Thơ Nguyễn Trung Nguyên: Bây ráng học để làm người nhân nghĩa

 Vanvn- Nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên là hội viên mới Hội Nhà văn Việt Nam năm 2022. Tên khai sinh Nguyễn Việt Trung, sinh ngày 12.02.1959, quê quán Ô Môn, Cần Thơ hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Cần Thơ.

Tác phẩm của Nguyễn Trung Nguyên đã xuất bản: Lời khẩn cầu của đất – Bút ký – NXB Văn Nghệ 2008, Chút lãng mạn đồng bằng – Tập thơ – NXB Hội Nhà văn 2015, Thơ tình Nguyễn Trung Nguyên – Tập thơ – NXB Hội Nhà văn 2016, Cuộc hành trình kỳ lạ – Văn xuôi – NXB Hội Nhà văn 2017, Thơ trên tường facebook – Tập thơ – NXB Hội Nhà văn 2018.

Nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên

Ông đã được nhận các giải thưởng văn học: Giải III và giải KK cuộc thi viết về đề tài Tệ nạn xã hội do Sở Công An tỉnh Cần Thơ phát động năm 2002, Giải KK cuộc thi Bút ký & Truyện ngắn tỉnh Cần Thơ năm 2002, Giải III cuộc thi Thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ II năm 2003, Giải II cuộc thi Thơ tỉnh Cần Thơ năm 2004, Giải II (không có giải I) cuộc thi Truyện ngắn viết về ngành Thuế Cần Thơ năm 2004, Giải II cuộc thi Bút ký văn học TP. Cần Thơ 2006, Giải KK cuộc thi “Viết về mái ấm gia đình” do Tạp chí Truyền hình Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức năm 2007, Giải II cuộc thi Thơ Bộ VHTT đề tài xã hội năm 2008, Giải III cuộc thi Thơ ĐBSCL 2009, Giải I cuộc thi Thơ tỉnh An Giang 2010, Giải IV cuộc thi Ký sự “40 năm những dấu ấn không thể nào quên” do báo Sài Gòn giải phóng tổ chức 2015 và một số giải thưởng khác.

 

Hội viên mới Hội Nhà văn Việt Nam 2022:

>> Ôi ngát hương thời gian – Tuỳ bút của Huỳnh Dũng Nhân

>> Thơ Huỳnh Thúy Kiều: Rót lòng mình vào chập chùng sương khói

>> Ráng chiều cù lao – Truyện ngắn Tống Phước Bảo

>> Tượng đồng – Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Hà

>> Thơ Cao Nguyên Quyền: Mặt giấy mọc nghiêng mầm buồn

>> Lưỡn – Truyện ngắn của Trịnh Đình Nghi

>> Thơ Bùi Việt Phương: Cây lên xanh nhận đất giữ biên thùy

>> Cuộc phiêu lưu của Ỉn Hồng – Truyện Đào Thu Hà 

>> Truyện ngắn của Đỗ Xuân Thu: Lão “Chõe Bò”

>> Thơ Huỳnh Văn Quốc: Từ trong giá lạnh khơi nguồn mùa sau

>> Hoàng hôn có nắng – Truyện ngắn Hoàng Thị Trúc Ly

>> Thơ Bùi Minh Vũ: Gọi rẫy thiêng liêng như tên buôn, tên vợ, tên chồng

>> Cuộc phiêu lưu của Poly – Truyện ngắn của Hồng Cư

>> Thơ Nguyễn Phong Việt: Đời sợ lắm những ngày im tiếng gió

>> Một chuyến hoa xuân – Truyện ngắn Trác Diễm

>> Hai truyện ngắn thiếu nhi của Lê Đức Dương

 

NGHE ÚT TRÀ ÔN CA “TÌNH ANH BÁN CHIẾU”

 

Chiều châu thổ khề khà ly rượu đế

Tréo ngoảy đùi nghe Út Trà Ôn

Giọng kể lể “Tình anh bán chiếu”

Nỗi đắng cay của kiếp thương hồ

 

Mùi biết bao nhiêu chổ dứt câu xề

Ngày xuôi ngược đêm thức cùng sông nước

Đôi chiếu bông dệt cho người năm trước

Trở lại đây em đã theo chồng

 

Ngã nào đâu em vội vã xuôi dòng?

Sông bảy ngã ông cách chi tìm được!

Đôi chiếu ấy hãy tặng tôi một chiếc

Đêm gối đầu chắc sẽ nằm mơ

 

Ông đừng trách chi chuyện người ấy làm ngơ

Không biết ông nâng niu từng cọng lác

Thời bây giờ người ta nằm nệm mút

Công của ông là công cốc rõ ràng!

