nguồn gốc dẫn đến những tha hóa về đạo đức hiện nay mà báo chí chính thống ngày nào cũng ‘báo động’ với các vụ việc đau lòng”(tr.105). Đó là nghịch lý vẫn đang xảy ra hằng ngày trong xã hội hôm nay. “Đất lạnh” trở thành “Đất vàng”, kéo theo đó, là những vết thương mới toanh trên đất quê hương. Giọng văn thâm trầm của Nguyễn Khắc Phê ở nhiều đoạn cho thấy tâm hồn nặng tình (gồm cả tình người và tình đời).

Người đọc cảm nhận được nỗi đau của nhân vật cũng như sự đau đáu niềm đau của Nguyễn Khắc Phê đối với việc băng hoại đạo đức nhân tính con người hôm nay. ““Hởi giời!” Đây cũng là tiếng gọi của bà Sửu trước cảnh nhà hai cậu em “mất phúc, dột từ nóc dột xuống!”. Liệu có bao nhiêu người nghe được nỗi thất vọng tột cùng này của nhân gian”(tr.113). Tiếng kêu trời của Bà Sửu dường như có cả tiếng lòng của nhà phê bình ngoại hạng. Tiếng kêu trời biểu thị tấm lòng tha thiết với những điều tốt đẹp, với giá trị nhân bản đáng quý (nhưng ngày càng hiếm hoi) trong xã hội kim tiền. Từ nghịch lý, Nguyễn Khắc Phê trưng ra thực trạng. Người đọc sẽ là người tiếp tục nhận diện thực trạng đó trong đời sống thực tiễn của cá nhân!

Tập sách “Những trang sách thức tỉnh con người” của Nguyễn Khắc Phê

Phàm chuyện gì có vẻ kỳ lạ, nghịch lý vẫn thu hút sự chú ý của thiên hạ nhiều hơn cả. Người quan tâm đến nghịch lý của đời thì nhiều, nhưng người hiểu và lý giải được những nghịch lý đó thì rất ít, nếu không muốn nói là rất hiếm hoi. Sau cơn tò mò trôi qua, người ta băn khoăn chút ít, có khi lại trôi đi và không còn quan tâm đến nữa. Nhưng, với một tâm hồn nhạy cảm và ưu tư như nhà văn họ Nguyễn thì những nghịch lý của đời vẫn thường khi đeo bám tâm tư. “Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế và Trường Đại học Ngoại ngữ Huế vừa hợp tác xuất bản tác phẩm mới của François Jullien mang tựa đề có tính “thách thức”: “Không có bản sắc văn hóa” (KCBSVH). PGS.TS. Bửu Nam đã nói như thế trong buổi ra mắt sách tại Trường Ngoại ngữ Huế, cuối tháng 7/2019. Quả là vậy, vì trong khi thiên hạ hô hào giữ “bản sắc văn hóa” thì cái lão triết gia Pháp này dám bảo KHÔNG CÓ BẢN SẮC VĂN HÓA! Sách của François Jullien hầu hết đều đặt vấn đề “trái khoáy” như vậy” (tr.127).

Điều đáng khâm phục ở Nguyễn Khắc Phê chính là sau khi nhận diện cái lạ và “trái khoáy”, tức thời, ông nhận thức bản chất của vấn đề, vượt qua cái phi lý. “Đọc cuốn sách vừa xuất bản của ông vẫn thấy … mới lạ, thậm chí muốn…cãi lại! Tuy vậy, nếu chịu khó đọc và suy ngẫm – nhất là đừng lệ thuộc vào định kiến hay nếp tư duy đã quen, thì sẽ thấy sự “hợp lý” trong vấn đề ông nêu ra, nghe qua như là “phi lý”” (tr.127). Nhờ vào tính cần mẫn, thận trọng và có trách nhiệm, Nguyễn Khắc Phê giúp người đọc vượt qua cách nghịch lý để tìm đến một cách thế hợp lý “mở”. Nghĩa là, tùy thuộc tâm thế của từng người  đọc, trang viết của Nguyễn Khắc Phê sẽ gợi mở ra những ý hướng khác nhau. Qua đây, có lẽ, người  đọc sẽ nhận ra nghịch lý dường như chỉ là cái biểu hiện nhất thời của “hợp lý”. Và, “nghịch lý” chỉ là một trạng thái nhất thời của tư niệm ta mà thôi. “Nghịch lý” chỉ là cái “hợp lý” chưa khai mở. Hoặc: cái hợp lý quyến rũ người ta bằng vẻ ngoài “nghịch lý”. Hợp lý không thể chạy trốn đôi mắt tinh tường và sự kiên nhẫn của kẻ truy vấn! Kiên nhẫn ở chỗ, Nguyễn Khắc Phê lần tìm và “khu biệt” để định vị đối tượng mà ông đang tiếp cận. Chẳng hạn, khi ông nhắc về ý kiến của GS. Lê Hữu Khóa “Tác phẩm KCBSVH tách cụm từ bản sắc ra khỏi văn hóa, xem đây là một thuật ngữ đáng nghi ngờ, vì nó sai trật ngay trong cách xây dựng ngữ pháp, nó càng sai trái qua các kết quả nghiên cứu, điều tra, điền dã về bản sắc và văn hóa”(tr.128). Tinh tường ở chỗ, ông nhận ra căn bản vấn đề không phải ở ngoại tại nghịch lý mà nằm ở cốt lõi hợp lý. Vấn đề kiến giải không còn là cái vẻ ngoài nghịch lý nữa và là yếu chỉ hợp lý ở chiều sâu của vấn đề. Từ chỗ kiến giải nghịch lý, ông biến vấn đề thành ra kiến giản khả năng lập thành truy vấn về vấn đề đó. “Triển khai và làm sáng rõ vấn đề trên, François Jullien viết: “Tôi cho rằng một cuộc tranh luận về “bản sắc” của văn hóa là tranh luận sai lầm về nguyên tắc. Vì thế tôi đề nghị một sự chuyển dịch về khái niệm. Trong sự tiếp cận đa dạng của các nền văn hóa, thay vì dùng từ “khác biệt”, ta dùng “khoảng cách”, thay vì bản sắc, ta dùng “nguồn nuôi dưỡng” hay “sự phong phú”” (tr.128). Rõ ràng, ông đã kiến và giải được cái nghịch lý “trái khoáy” hiển hiện ngay từ lúc bắt gặp đối tượng.

