Thơ viết về Điện Biên Phủ

(Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ)

Vanvn- Chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” là một mốc son chói lọi trong lịch sử, đã ghi tiếp vào trang sử chống ngoại xâm của dân tộc ta cùng với Bạch Đằng, Chi Lăng, Hàm Tử, Đống Đa

Cuộc chiến đấu gian khổ trên chiến trường Điện Biên Phủ… Những hy sinh, mất mát, những gian nan, vất vả, những chiến công oai hùng, những hành động dũng cảm, những cử chỉ nghĩa tình… của cán bộ, chiến sỹ quân đội, Thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và cả những người nơi hậu phương là nguồn thi liệu và cảm hứng sáng tạo vô cùng lớn của thi ca.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của dân tộc, là linh hồn của cuộc kháng chiến, nhưng Người cũng là một nhà thơ. Là Chỉ huy tối cao, Bác luôn luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao chiến dịch Điện Biên Phủ. Bên cạnh đó, Bác cũng có những vần thơ động viên, cổ vũ bộ đội ta, thể hiện tình thương yêu bộ đội, dân công; thể hiện niềm tin tất thắng của quân và dân ta ở chiến trường Điện Biên Phủ. Khi quân ta bước vào chiến dịch, thấu hiểu được nỗi vất vả, gian lao của các chiến sĩ ngoài mặt trận, Bác viết bài thơ “Tặng bộ đội Điện Biên Phủ”:

Đá rắn, quyết tâm ta rắn hơn đá/ Núi cao, chí khí ta còn cao hơn/ Khó khăn ta quyết tâm vượt cho kỳ được/ Gian khổ không thể làm lòng ta sờn…

Lời thơ rắn rỏi, thể hiện ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá… của bộ đội ta. Đây chính là phẩm chất quan trọng của người chiến sỹ quân đội nhân dân, đội quân cách mạng, được tôi rèn trong thực tiễn đấu tranh giành độc lập tự do.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ hai từ phải sang) họp bàn đánh địch. Ảnh: Tư liệu

Sau 56 ngày đêm “Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt” Quân và dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, buộc quân Pháp phải đầu hàng. Trong niềm vui hân hoan của toàn dân tộc, Bác đã làm bài thơ Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Với lời thơ giản dị, dễ hiểu, cấu trúc thơ cuộn dọc, mạch lạc, kết hợp kể, tả pha chút phân tích, bình luận, tác giả đã khái quát những nét chính của toàn chiến dịch. Trong đó, nói lên được những khó khăn gian khổ. Những quyết tâm và ý chí quyết thắng của bộ đội ta trước tiềm lực quân sự và kinh tế rất lớn của quân địch. Để rồi cuối cùng ta đã thắng. Chính nghĩa đã thắng. Ý chí sắt đá, lòng quyết tâm và tinh thần quyết chiến quyết thắng đã thắng:

Bộ đội, dân công quyết một lòng,/ Xẻ non, đắp suối, vượt qua sông,/ Khắc phục khó khăn và hiểm trở;/ Đánh cho giặc tan mới hả dạ.// Một vạn sáu ngàn tên giặc Tây,/ Đều là tù binh hoặc bỏ thây.// Thế là quân ta đã toàn thắng/ Toàn thắng là vì rất cố gắng.- (Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ-Hồ Chí Minh).

Cũng trong âm hưởng của chiến thắng và niềm vui lớn của toàn dân tộc khi tin chiến thắng bay về, nhà thơ Tố Hữu viết:

Tin về nửa đêm/ Hỏa tốc hỏa tốc/ Ngựa bay lên dốc/ Đuốc chạy sáng rừng/ Chuông reo tin mừng/ Loa kêu từng cửa/ …Kháng chiến ba nghìn ngày/ Không đêm nào vui bằng đêm nay/ Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực…

Lời thơ như tiếng reo vang thoát ra từ lồng ngực. Một niềm hân hoan, niềm vui bất tận. Cả nước reo vui, cả dân tộc reo vui. Già trẻ, gái trai, bộ đội, dân công, nông dân, dân quân, thanh niên xung phong… reo vui  một “Điện Biên sáng rực/ Trên đất nước, như huân chương trên ngực”…