 

Tôi với ông đều là kiếp dã tràng

Cố xe cát xây lâu đài ảo mộng

Người tôi yêu chê tay tôi lọng cọng

Dệt chẳng nên thân chiếc chiếu sang giàu

 

Ông mất nàng mà chẳng biết nàng đâu

Tôi biết rõ mà cuối cùng vẫn mất

 

Vậy ông với tôi ai là người hạnh phúc !?

 

VỀ NHÀ XƯA UỐNG RƯỢU

    * Tặng Anh Hai Lúa nhà tôi!

 

Tưởng chừng như lâu lắm

Mới gặp lại anh mình

Mời nhau chung rượu nhạt

Sẻ chia một chút tình

 

Anh một đời lận đận

Vợ quê đàn con thơ

Chữ nghĩa xưa trôi cả

Theo con nước tràn bờ

 

Có dăm con cá bự

Đem về biếu cha già

Cọc cạch xe đạp cũ

Nắng cháy đường xa xa

 

Ta mòn tay thơ phú

Nắng không tới lưng trần

Về thăm cha tay trắng

Nhìn anh mà rưng rưng

 

Vẫn cái cười hào sảng

Anh khen thơ em mình

Nhà ta nhờ có chú

Con cháu phần hiển vinh

 

Tay nâng chung rượu nhạt

Nghe đắng cả tim mình

Anh biết đâu thơ phú

Chợ đời giờ rẻ khinh

 

Bao năm hao giấy mực

Vợ con vẫn nhọc nhằn

Thơ nào nói hết được

Cái nghĩa tình trăm năm

 

Chiều nay ngồi uống rượu

Mái nhà xưa năm nào

Anh em đường phiêu bạt

Hội ngộ nào biết đâu

 

Tiễn anh về nơi ấy

Ta nhìn theo ngậm ngùi

Chiều ngã vàng trang giấy

Bóng một mình ta trôi.

 

TRỜI MƯA Ở HUẾ!

       Gởi nhà thơ Võ Quê 

 

Trời mưa ở Huế ra sao nhỉ!

Có kéo dài luôn… đến mấy ngày?

Bằng hữu có đun bầu rượu nóng

Đốt hương cùng mưa gió thi gan

 

Trời mưa ở Huế buồn sao nhỉ!

Có như chàng bán chiếu mất tình?

Hay giọt rớt đêm tàn điện ngọc

Đất rồng nước mắt cũng lung linh

 

Trời mưa ở Huế thơ sao nhỉ!

Hai vạt sông Hương đã ướt mềm

Áo em trắng mờ trời mưa trắng

Da ngà trong trắng đến đau tim

 

Trời mưa ở Huế hay sao nhỉ!

Có giúp người đi bớt nhớ nhà

Cởi khăn choàng tắm làm dải lụa

Gởi hồn ta đến với quê xa

 

Trời mưa ở Huế. Ừ! Mưa Huế

Răng… chừ… tình cứ trải mênh mang

______                                                                                  

* Chữ nghiêng: Ý thơ Nguyễn Bính

Tranh của họa sĩ Ngô Xuân Khôi

NÓI VỚI CHÚ CHIM CÔ ĐƠN

 

Buổi trưa chim hót trên đầu nắng

Gió đuổi mây bay kéo hạ về

Chim kêu ý bảo chừng ta nghỉ

Vui gì sáng tối cứ còng lưng

 

Chim ạ! đành rằng tay cầm bút

Nay thử cầm leng vẫn thẳng hàng

Xong chuyện áo cơm ta sẽ nhớ

Trồng một luống hồng mi ghé sang

 

Ta sẽ trồng lại cả thời tuổi trẻ

Đã lỡ tay hoang phí dọc đường

Nếu được mi cứ về làm bạn

Cận kề ríu rít chuyện yêu đương

 

Buổi trưa chim hót nghe là lạ

Sao chẳng sóng đôi chỉ một mình

Chả lẽ mi cũng buồn mất bạn?!

Một mình một bóng nắng rung rinh

 

Mi làm ta nhớ thời trai tráng

Vụng trộm làm thơ bỏ hộc bàn

Thiên hạ có xem không chẳng biết

Đến giờ sực nhớ chợt bâng khuâng

 

Thôi nhé! có buồn mi cứ hót

Ta phải đào xong hết luống nầy

Mai cây ra quả, hồng xanh lá

Chắc hẳn tiếng cười sẽ vút bay.

 

VÙNG SÂU QUÊ TÔI

 

Quê tôi – bạn bè gọi “vùng sâu”

Độ mặn của nước – tính bằng lớp lớp váng phèn

bám vào da cha, da mẹ

Tóc ông nội bạc – lẫn cả màu vàng của nắng

Lưng bà còng – cong như con ốc lác mùa khô

 

Ngày cha sinh – ông nấu nước chụm rơm

Bà đẻ rớt trên đồng mùa giáp hạt

Bông súng, cù nèo cũng qua ngày đói rét

Hạt gạo dầu hơi – nửa trắng nửa vàng không đủ mà ăn

 

Ông hay tự trào: “Tao dốt đặc cán mai!