Hơn thế, Nguyễn Khắc Phê không chỉ kiến rồi giải mà còn nghiệm nữa! Ở chỗ, ông đưa vấn đề đặt ra trong trang sách vào thực tiễn đời sống. Và, từ chỗ “nghiệm” ấy, càng thêm “xác định” cho vấn đề khái niệm đặt ra. Càng thú vị hơn, ông nghiệm lại bằng chính vốn liếng văn hóa dân tộc, văn hóa địa phương trực diện mà ông hằng sống mỗi ngày. “Xem ra François Jullien nói đúng, khi ông thay việc hô hào giữ “bản sắc” là cái không dễ “điểm danh” (hoặc không cố định) bằng việc bồi đắp “nguồn nuôi dưỡng văn hóa”. Như vậy, với Huế, thay vì bàn cãi “bản sắc” là gì, chúng ta cùng nhau liệt kê những gì là “nguồn nuôi dưỡng” văn hóa Huế có lẽ sẽ có ích hơn”(tr.130). Nếu người đọc chưa quen đọc những trang sách nặng lý thuyết thì đọc trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê rất hữu ích cho việc tiếp cận đối tượng. Bởi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê đã kiến-giải-nghiệm, bước đầu mở đường cho người đọc phổ thông đi vào hệ thống luận thuyết khái niệm trừu tượng.

2. Kiến giải huyền thoại

Đằng sau sự khoan thai từ tốn của hành động tiếp nhận, người đọc nhận ra sự tỉnh táo và nghiêm túc của lão nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Một trong số khía cạnh đó: đọc và viết đối với Nguyễn Khắc Phê đồng thời quay ngược quá trình lý tưởng hóa, huyền thoại hóa. Với hành động kiến giải huyền thoại, Nguyễn Khắc Phê trả lại cuộc sống thực của những đối tượng mà ông tiếp nhận/thông diễn. Nguyễn Khắc Phê thẳng thắn và sòng phẳng với những “biểu tượng”, trả lại nghĩa lý đúng thực của nó trong đời sống, vượt qua cái lớp vỏ “lý tưởng hóa”/ “huyền thoại hóa” của sự vật hiện tượng. Như người đi qua thời gian, ông không chỉ lướt qua như người “cưỡi ngựa xem hoa” mà còn góp phần phủi đi chút hạt bụi phủ mờ thế sự. Phần nào, … thông qua trang phê bình ngoại hạng, giúp bạn đọc nhận chân sự thực khi nhìn lại thời quá vãng. Chẳng hạn, khi ông đọc “Làng quê buồn vui… thương nhớ…” cùa Phan Khánh: “Trong cuốn sách, tác giả chỉ kể chuyện làng mình theo lối “cổ điển”, chủ yếu theo trình tự thời gian quãng từ 1940 đến 1955, thỉnh thoảng có “hồi cố” chuyện thời “Xô Viết”… Như thế, nếu theo dòng sự kiện, thì không có chi lạ trong các tác phẩm của anh P.K vì tất cả đã có trong “chính sử” – từ nạn đói 1945, đến Cách Mạng Tháng 8, đi dân công chống Pháp, rồi đấu tranh giảm tô, cải cách ruộng đất, sửa sai …  “Điều thú vị là tác giả đã miêu tả các sự kiện đó với góc nhìn từ dưới lên – nhiều khi ngược với lệnh “trên bảo” – với vô số những nhân vật, chi tiết sinh động, đậm tính dân gian, buồn nhiều mà vui cũng không ít. Bạn không tin, mở sách mà xem, đọc nhiều trang, không nhịn được cười” (tr.30).

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê vẫn thường nói, ông không phải nhà phê bình chuyên nghiệp, không thạo luận thuyết như các nhà lý luận chính quy; nhưng qua cách viết, người đọc thấy ông đã vượt qua “lý thuyết”. Ví như khi ông bàn đến “Tro và Lửa lạnh” của Hà Văn Thịnh với đặc trưng “đa thanh” và “liên văn bản”; hay như khi bàn về tiểu thuyết lịch sử. Một đề tài không mới nhưng có vẻ đang sốt trở lại thì Nguyễn Khắc Phê cho thấy dường như ông cũng am tường và hiểu biết về “giải huyền thoại”. “Về mặt nào đó, đây chính là “đất dụng võ” của các nhà tiểu thuyết, những người với thủ pháp nghệ thuật, có thể “nhìn thấy” những góc khuất, những khoảng mờ trong lịch sử …” (tr.55). Đất dụng võ theo như Nguyễn Khắc Phê chia sẻ, có lẽ “khoảng trắng” trong thuyết vi mô tiếp nhận chăng? E rằng, không thể gán cho Nguyễn Khắc Phê lối phê bình ấy nhưng đồng thời, cũng không thể phủ nhận: ông có cái nhìn bao quát và tinh tường, không nặng lý thuyết nhưng vững chắc trong lập luận. Hơn hết, ông công tâm trong việc nhìn nhận, đánh giá. Có lẽ, ở tuổi cao niên, người đã  giữ được “trung đạo” chăng! Qua những suy tư về hai tiểu thuyết của Trần Thùy Mai và Lê Hoài Nam, Nguyễn Khắc Phê có lẽ đang “giải huyền thoại”. Ông cho rằng: “Nhà tiểu thuyết không được ỷ thế “đặc trưng” mà xuyên tạc lịch sử”(tr.63). Song, ông vẫn chia sẻ, cảm thông với văn sĩ trong mảng đề tài “tưởng dễ mà khó” này! Văn xuôi lịch sử có những thuận lợi cũng như trở ngại nhất định. Mà trong số đó, có lẽ trở ngại lớn nhất, chính là những thành kiến, quy phạm sẵn có về những đối tượng lịch sử trong lòng công chúng, xã hội!

Đi vào chuyện lịch sử thời quá khứ, không ít trang viết của Nguyễn Khắc Phê mang lại nhiều kiến thức thú vị và hiểu biết mới cho bạn đọc. Nếu nhìn rộng hơn, bạn đọc hẳn thấy Nguyễn Khắc Phê trên nền tảng và hướng đến mục đích nào trên con đường “du sử”. Ở đó, bạn sẽ gặp gỡ Nguyễn Khắc Phê – một tấm lòng đáng quý bởi tinh thần tự cường và tự hào dân tộc. Nhất là khi ông nhắc đến Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản. “Nhờ đi sứ, Nguyễn Tư Giản hiểu được thực trạng triều đình nhà Thanh đang trên đà suy thoái trầm trọng, không chống đỡ nổi các thế lực hùng mạnh phương Tây đang nhòm ngó bành trướng sang vùng Viễn Đông […] thấy rõ ở nước mình vua Tự Đức và triều đình vẫn rập khuôn theo hình mẫu của triều đình nhà Thanh”. Từ đó, “ông vận dụng sự tin cậy của vua Tự Đức, cố gắng thuyết phục vua Tự Đức đảm nhiệm trọng trách của vua như các vua Minh Trị ở Nhật và vua Chulalongkom ở Xiêm La (Thái Lan)… hết lòng ủng hộ những kế sách canh tân đất nước của Phạm Phú Thứ và Nguyễn Trường Tộ đã dâng lên nhà vua, mặc dù không ít đại thần ngăn trở”(tr.80-81). Phần đầu bài viết, ông làm công việc của người thợ thủ công dệt tấm vải lịch sử. Thông qua “yếu nhân” bây giờ, bức tranh xã hội, triều đại, nhân vật trí thức như (Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện,…) được Nguyễn Khắc Phê nhắc nhớ. Qua việc “kiến giải” người trí thức thời đại, Nguyễn Khắc Phê cũng cho thấy ưu tư của người trí thức nói chung. Không riêng thời đại nào, niềm tự hào, tự cường dân tộc vẫn là mối quan tâm chính đáng cho kẻ trí thức. Thời đại có khác, song, Nguyễn Khắc Phê đã gặp gỡ cụ Hoàng Giáp ở mối ưu tư chân chính này. “Trong tình thế lúc đó, khát vọng canh tân của Nguyễn Tư Giản không đạt nhiều kết quả là điều khó tránh khỏi, nhưng hậu thế vẫn mãi quý trọng phẩm chất của một đại quan không ngại va vấp, thiệt thòi, kiên trì đấu vì lợi ích của dân tộc đất nước”(tr.82). Cho nên, dầu bàn luận hay kiến giải nhân vật lịch sử nào, bạn đọc cũng nhìn thấy điểm chung quán xuyến trên trang viết Nguyễn Khắc Phê: tấm lòng tha thiết, trong sáng vì quê hương và dân tộc. Chính vì tấm lòng ấy, ông giữ được sức bền bỉ, sự dẻo dai trong ngòi bút suốt hơn nửa thế kỷ qua và hiện nay, vẫn còn tiếp tục..