Bài thơ cũng khắc họa chân dung người “Chiến sĩ Điện Biên”:

Chiến sĩ anh hùng/ Đầu nung lửa sắt// Gan không núng/ Chí không mòn!…/ Những gian khổ, hy sinh:/ Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non…”

Và:

Những đồng chí thân chôn làm giá súng/ Đầu bịt lỗ châu mai/ Băng mình qua lưới thép gai…/ Những đồng chí chèn lưng cứu pháo/ Nát thân, nhắm mắt, vẫn còn ôm…// Dù bom đạn xương tan, thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh…/ Nhưng với một niềm tin chiến thắng:/ Lũ chúng nó phải hàng, phải chết/ Quyết trận này quét sạch Điện Biên! –(Hoan hô chiến sỹ Điện Biên -Tố Hữu).

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong bài “Bài ca Điện Biên Phủ” cũng khắc họa hình ảnh người lính Cụ Hồ tham gia chiến dịch với phẩm chất kiên cường, xông xáo, dũng cảm:

Người ngã lại người ngã./ Trên cánh đồng Mường Thanh./ Mắt quắc lên nảy lửa./ Chiến sĩ vút lao nhanh./

Và đặc biệt trong bài thơ Đất nước, Nguyễn Đình Thi đã có những câu thơ khắc tạc người Chiến sỹ cách mạng bằng một tượng đài kỳ vĩ:

Súng nổ rung trời giận dữ/ Người lên như nước vỡ bờ/ Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Khổ thơ chặt, gọn, chắc, ngôn ngữ thơ giản dị mà đẹp, mà sang trọng, hàm súc, đầy chạm khắc, có tính khái quát cao đến kinh điển.

***

Không nói điều to tát. Ở chiến trường, những cái tưởng như nhỏ nhoi, nhưng lại là sự góp phần không nhỏ cho mỗi chiến thắng. Nhà thơ Chế Lan Viên đã phát hiện ra đó là tiếng cuốc chim đào hào công sự:

Mỗi đêm một tiểu đội để xương thịt mình trong ruột đất/ Cho sáng ra chiến hào từng thước nhích dần lên/ Làm nên chiến thắng có tiếng hát vang trời các giàn đại bác/ Lại có im lìm của tiếng cuốc chim.- (Tiếng cuốc ở Điện Biên-Chế Lan Viên)

Mọi góc cạnh của cuộc chiến. Những nhỏ nhoi thậm chí cả những góc khuất của cuộc chiến – Một cuộc chiến chính nghĩa vì nền độc lập tự do của tổ quốc, đều có sức lay động những tâm hồn mẫn cảm. Người thi sỹ đã phát hiện ra hết sức tinh tế. Ở đây, không chỉ là cái âm thanh vật chất đơn thuần. Mà là cái nhìn rung cảm, là sự lạc quan và niềm tin tất thắng.

Trong niềm vui chiến thắng, khi đứng trước mộ anh hùng liệt sỹ Bế Văn Đàn, nhà thơ Xuân Diệu không khỏi xúc động “Bên mồ liệt sĩ; trái tim ta dừng/ Trái tim ta – cũng ngập ngừng”:

Nơi đây mộ Bế Văn Đàn/ Thân làm giá súng, thân làm cành xuân;/ Đang khi trận địa gian truân,/ Vai khiêng núi lửa diệt quân bạo tàn./ Quân ta cờ thắm khải hoàn,/ Mà người chiến sĩ đã tàn thịt xương.- (Mộ Bế Văn Đàn-Xuân Diệu)

Sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, đối với thi sĩ Chế Lan Viên là một sự khâm phục, nhưng cũng được ông nhìn ở góc độ hết sức bình dị. Bình dị mà đầy tính triết luận, đầy tính hình tượng:

Các anh đi đánh giặc/ Bảo vệ mùa/ Về sống ở trong dân/ Tô Vĩnh Diện, Trần Can/ Mộ anh Giót, anh Đàn/ Năm trăm mộ anh hùng ngời chói thóc// Cầm hạt thóc trên tay/ Nặng máu người đã khuất.- (Thóc mới Điện Biên – Chế Lan Viên).