Bây ráng học để làm người nhân nghĩa”

Vậy mà Lục Vân Tiên – không hiểu sao ông chẳng quên một chữ

Cái nghĩa “bất bằng…” bám vào ông như rễ đước, rễ còng

 

Chúng tôi lớn lên nghe quen vần trắc, vần bằng

Đã thuộc tự bao giờ câu thơ lục bát

Mẹ bảo chúng tôi nhớ câu: “Nhân sinh tự cổ…”

Cha dạy chúng tôi: “Cái cò lặn lội bờ sông…”

 

Vùng sâu quê tôi – hạt lúa lớn lên cũng chẳng dễ dàng

Mùa khô nứt nẻ – lũ cuối nguồn đầy mãi

Thế kỷ mới – vẫn còn chuyện lo cứu đói

Chỉ có chữ tình – mái lá nào cũng thật dư thừa

 

Tôi đi học xa – Thím Bảy chèo xuồng tiễn đưa

Bác Năm dúi vào bọc đòn bánh tét

“Ráng học nghe con! Thành tài về giúp quê – giúp nước

Câu dặn dò chung của cả xóm nghèo

 

Thành thị xa cứ nhớ mãi vùng sâu

Đêm thắc thỏm tiếng ễnh ương: “Quềnh quệch…”

Mẹ lên thăm kể: “Quê mình có điện…”

Tôi nghe mà nước mắt rưng rưng.

 

ĐIỂM DANH ĐỒNG ĐỘI

 

Năm hàng dọc – những mộ bia đứng thẳng

Một hàng ngang – kia lau trắng cuối trời

Ba mươi năm! Nay điểm danh lần nữa

Những đứa – những thằng biền biệt xa quê!

 

Đâu hết rồi! Đời lính trẻ ngông nghênh

Ba lô cóc ôm cả hồn danh tướng

Da ngựa bọc thây – “nhân gian bất kiến…”

Tao nhớ tụi mầy như nhớ giai nhân!

 

Mãi mùa xanh – mãi hai mươi tuổi Trường Sơn

Thằng Hiển – Cần Thơ, thằng Hùng – Kinh Bắc

Cung đường ngày xưa bom rơi trụi lá

Bồi đắp máu xương nay đã xanh màu

 

Tao trở lại đây màu trắng trên đầu

Men rượu trắng mỗi năm mẹ khóc

Những đứa con gái trắng trinh như ngọc

Thiếu phụ buồn! Trắng song cửa chiều hôm

 

Đâu hết rồi! Những “mi – tớ – chi – mô”

Khi cất giọng cả ba miền góp mặt

Về đây uống cùng tao chung rượu nhạt!

Như ngày xưa chia sớt miếng rau rừng

 

Chiều Trường Sơn lộng gió đại ngàn

Hồn lính trẻ – đồng đội già khóc bạn

Thằng mất tuổi tên – đứa không còn xác!

Đất nước nầy hạt bụi hóa linh thiêng

 

Hàng dọc – hàng ngang, đồng đội điểm danh

Những nấm mồ xếp hàng ra trận

Nén nhang trắng khóc tụi mầy lần cuối

Mai gặp nhau rồi… cùng thét xung phong!

 

ĐIỀU MUỐN NÓI VỚI CON

 

Quê mẹ – quê cha chẳng có núi cao

Cũng chẳng có bạc đầu sóng vỗ

Đất đồng bằng mỗi năm một mùa bão lũ

Ông bà thắc thỏm lo âu

 

Con bây giờ sống ở phố xa

Ba tuổi đã quen đèn đường xanh đỏ

Mỗi dịp về quê là một lần ghẻ lở!

Nước phù sa lạ trẻ thị thành

 

Con đâu tưởng tượng được rằng

Ông bà xưa lượm mù u thắp đuốc

Lụa mo cau – sâu kèn vấn thuốc

Nuôi cha khôn lớn thành người

 

Cha cũng đã ăn cả đời

Hạt gạo ẩm – thiếu no ngày thất bát

Mò con cá, con cua khi giáp hạt

Bông súng, cù nèo độn cháo thay cơm

 

Cha mẹ sinh ra trai ruộng – gái đồng

Con sinh ra lại xa đồng – xa ruộng

Quãng đường cách xa thật ra chẳng mấy

Vậy mà biết bao lâu chưa về

 

Khi con lớn lên mọi chuyện khác rồi

Mẹ cha khổ để đời con sung sướng

Nhưng con ơi! Quê mình lận đận

Mong con đừng bao giờ quên.

 

NGUYỄN TRUNG NGUYÊN

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.