Tấm lòng trong sáng ấy của Nguyễn Khắc Phê càng biểu hiện sáng tỏ khi nói về cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc. Bằng cách đi sâu vào tác phẩm của Tôn Ái Nhân (Ký ức gã ăn mày), nhà phê bình hình như nhắc nhớ kẻ đương thời không thể nào/không lý nào lại quên lãng những người từng dấn thân vào cuộc chiến vì lý tưởng thống nhất đất nước. “Cuộc chiến đấu để đi tới ngày thống nhất đất nước của dân tộc ta đã qua 45 năm. Không phải ai cũng trân trọng những ký ức anh hùng như hai vị cựu bình lần đầu gặp mặt đã hết lòng giúp nhau. Vì thế, giữa thế cuộc biến động khó lường hôm nay, khi con người luôn đứng trước những thử thách và cạm bẫy có thể làm băng hoại thành quả rèn luyện, phấn đấu của cả cuộc đời, xin được cải biên chút ít di bút của nhà thơ Hồ Thấu như sau: “Khải hoàn xin nhớ đến người hôm qua!””(tr.97). Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Phê cũng rộng lượng bao dung ở chỗ nhìn thấy và chia sẻ hoàn cảnh đất nước thời hậu chiến. Tâm thế một người từng trải cho ông cái nhìn bao quát, không thiên lệch, không quá khắt khe mà chừng mực và thấu đáo. Không mỉa mai, chê bai, phê phán, … ông cảm thông và gợi nhớ! Đó là góc nhìn “có trước có sau”, “hợp lý hợp tình” trọng nghĩa ân!

Với văn xuôi lịch sử, Nguyễn Khắc Phê vừa có cái nhìn “nghiêm nghị” vừa có cái nhìn cảm thông, chia sẻ. “Cũng có thể là tôi đã đặt yêu cầu quá cao và “cổ điển” chăng? Đâu có nhất thiết tiểu thuyết là phải có yêu đương với cuộc sống đời thường cùng vợ con, bạn bè, làng xóm”(tr.339). Chia sẻ về văn xuôi lịch sử, người đọc sẽ thấy ông có cái nhìn mở. Nhất là, ở tuổi cao niên, con người ta dễ có những thành kiến nhưng Nguyễn Khắc Phê (nhờ liên tục cập nhật, làm mới tư duy) nên có cái nhìn so sánh thấu lý đạt tình. Ông đi từ bao quát nhân vật, đến kết cấu rồi đi sâu vào các sự kiện. Có lẽ, đó là cách đọc cả hai chiều (chiều rộng và chiều sâu chăng!). Do đó, những luận xét có nền tảng vững chắc nhưng vẫn linh hoạt, tươi mới. Hơn hết, tâm thế của ông luôn hướng đến chỗ cộng hưởng, sẻ chia, tâm tình với đối tượng mà ông tiếp nhận. Nguyễn Khắc Phê khi tiếp nhận văn xuôi lịch sử không sa vào lối “giễu nhại” giải thiêng/giải huyền thoại thông thường, dễ gây chia cách. Ngược lại, ông tiếp nhận trong thiện ý cảm thương. “Viết “Đại gia” T.S. đã tỏ ra bản lĩnh dám xông vào một đề tài nhạy cảm, dễ bị “thổi còi”. Để thực hiện bộ tiểu thuyết trường thiên lịch sử hiện đại, tôi hình dung tác giả còn phải vượt qua những thử thách lớn hơn, trước hết vì tất cả sự kiện, nhân vật còn “tươi rói”, sách báo đã viết, đã “đào xới” rất nhiều, lại không được phép tung hoành ngòi bút dễ dàng trước các nhân vật đã mặc nhiên dựng thành khuôn phép” (tr.336). Những sẻ chia này thực sự có thể động viên khích lệ và gợi ý thêm cho người viết đối với những dự định viết lách về sau. Có lẽ, Nguyễn Khắc Phê đã tiếp nhận không phải như người đứng bên ngoài mà như người thực sự đứng trong cuộc.

Tính chất nhập cuộc “kiến giải huyền thoại” của Nguyễn Khắc Phê còn bộc lộ ở những trang mang tính “đối thoại” với chính nhà văn và tác phẩm được ông nhắc tới. Đọc bài viết “Từ Dụ Thái Hậu – thêm một cánh cửa soi vào hậu cung triều Nguyễn”, bạn như nhìn thấy Nguyễn Khắc Phê đối ẩm cùng Trần Thùy Mai. Đó là cuộc tương phùng mà chắc rằng nhà văn nếu có dịp đọc lấy, có thể nhận ra nhiều điều thú vị hữu ích cho công việc viết lách về sau. “Kể ra cuộc đời cô bé Hằng với chuyện tình kiểu học trò cùng hai hoàng tử con vua Minh Mạng (khi cô được tuyển vào coi sóc lớp học trong Hoàng cung) và nhất là mối tình như là tiền định với Trương Đăng Quế, từ khi chàng tráng sĩ liều thân cứu mẹ con Hằng thoát chết trên đường về kinh đô bị bọn giặc Đá Vách cướp xe, rồi bao cuộc gặp gỡ bí mật và công khai ở Hoàng Cung cũng có thể dựng một tiểu thuyết diễm tình hấp dẫn, nếu tác giả mạnh tay “hư cấu”. Và với vô số âm mưu đoạt quyền giành tước vị bổng lộc với những bóng đen nghe lén chuyện thâm cung bí sử triều đình, với vụ án oan Phạm Đăng Hưng vừa bị tuyên án xử trảm thì vua Minh Mạng xuất hiện kỳ diệu như … Bao Công, kẻ ngồi ghế chánh án trở thành tội nhân … cũng có thể dựng một tiểu thuyết trinh thám võ hiệp kiểu Tàu không tầm thường”(tr.364-365). Đặc biệt, những trang viết về lịch sử lại rất cần thiết góc nhìn đa chiều như thế. Việc đối thoại trong quá trình kiến giải lịch sử, góp phần bộc lộ thêm giá trị của những sự kiện và nhân vật lịch sử được xây dựng. Nguyễn Khắc Phê dẫn ra hình tượng “huyền thoại” vẫn hằng có trong lòng cộng đồng diễn giải. Sau đó, ông chỉ ra thêm vài vấn đề khả dĩ “bổ sung” cho hình tượng huyền thoại ấy. “Hơn thế, Thái Hậu Từ Dụ là một nhân vật quá nổi tiếng và “quen thuộc” nữa – nhất là với vùng đất Cố đô, nhà văn không dễ tùy hứng sáng tạo, hư cấu như với các truyện ngắn trước đây của chị. Mặt khác, với một con người nổi tiếng về đức độ, phẩm hạnh, để viết truyện danh nhân, ca ngợi công đức thì dễ, nhưng dựng thành nhân vật tiểu thuyết cho hay lại là một thách thức lớn đối với người cầm bút”(tr.363). Có thể, đây là cách ông nhắn gửi đến nhà văn và tác phẩm, hoặc cũng có thể, đây là cách ông nhắn gửi đến bạn đọc nói chung trong việc tiếp nhận tác phẩm. Có lẽ, văn xuôi lịch sử vẫn là địa hạt “chẳng dễ dàng gì”, song là địa hạt có thể xác lập địa vị “lớn hơn” cho người cầm bút chuyên nghiệp!

Sau hết, dù tiếp nhận hay kiến giải, dù nhìn dưới con mắt nhà chuyên môn hay người trong cuộc, Nguyễn Khắc Phê vẫn thiết tha hàn gắn, không muốn chia cách với bạn văn. Ông vẫn thẳng thắn, sòng phẳng nhưng luôn cảm thông, thấu hiểu cho tha nhân, nhất là việc chữ nghĩa có những gian khó ít người thấu hiểu. Với bản thân, ông nghiêm khắc, nhất là những đề tài lịch sử. Với người khác, ông cởi mở và nhìn để thấy. Không chỉ nhìn và thấy nội dung của những tác phẩm mà ông tiếp nhận, ông còn nhìn thấy công sức và tâm huyết của người viết. Cụ thể, ông trân trọng nỗ lực của Thiên Sơn trong tiểu thuyết lịch sử “Gió bụi đầy trời”. “Chính là vì tôi trân trọng quyết tâm lớn của tác giả và kỳ vọng những cuốn tiếp theo đạt được thành công mỹ mãn hơn, nên mạnh dạn nêu các vấn đề trên để tác giả tham khảo. Nếu được bạn văn T.S cũng như các nhà văn đang hào hứng theo đuổi công việc viết tiểu thuyết lịch sử đồng thuận và chia sẻ thì đó là điều hạnh phúc đối với ông già đã ngoại bát tuần, lại ở xa “mặt trời” như tôi…”(tr.344).

Sự đồng cảm, làm nên trang phê bình “kiến giải” của ông: không chia rẽ mà là hàn gắn!

3. Kiến giải phản tư

Giữa mình với người, một khi nhìn và thấy nhau, cũng tức là làm thành tấm gương phản chiếu đôi bên. Kiến giải người để thấy mình, gặp lại chính mình, nhận diện chính mình. Cũng là, lấy cái ngã siêu nghiệm (transcendental ego) nhìn cõi trần ai (Lebenswelt). Cụ thể hơn đó là sự “phát triển lý thuyết của Husserl về cái ngã siêu nghiệm (transcendental ego), tức cái ngã biểu hiện được thế sinh (Lebenswelt) một cách tiên thiên, thành một cái ngã tự phản tư (critical moment), tức cái ngã nhận ra được cái đặc thù (authentic) cũng như sự khác biệt của mình(distantiation)”[5]. Rõ ràng, cơ chế phản tư vốn mặc nhiên trong ý thức người. Hơn thế, phản tư còn góp phần xác lập tính người, nhận thức về chính bản thân mình, nhận thức về tính người của chính mình thông qua nhận diện tính người ở than nhân. Kiến giải phản tư còn có thể hiểu như kiến giải phê phán. Kiến giải tương phản chăng! Kiến giải để thông qua sự kiến giải, mình nhận diện mình, mình nhận diện mình ở giữa đời.

Thông qua kiến giải, tự phản tỉnh cũng như lay tỉnh tha nhân. “Vậy là nhà văn SA, bằng tất cả tâm huyết của mình muốn giúp nhân loại tỉnh ngộ, nhưng con người vẫn khó dứt cơn “say” theo quán tính đã bao đời! Chẳng lẽ phải đợi đến ngày … tận thế, khi chỉ còn các tỷ phú sống trên … mặt trăng, con người mới thức tỉnh?”(tr.304). Đó là những chia sẻ, đồng cảm của Nguyễn Khắc Phê đối với “Lời nguyện cầu Chernobyl” của Svetlana Alexievich đăng trên Tạp chí Sông Hương số đặc biệt, tháng 9-2020.

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê từng tâm sự: “Chẳng có chi xấu hổ việc bán sách… Cuốn sách gọi là “tạp văn” nên… linh tinh đủ thứ, trong đó phần nhiều “chuyện cũ”- ngay cả bài viết về thảm họa ở tầm vĩ mô như Dịch Covid – Tàu 2019 và các vụ lở núi kinh hoàng năm 2020, cả bài mới nhất về Người Mẹ trăm tuổi, chủ yếu cũng là chuyện “ngày xưa”. Tuy vậy, đến tay người đọc – theo thuật ngữ “tiếp nhận văn học” thì người đọc là đồng sáng tạo với tác giả từ nhiều góc nhìn, mỗi bài trong cuốn sách này hay – dở không đồng đều và còn tùy “gu”, nhưng hẳn là sẽ gợi cho độc giả những suy nghĩ liên hệ đến cuộc sống hôm nay…”[6]. Phải chăng, nhà văn nhắn nhủ bạn đọc, trang sách cơ hồ chỉ là phương tiện, thông qua đó, bạn đọc soi chiếu rồi nhìn lại chính mình. Để thấy rằng, bao nhiêu chuyện (dù xưa cũ hay mới tinh) đều là chuyện ngay bây giờ, ở giây phút hiện tại của bản thân mỗi người. Nhà văn vẫn mong mỏi sẻ chia cùng bạn đọc tâm tư qua trang sách phê bình, nhưng cũng biết rằng cơ hội tương phùng không nhiều. “Bạn thương tình để mắt đến thì đó là vinh hạnh của tác giả; nếu không, cũng “tự sướng” khi có thêm một tác phẩm được xếp hàng ngay ngắn, lâu dài trong thư viện nơi này nơi kia”(tr.8). Trân trọng độc giả, thế nhưng, biết rằng cuộc sống vốn có nhiều “lệch pha” tiếp nhận, lẽ đó, không thể không thừa nhận thực tế, khó có thể làm hài lòng tất cả mọi người, gây được sự đồng thuận ở quảng đại độc giả. Thế nên, trang phê bình ngoại hàng, trước hết nên xem như trang viết phản ánh tâm tư bản thân đã! Nhà văn dùng từ ‘tự sướng’ có lẽ không ít người cầm bút sẽ hiểu, đó chẳng khác gì niềm “cô đơn bản chất” Blanchot từng nhắc đến, mà bất cứ kẻ cầm bút nào cũng phải nếm trải.

Kiến giải tha nhân, lẽ đó, cũng kiến giải tự thân. Mỗi bài cảm nhận hoặc “Phê bình”, bạn đọc thấy đối tượng nhưng ngược lại cũng thấy người ngắm nhìn. Ở chỗ, ông sẻ chia cùng dân xóm Trùa – Phan Thúy Hà (qua tự truyện Qua khỏi dốc là nhà, cũng như bộ ba truyện “phi hư cấu” gồm Đừng kể tên tôi, Tôi là con gái của cha tôi, Gia đình), sẻ chia cùng người làng Mai-Trương Quang Đệ, bạn đọc nhìn ra tấm lòng thương nhớ quê hương Quảng Trị của tác giả tập sách “Bâng khuâng cảm xúc về thời cuộc” mà cũng nhận ra tình quê Hã Tĩnh sâu nặng trong tâm tư tác giả tập sách “Phê bình ngoại hạng”. Dường như Nguyễn Khắc Phê đã bắt gặp lòng mình ở chính lời chia sẻ của tha nhân. “TQĐ từng chia sẻ cuộc đời mình gắn với 4 vùng đất: ở quê nhà Quảng Trị gần 20 năm, ở Hà Nội hơn 20 năm; Huế gần 20 năm và Sài Gòn gần 20 năm. Tuy vậy, “Quê hương vẫn mãi sâu thẳm trong ông, như ông nói “cái cảm giác mình là người Quảng Trị không hề rời khỏi tôi dầu trong giây lát”. Đi khắp bốn phương trời, hiểu nước Pháp như chính nước Việt, hiểu tiếng Pháp như chính tiếng Việt, những vẫn còn đó một TQĐ, người tri thức Việt ra đi từ làng Mai” (tr.369). Dầu nhắc đến nhiều nội dung trong trang sách của nhà trí thức làng Mai, nhưng nồng nàn hơn cả chính là những chia sẻ và thán phục trước nỗ lực vượt khó của nhà trí thức. Điều đó, ngược lại, cho thấy tấm lòng của Nguyễn Khắc Phê đối với những con người vượt qua gian khó thời đại, giữ “truyền thống tốt đẹp của quê hương”(tr.372), sống xứng đáng với tiền nhân và cống hiến cho hậu thế. Chính thế, trong tâm hồn người kiến giải rõ ràng vẫn hiển hiện hình tượng người trí thức chân chính. Phải chăng đó là “siêu ngã” lý tưởng mà người kiến giải hằng kính nể và, muốn hướng đến.

Với thể loại phi hư cấu, nhà văn Nguyễn Khắc Phê dường như có sự chú ý nhất định đến bộ ba truyện phi hư cấu của Phan Thúy Hà. Bởi như ông nhận xét “Quả là nhiều câu văn của Phan Thúy Hà “đã tẩy trắng các biện pháp tu từ, lối viết nơi chị đạt tới “độ không” …” nhưng không phải trang nào cũng thế. Tác giả không ngần ngại bộc lộ cảm xúc, như sau khi bị đuổi khỏi căn nhà trong khu “gia binh” Thành Nội Huế: “…Mẹ và con giàn giụa nước mắt”. Trong truyện “Những cây dừa lão” về cuộc đời vợ chồng “chú Châm”, phép “tu từ” của tác giả là đặt những cảnh tương phản cạnh nhau để làm nổi bật sự trớ trêu của số phận; sau khi tả cảnh hai người sống chung với 4 con bò, vợ chồng thì “chưa khi nào làm việc đó”, tác giả buông một câu: “ Ngôi nhà của cô chú giữa cánh đồng nhìn từ xa thanh bình yên ả”. Tuy vậy, liền sau đó, cô viết: “…Qua không biết bao nhiêu là cây cầu, tôi mới dừng lại được. Tôi gục mặt xuống bàn tay. Tôi khóc nấc lên”. Tác giả không ngần ngại bộc lộ cảm xúc. Và nỗi xúc động lập tức truyền sang độc giả. Vì họ biết tác giả không “diễn” qua cách miêu tả không thể chân thực hơn” (tr.232). Cơ hồ, Phan Thúy Hà là tấm gương phản chiếu cảm xúc bạn đọc. Đó là nguồn khơi dậy cảm xúc và cũng là tấm gương cho bạn đọc nhìn thấy chính cơn bột phát cảm xúc của chính mình.

4. Kiến giải thặng dư

Kiến giải thặng dư hay việc phơi mở phần nghĩa dôi ra từ khoảng dao động giữa “thế khoa học” và “thế sinh”. Tức phần nghĩa phát sinh trong quá trình kiến giải/so đọ giữa tri thức khách quan lý tính và trải nghiệm chủ quan cảm tính. Vì “thế sinh cũng như hiện thể (Dasein) chỉ ra được “sự thặng dư của ý nghĩa trong kinh nghiệm sống, và như vậy có thể khiến thái độ mà ta đang giãy bày mang tính khách quan””[7]. Kỳ thực, kiến giải thặng dư không có quá nặng nề thuật ngữ như vậy. Có thể hiểu đại để, giữa các đối tượng khác nhau, hẳn có khoảng chênh lệch tiếp nhận khác nhau. Do đó, trong cuộc “gặp gỡ”, hai đối tượng hẳn sẽ tác động khiến cho nội dung ý nghĩa không chỉ gói gọn ở bản thân mỗi đối tượng mà còn có lượng nghĩa phát sinh trong cuộc tương phùng. Thậm chí, chính lượng nghĩa phát sinh ấy khẳng định ý nghĩa và giá trị của cuộc tương phùng. Trên phương diện này, Nguyễn Khắc Phê là “người bạn lòng” của nhiều tác giả, tác phẩm trong đời sống chữ nghĩa hiện nay!

Nhà nghiên cứu Trần Bảo Định

Qua bản tổng kết của Ngô Thảo, nhà văn Nguyễn Khắc Phê vừa đánh giá trên phương diện “khoa học” về cách làm sách vừa bày tỏ xúc động chân thành với những nhà văn được Ngô Thảo nhắc đến. Đó là thế hệ nhà văn đi qua bom đạn chiến tranh. Vượt qua tất cả, sau những đánh giá về phương diện khoa học. E rằng, điều đáng quý nhất vẫn là những mất mát đau thương mà anh hùng của dân tộc Việt Nam hiện lên trong trang viết. “Chỉ là “trích yếu” một cuộc đời như thế, đã thấy rộng dài và sâu thẳm biết bao dấu ấn lịch sử đất nước cũng như số phận nhiều lớp người từng gắn bó với các chiến sĩ-nhà văn trong cuộc trường chinh của dân tộc” (tr.49). Phần thặng dư ở đây chính là tình cảm của chính nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Nói khác, ông đã nối dài trang viết của Ngô Thảo. Có lẽ bởi lối nhìn nhận này, trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê vừa sâu, vừa chi tiết, nhưng lại tình cảm mượt mà.

Phần nghĩa dôi ra trong cuộc tương giao “văn sĩ” với “thế giới xung quanh”, cộng hưởng với tâm tư Nguyễn Khắc Phê, khiến bạn đọc nhận ra: giá trị quê hương và dân tộc đáng quý ở tập sách “phê bình ngoại hạng”. Thông qua ngẫu văn của Lê Quốc Hán, hẳn độc giả nhận ra chỗ “đụng chạm” giữa tri thức khách quan và trải nghiệm cảm tính mà Nguyễn Khắc Phê bắt gặp ở tác phẩm “Hai phía chân dung”. Cũng chính ở đó, độc giả nhìn thấy nhà văn Nguyễn Khắc Phê. “Nhà thơ, PGS.TS. Lê Quốc Hán ghi thể loại cuốn sách vừa xuất bản là ‘ngẫu văn”; có thể tạm hiểu là những bài văn viết một cách ngẫu nhiên hoặc ngẫu hứng mà viết. Tác giả chọn ghi một thể loại “hiếm” trên thị trường sách nhưng quả là thích hợp với “Hai phía chân dung” – một cuốn sách phong phú về đề tài và “đa thanh” về giọng điệu. “Ngẫu văn” Lê Quốc Hán tung tẩy đúng kiểu nhà thơ, không trói buộc “quy phạm” nào, hết chuyện này đến chuyện khác; tuy vậy, anh còn là nhà toán học, nên dù “tung hoành” ngang dọc xứ Nghệ (Hà Tĩnh và Nghệ An) và mở rộng cả đất nước, nhưng xem kỹ vẫn có thứ lớp, vẫn phân chia trọng tâm, trọng điểm quanh hai trục “tung”, trục “hoành” là quê hương và đồng bào ruột thịt của mình!”(tr.98). Ngay ở đó, bạn cũng thấy tình quê hương và tình ruột thịt chính là khoảng cộng hưởng, phát sinh nghĩa. Nghĩa lý thặng dự đó khác gì “tình máu mủ” văn chương!

Cần nói thêm, nghĩa thặng dư phát sinh trong quá tình tiếp nhận/phê bình là điều gần như hiển nhiên, phổ biến trong nhiều trang phê bình. Bởi lẽ, giữa ta và người luôn tồn tại khoảng “lệch pha” ý thức. Lẽ đó, người với ta luôn có “mặt bằng tiếp nhận” khác nhau. Nhưng, “khác ta chưa hẳn là người thù ta”. Xưa nay không ít gương tri âm tri kỷ! Nhìn ở khía cạnh này, có thể thấy, Nguyễn Khắc Phê đã “tri âm” như “tri kỷ” với nhiều cây bút khắp nơi! Chí ít, Nguyễn Khắc Phê đã cộng hưởng với “đa thanh” trong tác phẩm của bạn bè văn chương khắp nơi. Để cho âm thanh cộng hưởng rồi lan tỏa! Với một người yêu văn chương, “phê bình ngoại hạng” của Nguyễn Khắc Phê thật đáng trân trọng.

Phải nhận rằng, đọc trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê rất giàu thông tin. Còn một điều trân quý hơn nữa, chính là ông đã giúp cho bạn đọc càng thêm thuận tiện khi trực tiếp thâm nhập vào đối tượng được nói đến. Nhất là, đối với các tác phẩm vừa có tính khoa học vừa có tính văn chương, trang viết của Nguyễn Khắc Phê còn gợi ý một lối “thông diễn” khả dĩ cho bạn đọc phổ thông. “Như thế bạn đọc có lẽ đã hình dung phần nào tầm vóc và cách tiếp cận vấn đề của tác giả. Để thật hiểu được tác phẩm, tôi nghĩ ít nhất là phải đọc 2 lần, nhưng có lẽ (với bạn đọc “phổ thông”) không cần “bận tâm” quá nhiều các chi tiết của những thành tựu nghiên cứu vật lý hiện đại, mà chỉ càn nắm “ý tưởng” mà tác giả hướng tới; mực dù tác giả đã cố gắng giới thiệu chúng một cách dễ hiểu nhất có thể – chứ không dễ nắm được nội dung hàng loạt các lý thuyết và thực nghiệm của các nhà khoa học trên thế giới như “lý thuyết dây”, rồi “Lý thuyết hấp dẫn lượng tử vòng”…; chỉ một kích thước hạt Quark với con số 10 mũ “âm” 18 đã khó hình dung”(tr.396). Trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê khiến cho các vấn đề khoa học “nặng ký” đi vào đời sống, giúp bạn đọc nhìn ra cái gì đó thiết thân, gần gũi hơn, coi như cũng làm bớt đi phần nào “sự nặng ký” của đối tượng được nhắc tới. Có thể nói, Nguyễn Khắc Phê đã bôi trơn, giảm tính ma sát giữa “thế khoa học” và “thế sinh”, giúp bạn đọc thuận tiện tiếp cận hơn!

Đối với những trang sách có hàm lượng khoa học cao, nhà văn thường có khuynh hướng nắm bắt “ý tưởng” cốt lỏi của tác giả, sau đó mới chia nhỏ đi sâu vào từng khía cạnh vấn đề. Vì thế, trang phê bình của Nguyễn Khắc Phê rất thuận tiện cho bạn đọc mới tiếp cận vấn đề “giàu hàm lượng khoa học ấy”. Qua đó, không chỉ năng lực tiếp nhận thay đổi mà “tầm đón đợi” của kẻ đọc cũng khác đi. Chữ “té ra” của nhà văn Nguyễn Khắc Phê chính là minh chứng cho lối “thông diễn” thặng dư như thế! “Tôi tin là nếu bạn đọc tác phẩm này, khi gấp sách lại – thậm chí đang đọc cũng sẽ có nhiều lúc tạm “giải lao” đứng dậy, bước ra nhìn cảnh vật xung quanh, rồi phóng tầm mắt ra bầu trời xa lắc mênh mông và tự nhủ: “Thì ra lâu nay mình tưởng đã hiểu hết … Té ra những thứ con người đo đếm được chỉ chiếm 4% vũ trụ; còn 86% chưa biết, các nhà khoa học gọi là “Năng lượng tối”! … 96% ấy là những gì nhỉ? Siêu nhiên hay là gì nữa?… Thiết nghĩ, biết tự hỏi như thế là dấu hiệu con người trưởng thành. Cũng là cách ứng xử có văn hóa trong cuộc sống cụ thể cũng như trước vũ trụ huyền bí bao la…”(tr.399).

Qua lối thông diễn này, dường như nhà văn Nguyễn Khắc Phê cũng không ngừng biến đổi “tầm đón đợi”. Ở đó, bạn thấy Nguyễn Khắc Phê dù ở tuổi thượng thọ vẫn không ngừng cập nhật, ham học hỏi, tìm tòi thế giới xung quanh! Nhà văn Nguyễn Khắc Phê thực sự làm tấm gương ham học hỏi và nghiên cứu không mệt mỏi!

5. Kiến giải vô thức

Sau khi đã kiến-giải-nghiệm từ ngoài và trong, từ nông đến sâu, từ “cổ điển”/ “truyền thống” đến hiện đại/cập nhật, Nguyễn Khắc Phê dần trở thành nhà “khảo cổ” mà cũng là nhà “tâm lý trị liệu”. Bởi, việc kiến giải vô thức ví như hành động “khai quật” mà Nguyễn Khắc Phê thực hiện nhằm khám phá tầng vô thức của đối tượng tiếp nhận. “Giống như phân tâm học, thông diễn học trước hết phải là một nền khảo cổ học về chính chủ thể”(archéologie du sujet). Chính vì thế mà TDH đào bới cái ý nghĩa bị đè nén, hay ẩn nấp dưới bề mặt và nằm ở chiều sâu”[8]. Theo đó, nhà văn Nguyễn Khắc Phê có thể cộng hưởng với bao nỗi niềm thầm kín, bao uẩn ức chôn giấu khó có thể trao gửi cùng ai!

Chẳng hạn, “Đắng ngọt đàn bà” với Nguyễn Thị Lê Na là “bản khảo trạng nội tâm nhằm hướng đến sự tự do bản thể và xác lập nhân vị đàn bà”; đối với Nguyễn Khắc Phê, là bản thể đàn bà và bản lĩnh nhà văn. Mặc dù chẳng dám nhận mình là nhà phê bình lý luận nhưng qua cách viết, người đọc thấy Nguyễn Khắc Phê đã vượt qua lý luận phê bình, nghĩa là không còn làm theo quy củ, lần bước theo những khái niệm trong hệ thuyết nào. Ông hoàn toàn thoải mái đi vào đối tượng. Bởi ông đã bàn đến “Nữ quyền luận” bốn mươi năm về trước. Không mắc mớ gì hệ thuyết này hệ thuyết nọ, đơn giản, ông thâm nhập kiến giải căn cơ nữ tính – kiến giải phần “tàng thức”/ “vô thức” thiết lập hiện tượng “đàn bà”. Nghĩa là bản thể! Hơn tám mươi tuổi, bàn đến căn cơ hiện tượng “đàn bà” thì e rằng, ngay cả phụ nữ cũng không thấu đáo cho bằng nhà văn họ Nguyễn. Không vin vào nữ quyền luận, Nguyễn Khắc Phê đi thẳng vào tầng vô thức với những khát khao rất thầm kín và cũng rất đàn bà. Vấn đề ông bàn đến không phải là vấn đề quyền phụ nữ như một vấn đề xã hội hay văn hóa. Ông đánh giá cao Nguyễn Thị Lê Na ở chỗ kể tả những câu chuyện “xưa như trái đất” nhưng lại vẫn là vấn đề muôn thuở mà con người mãi chưa thấu đáo!

Một thi sĩ từng viết: “Chớ để riêng em phải gặp lòng em”. Có lẽ, mình đối diện với chính mình là điều khó khăn nhất. Nhưng, với Nguyễn Khắc Phê, ông đã làm được điều đó. Với, “số phận không định trước”, nhà văn “tự truyện” hay đó là cách “thông diễn” tự thân. Đến phê bình ngoại hạng, dường như ở trang viết nào, độc giả cũng có thể nhận ra dáng hình Nguyễn Khắc Phê đằng sau đó. “Đằng sau những trang sách này, ta thấy rõ hơn cốt cách Nguyễn Khắc Phê – một công dân gương mẫu, một nhà văn dù không định trước được số phận của mình, nhưng biết vượt lên mọi cảnh ngộ, đứng thẳng làm người, đã sống và viết như một người chiến sĩ dũng cảm biết đặt Tổ quốc lên trên hết, luôn bảo vệ và đấu tranh cho lẽ phải, sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật sinh động giàu chất nhân văn. Dòng đời dữ dội vẫn chảy, nhà văn vẫn luôn vượt lên tình thế, luôn vượt lên chính mình để khẳng định cốt cách, phẩm giá và vai trò của người nghệ sĩ. Đó chính là cốt cách của những nhà văn đích thực”[9]. Không chỉ đọc trang viết và thông tin từ nhà văn mang lại, người đọc còn có thể đọc chính phần “ẩn ức” trong chữ nghĩa. Nói vậy, có lẽ thừa, bởi ai viết mà không để lại dấu vết tâm hồn mình! Do đó, “kiến giải vô thức” hầu như là điều mặc nhiên. Và, ở phương diện này, bạn đọc có thể thấy Nguyễn Khắc Phê đã sòng phẳng với lòng mình! Thêm nữa, ông cũng đủ nhạy cảm và dũng cảm, khai mở những tình ý có phần tế nhị!

Vì lẽ đó, “đọc văn của Nguyễn Khắc Phê không thể chỉ đọc thoáng, đọc lướt mà phải đọc bằng sự suy ngẫm nghiêm túc, không thể chỉ đọc trên bề nổi câu chữ mà phải đọc ở nghĩa hàm ẩn, không thể chỉ nhìn vào đối tượng đang được đề cập mà phải liên tưởng đến những vấn đề khác của cuộc sống. Ngôn ngữ của ông vì vậy ngắn gọn mà tầng tầng lớp lớp những suy nghĩ liên tưởng “người đọc càng nghiền ngẫm càng thú vị và thú vị càng cao thì cái chua cay càng lớn””[10]. Chữ nghĩa Nguyễn Khắc Phê nhiều tầng nghĩa cho thấy lối suy nghĩ thấu đáo, đa chiều. Trong khi viết ông vẫn hay cho từ/cụm từ vào dấu ngoặc. Một cách nhấn mạnh chăng! Có thể lắm! Nhưng, có lẽ, ở những chỗ ấy, bạn đọc cần tỉnh táo để nhìn thấy nét trầm ngâm nào đó của hình tượng Nguyễn Khắc Phê trước vấn đề đặt ra. Dường như, càng trải nghiệm nhiều, người ta càng khó có thể nhận định dứt khoát một vấn đề. Thế nên, cần phải đưa vấn đề ấy vào ngoặc kép để mình với tha nhân cùng nghĩ thêm! Lối phê bình của Nguyễn Khắc Phê, do đó, vừa thẳng thắn nhưng vẫn chừng mực, nhiều tầng nghĩa và chẳng kém phần giàu suy tư.

Một lý do nữa, khiến cho việc đọc trang viết của Nguyễn Khắc Phê phải đọc chậm, đọc kỹ. Bởi, nhà văn không chỉ nhìn bằng mắt và hơn thế, ông còn nhìn bằng tâm. Lấy hồn mình nhìn hồn người, lấy trái tim mình đập cùng nhịp trái tim người; nghĩa là, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” và phải chăng, Nguyễn Khắc Phê có thể nhận ra phần “ẩn ức” trong đôi mắt cũng như tâm hồn của đối tượng bởi cuộc đời của nhà phê bình cũng có những nỗi niềm ngậm ngùi không ít. Có thể nói, chính bản thân cuộc đời của nhà phê bình đã thăng trầm đủ mọi cung bậc. “Đọc “Di cảo LQV”, dù chưa phải đã là toàn bộ những gì anh để lại, chúng ta thấy một LQV “khác” – nói đúng hơn đó là một LQV không ngừng trăn trở, thao thức, thậm chí là vật vã như một người có chiều kích khác thường, đang cố cởi bỏ cái áo khoác, cái mũ chật chội mà anh đang mang. Và như thế, chúng ta hiểu rằng, không phải ngẫu nhiên mà LQV đạt được những thành công nổi trội trong những năm cuối đời”. (tr.121-122). Hay nói khác đi, ông nhìn thấy tận tâm can đau khổ của tha nhân. Bởi vậy, dù không hoàn toàn đồng ý với tha nhân, ông vẫn tỏ ra niềm thương cảm nhất định. Niềm thương cảm đó, khiến trang “kiến giải” của ông nghiêm nghị không nghiêm khắc (không khắt khe).

 Tạm kết

Ở tuổi thượng thọ, phải thán phục sức đọc và sức viết của Nguyễn Khắc Phê. Điều này, cho thấy, ông bám sát thời đại ông đang sống – nhà văn thời cuộc -, ông cập nhật liên tục, quan tâm đến đời sống chữ nghĩa đương thời. Trong cách đọc, cách nghĩ, cách kiến giải của ông, bạn đọc thấy Nguyễn Khắc Phê rất thấu hiểu cũng như rất trí thức trong nhận định mọi vấn đề từ đơn giả đến phức tạp và có đôi khi, dẫn tới nan giãi. Đặc biệt, nhiều trang viết của ông không ít lần tiếp nhận nóng và bỏng khi đề cập đến những vấn đề “thời sự văn chương”. Người đời thường nói: tư chất thông minh là do trời cho còn trung thực và thiện lương là do người tự chọn thái độ sống thì ở Nguyễn Khắc Phê, ông có đủ cả hai tố chất ấy. Cũng vì vậy, tâm hồn bậc cao niên thượng thọ Nguyễn Khắc Phê vẫn sôi nổi hăng hái và mạnh mẽ tiếp bước trên “những chặng đường văn”!

Bàn chuyện người, rốt cuộc bộc bạch lòng mình! Nhờ vậy, bạn đọc thấy được ở Nguyễn Khắc Phê một tấm lòng dường như lúc nào cũng thao thức, trăn trở những mong đưa lòng người đến bến bờ tươi sáng đẹp đẽ hơn, cũng luống mong nhân tâm thêm sáng trong rạng tỏ nhân văn. Nhất là, vẻ đẹp nhân văn thuộc về truyền thống văn hóa dân tộc. Nhà văn lão thành Nguyễn Khắc Phê đã bền bỉ, âm thầm và chung thủy với văn chương, với quê hương trên nửa thế kỷ qua! Ông cho rằng thói quen đọc và viết vốn bởi muốn rèn trí nhớ, tránh bệnh tuổi già, … nhưng thực chất, có lẽ, bạn đọc cũng đã nhận ra viết và đọc đối với Nguyễn Khắc Phê còn là ký gửi bao nỗi niềm thế sự hôm nay cho thế hệ hậu nhân. Vì vậy, ông nói rầng “có thêm một tác phẩm được xếp hàng ngay ngắn, lâu dài trong thư viện nơi này nơi kia”. Hẳn ông, vẫn còn mong mỏi chia sẻ và gặp gỡ bạn lòng khắp nơi. Mà. kỳ thực, ai cầm bút lại không mong gặp được người tri âm tri kỷ. Không biết Nguyễn Khắc Phê đã gặp được người tri âm tri kỷ hay chưa nhưng trước hết, ông đã là người bạn tri âm với nhiều tác giả tác phẩm đương thời!

Sau khi miệt mài dõi theo cuộc “thông diễn” của nhà văn Nguyễn Khắc Phê, người đọc cần trở lại với tựa đề tập sách: “Những trang sách thức tỉnh con người – Tập phê bình ngoại hạng”. Lẽ vì đâu, có sự thức tỉnh này? Chắc hẳn, sau khi đọc, người đọc chắc hẳn tự trả lời được câu hỏi ấy! Ở đây, qua việc hội ngộ với lão nhà văn họ Nguyễn trong cuộc thông diễn, từ ngoài vào trong, từ nông đến sâu và chỉ như vậy thôi, cũng đủ gọi là thức tỉnh rồi! Ấy là, chưa kể đến những gợi mở có tầm vóc của Nguyễn Khắc Phê về phía những tác giả – tác phẩm được đề cập đến: khai mở/tiếp nhận đa chiều sẽ giúp bạn đọc nhận ra được điều cần thiết trong cuộc sống thường ngày đối với sinh hoạt văn chương nơi tâm hồn người.

Rõ là, đóng góp của tập sách “Những trang sách thức tỉnh con người” của Nguyễn Khắc Phê chính là khả năng nâng cao năng lực và nhu cầu thẩm mỹ của độc giả!

 TRẦN BẢO ĐỊNH

_________________

[1] Trần Văn Đoàn (2004). Tổng quan về Thông diễn học. Diễn đàn Khoa học về Con người. Tạp chí Nghiên cứu con người số 3 (12), tr.53(45-60).

[2] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.53(45-60).

[3] Từ Sơn (2010). Nhà văn Nguyễn Khắc Phê và cuốn tiểu thuyết mới xuất bản. Tạp chí Sông Hương (255/5-10). Trích xuất: http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c211/n5652/Nha-van-Nguyen-Khac-Phe-va-cuon-tieu-thuyet-moi-xuat-ban.html

[4] Nguyễn Khắc Phê (2005). “Đã đến lúc cần một cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật”. Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 5, tr.22-24.

[5] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.53(45-60).

[6] Võ Quê (17/04/2021). Nguyễn Khắc Phê và chuyện buồn vui, thêm bớt giữa đời thường. Trích xuất từ: https://thanhnien.vn/nguyen-khac-phe-va-chuyen-buon-vui-them-bot-giua-doi-thuong-post1057993.html

[7] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.53-54(45-60).

[8] Trần Văn Đoàn (2004). Sđd, tr.54(45-60).

[9] Nguyễn Thế Quang (2017). Dòng đời dữ dội và cốt cách nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Tạp chí Sông Hương số 338 (T.04-17). Trích xuất từ: http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c372/n25445/Dong-doi-du-doi-va-cot-cach-nha-van-Nguyen-Khac-Phe.html

[10] Nguyễn Văn Nhật Thành (06/10/2021). Ngôn ngữ – “thứ phương tiện gần như duy nhất và bắt buộc” trong nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê. Trích xuất từ: https://vanvn.vn/ngon-ngu-thu-phuong-tien-gan-nhu-duy-nhat-va-bat-buoc-trong-nghe-thuat-tieu-thuyet-cua-

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.