Sự hy sinh của các anh, cuối cùng là đem lại an lành, hạnh phúc, ấm no cho người dân. Vậy thôi, ý nghĩa biết bao, bình dị biết bao.

***

Các anh đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước. Các anh đã hóa thân vào đất trời Điện Biên, vào cỏ cây, vào màu trắng hoa ban, một màu trắng tinh khiết:

Tôi lắng nghe Tổ quốc gọi thầm trong gió/ Tên những người con: Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn/ Mà tâm hồn trắng mãi với hoa ban…- (Thăm đồi A1-Tế Hanh)

Cùng trong tâm cảm đó, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu viết:

Lắng trong lời gió thầm thì/ Hoa hồng như muốn nói gì cùng ta// Biết đâu tên họ, quê nhà/ Trắng phau bia mộ, trắng nhòa nắng mai// Hoa hay máu thắm loang dài/ Ở nơi nghĩa địa, tượng đài hồng hoa.- (Hoa hồng ở Điện Biên-Nguyễn Đức Mậu)

Còn nhà thơ Anh Ngọc lại viết:

Trời Điện Biên mây trắng/ Màu mộ chí hàng hàng/ Màu bạc đầu bạn cũ/ Tìm nhau trong nghĩa trang.//  Trời Điện Biên mây trắng/

Màu xương trắng đồi hoang/ Trời Điện Biên mây trắng/ Trắng hoa lau bạt ngàn…- (Trời Điện Biên mây trắng-Anh Ngọc)

Và đây là cảm xúc của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm:

Bao giờ trở lại Điện Biên/ Viết câu lục bát đầu tiên trong đời/ Thắp hương hài cốt anh tôi/ Nhìn hoa ban trắng xóa đồi Him Lam.- (Thơ trở về nguồn-Hoàng Nhuận Cầm)

Ở đây, cái sự trắng trong, tinh khôi của những linh hồn bất tử… đã gợi những tứ thơ, những rung cảm cho các thi sỹ, lay động tâm hồn thi sỹ. Khiến các thi sỹ không thể không động bút.

***

Ở chiến trường khốc liệt, nhưng nhà thơ Trần Lê Văn vẫn phát hiện ra một chút yên bình, thi vị ngay giữa nơi tuyến lửa, nơi cái sống, cái chết cận kề. Nơi tưởng như chỉ có khói súng khét lẹt, chỉ có bết bê bùn đất và mảnh bom mảnh đạn:

Ao sen nơi tuyến lửa/ A1 ngày đêm pháo vẫn rền/ Noong Bua trầm lắng một ao sen/ Giữa hai trận đánh, quân ta nghỉ/ Tắm mát ao làng giữa Điện Biên.- (Chùm hoa Điện Biên-Trần Lê Văn)

Còn nhà thơ Bằng Việt, trong một chuyến lên với Điện Biên, trước những đổi thay và sự phát triển của Điện Biên, ông không khỏi trăn trở. Và ông thấy còn điều gì đó cần nhắn nhủ với người hôm nay:

Những mùa lúa đã vàng lên óng mắt/ Dưới chân rạ cày sâu còn bất chợt thấy xương người!/ Giành chiến thắng xong rồi/ Còn phải sống cho xứng tầm chiến thắng!- (Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh-Bằng Việt).

Và Văn Thảo Nguyên:

Ta về đây gặp lại điệu xòe/ Những mái nhà sàn ru cho ngực thở/ Khuôn mặt anh hùng lạc vào vách núi/ … Đêm sao rơi xuống lửa mơ màng/ Bình minh hồng cầu sắt Mường Thanh// Em múa xòe bên miệng súng khói chưa tan/ Rưng rưng ánh mắt/ Hai mươi năm ngỡ mới hai mươi ngày/ Ta vít cong cần rượu nồng say.- (Hai mươi năm múa điệu xòe hoa-Văn Thảo Nguyên)

Chiến trường khốc liệt là vậy. Sự tàn phá là vậy. Sự mất mát là vậy, nhưng điệu xòe em vẫn còn đây, mái nhà sàn còn đây, chóe rượu cần… còn đây. Văn hóa là cái không dễ gì hủy diệt bằng bạo tàn… Thông điệp cho các thế lực viễn chinh những mong dùng bạo lực đi áp đảo người khác đây chăng.

***

Xin được lấy những câu thơ của nhà thơ Xuân Sách – Những câu thơ đã dựng nên một tượng đài Điện Biên Phủ, để kết thúc bài viết:

Chín năm qua như tia chớp vạch ngang trời/ Soi sáng rõ khuôn mặt chung thời đại/ Những chiến sĩ quần nâu áo vải/ Trở thành anh hùng có tên và không tên- (Nhìn lại Điện Biên-Xuân Sách)

LÂM BẰNG

Nhà thơ Lâm Bằng tác giả bài viết

Người tham gia bắt sống tướng Đờ cát Tơ ri

 

Mười chín tuổi anh vào bộ đội

Mũ kè áo nâu, bao gạo vắt trên lưng

Đồng cói quê anh mùa này nước lợ

Tiễn anh đi, rơm cói rộn đường làng.

 

Súng bỗng nổ phía Hồng Cúm, Him Lam

Đơn vị anh hành quân về nơi ấy

Đêm đào hào, mưa, mưa, lầy lội

Áo trấn thủ ướt nhòe dính bùn đất bết bê.

 

Đêm Điện Biên không trăng không sao

Mũ lưới gác lên bờ công sự

Thèm điếu thuốc lào nhưng không thể bật lửa

Những câu chuyện nhớ nhà râm ran dưới hào sâu.

 

Chiều nay.

Súng bỗng nổ. Sơn pháo ta thét lửa

Thít chặt vòng vây, lòng chảo Mường Thanh

– Đồng chí Hiếu!

– Có tôi.

– Đồng chí Nhỏ

– Có tôi

– Hai đồng chí tiến vào cửa trái

Nhận lệnh từ chỉ huy, Hiếu xông đến cửa hầm.

 

Khói súng chưa tan, đại đội trưởng Tạ Quốc Luật, chiến sỹ Hoàng Đăng Vinh…

Súng trong tay, các anh vào hầm chỉ huy cứ điểm

Tướng Đờ Cát Tơ ri buông súng

Hai tay giơ quá đầu từ trong khói pháo bước ra.

 

Đào Văn Hiếu* quát lớn: Lơ ta manh**

Cả Bộ tham mưu cứ điểm theo nhau, cúi mặt

Cờ quyết chiến tung bay trên nóc hầm Đờ Cát

Chiều Điện Biên nắng bỗng rực vàng.

 

Ôi đẹp làm sao, mùng bảy tháng năm

Cánh đồng Mường Thanh rực trời hoa ban trắng

Anh nông dân làng Mai, Nga Sơn đất cói

Bóng nhòe đi trong sắc cờ đỏ Điện Biên.

————

* Đào Văn Hiếu (sinh năm 1932), quê làng Mai, xã Nga Hưng, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, chiến sỹ tham gia bắt sống tướng Đờ cát Tơ ri trong trận Điện Biên Phủ, ngày 7.5.1954.

** Giơ tay lên (Tiếng Pháp)

 

Chiếc mũ lưới Điện Biên

 

Chiếc mũ lưới Điện Biên

Cha nâng niu như báu vật.

Chiếc mũ bết đất

Bết đất nâu đêm đêm đào công sự Him Lam.

 

Chiếc mũ lưới, bạc màu mưa nắng Mường Thanh

Trận đánh đồi A1 mũ sạm đen khói súng

Đêm hành quân lưới ngụy trang tơ tướp vết gai cào

Và cả mảnh đạn găm lúc công đồn.

 

Chiếc mũ lưới Điện Biên

Cha nâng niu như báu vật

Mỗi khi đứng trước mũ, cha rưng rưng nhớ đồng đội năm nao.

 

Cha đi rồi

Mũ vẫn để nơi bàn thờ

Như cha vẫn hằng nhớ về đồng đội.

 

LÂM BẰNG

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *