Thắp ngọn lửa tình với môn Ngữ văn – Ký của Võ Nguyễn Huỳnh Như

Vanvn- Dù đã tốt nghiệp trường trung học phổ thông Tân Châu, An Giang được gần bốn năm, bây giờ tôi đã là một cô sinh viên của một trường đại học trên thành phố, thế nhưng những kí ức về thời áo trắng vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi, nhất là hình ảnh một cô giáo đang ngày đêm thắp nên ngọn lửa tình với môn Ngữ văn cho biết bao thế hệ, trong đó có cả tôi. Một cô giáo với dáng người nhỏ nhắn nhưng lại có một giọng nói rất khỏe, tính tình vừa dịu dàng nhưng lại cực kỳ nghiêm khắc. Cô còn được so sánh như “sát thủ phái Ngữ văn”.

Năm lớp mười và lớp mười một, tôi là một học sinh theo học ban tự nhiên của trường, nhưng chả hiểu sao dòng đời đưa đẩy đến năm mười hai tôi lại chọn vào lớp chuyên xã hội. Tôi nhớ hồi đấy, mỗi đầu năm, điều chúng tôi trông chờ nhất là biết được những giáo viên nào sẽ phụ trách giảng dạy lớp mình, khi tôi biết cô dạy lớp tôi, tôi đã mang cảm giác dè chừng vì trước đó đã được nghe tụi cùng khối bảo cô “gắt” lắm và còn được nhắc đến như “sát thủ” trong tổ Ngữ văn của trường.

Cây bút trẻ Võ Nguyễn Huỳnh Như ở An Giang

Trong trạng thái hoang mang, tôi đã đi hỏi cảm nhận của những anh chị khóa trên khi đã học qua cô, tôi lại càng hoang mang gấp bội khi nhận được những kinh nghiệm chia sẻ của anh chị nếu được cô dạy môn Văn, chẳng hạn như: hôm nào cũng sẽ trả bài, lạng quạng là lên sổ đầu bài như chơi, nhìn sơ ngang là biết ai đang dùng phao trong giờ kiểm tra và có cả những điều đặc biệt mà đó giờ em chưa từng thấy ở một giáo viên nào.

Chính những lời chia sẻ của các anh chị đã đưa tôi vào một khung bậc cảm xúc vô cùng kì lạ của năm cuối cấp ba mà tôi gọi là “không biết có sống sót qua khỏi con trăng này không?”. Rồi điều gì đến cũng đã đến, ngày cô nhận lớp tôi, ngoài những thông tin giới thiệu cơ bản, tôi còn biết thêm được tin cô còn đảm nhận vị trí phó chủ nhiệm của lớp tôi. Lúc đó tôi còn tự nhủ “Chết mày rồi, vỏ quýt dày gặp móng tay nhọn rồi, chuyến này chắc là xỉu nghiêng xỉu dọc luôn”. Sau ngày hôm đó, những chuỗi ngày “ác mộng” mới thật sự ập đến với tôi và lớp 12C, đó là những sự kiện mà có dành cả một ngày để tôi kể cũng chẳng hết.

Cô có thói quen lên lớp rất đúng giờ, cứ hôm nào môn Văn có hai tiết đầu, tiếng trống vào tiết vừa vang lên thì cô đã đi đến cửa lớp, ai mà đi sau cô thì cứ coi như là đi trễ và lên sổ đầu bài. Trường tôi lúc đấy lại có quy định trong một tuần cứ có ba lượt lên sổ đầu bài là sẽ mời hoặc thông báo cho phụ huynh biết. Tôi đi học xa nhà và ở trọ sát bên cạnh trường, lại vừa có thêm cái tính lề mề và có thói quen nước đến chân mới nhảy, mỗi buổi sáng cứ bảy giờ vào lớp thì bảy giờ kém mười tôi mới bắt đầu thức dậy và chuẩn bị đi học, thế là lúc nào tôi cũng trễ hơn giáo viên tầm năm mười phút. Và đó chính là nỗi ám ảnh đầu tiên không chỉ riêng tôi mà là của cả lớp tôi đối với cô, chính là sự nghiêm khắc về giờ giấc.

Nhờ sự nghiêm khắc về thời gian mà cả năm học mấy đứa cùng lớp vào học rất đúng giờ, ngay cả một số đứa lề mề giống tôi cũng không bao giờ thấy đi trễ. Mỗi khi có tiết Văn đầu buổi, tôi đã phải dậy từ lúc sáu giờ, đến sáu giờ hai mươi đã có mặt ở lớp, tay phải vừa múc cơm ăn sáng, tay trái lật tập dò bài. Đây là hình ảnh quen thuộc của cả lớp 12C lúc đấy, nó được hình thành từ một nỗi ám ảnh thứ hai là trả bài. Trừ buổi đầu tiên học bài “Tuyên ngôn Độc lập”, tất cả những buổi sau đó cô đều trả bài, hình thức như kiểm tra trên giấy, cô chỉ đọc một câu hỏi ngắn và cả lớp có mười lăm phút làm bài rồi nộp lên, cô sẽ “chọn yêu thương” ra năm cái tên để lấy điểm.

Tôi nhớ như in cảm giác mỗi ngày sau khi đi học thêm về, làm hết tất cả mọi thứ xong và học các môn khác thì đúng mười một giờ tôi mới bắt đầu học môn Văn. Cảm giác học Văn lúc đấy ám ảnh tôi đến nỗi có những bài như “Vợ nhặt”, “Người lái đò sông Đà” hay “Ai đã đặt tên cho dòng sông” tôi phải học đến tờ mờ sáng mới xong, lại có những khi chiếc não của tôi bị bão hòa không thể dung nạp thêm kiến thức, tôi chỉ đành ôm cuốn tập Văn mà khóc nức nở trong bất lực vì học mãi mà chẳng thuộc. Bởi vì cô yêu cầu chúng tôi phải thuộc như in từng dẫn chứng trong tác phẩm và phải dẫn chứng chính xác từng câu từ của tác giả mỗi khi đưa vào bài viết của mình, mà chúng tôi thì hay có thói quen học vẹt rồi sau đó lại chế thêm cho đậm đà. Có lần, lớp tôi trả bài “Vợ chồng A Phủ, có đứa viết rằng “Tô Hoài đã khắc họa nhân vật Mị đầy đau khổ lầm lũi như con bò nuôi trong xó cửa, Mị tưởng mình là con trâu, mình cũng là con bò. Con bò thì chỉ biết ăn cỏ và đi làm thôi”, cô đã đọc lên cho cả lớp nghe và chỉ ra cái tai hại của việc không nắm được dẫn chứng thì vô tình “không phải Mị là con bò mà đứa viết cái bài này mới là con bò”. Lớp tôi được một trận cười phá lên và kỉ niệm ấy luôn được chúng tôi nhắc lại mỗi lần họp lớp vì đến giờ vẫn chưa biết đứa nào năm đó là con bò.

Nhưng mỗi đợt trả bài của cô không phải chỉ có lấy điểm, cô luôn xem hết những bài của các bạn trong lớp, chỉ cần đọc sơ qua là cô đã biết chính xác là bạn đó có học bài hay không. Cái giá phải trả của việc không học bài trước khi đến lớp cũng chính là nỗi ám ảnh thứ ba mang tên chép phạt. Cứ mỗi một lần trả bài, cô đều xem qua hết tất cả các bài của cả lớp, ai may mắn được gọi tên sẽ được cô thưởng cho mười lần bài phạt vì đã có công sáng tạo dẫn chứng và lời văn của tác giả hoặc có sự tiết kiệm giấy mực nên đã bỏ giấy trắng để lần sau có thể xài lại. Hồi đấy tụi tôi hay bảo với nhau, đứa nào học cô mà không bị chép phạt thì chắc đứa đó phi thường lắm, dĩ nhiên là lớp tôi đều là những người bình thường nên đứa nào cũng bị chép phạt cả. Có khi giấy bài phạt nhiều đến nỗi cô đã đề nghị chuẩn bị một cái thùng để bỏ giấy chép phạt vào đó, cuối tháng đi bán giấy vụn để làm giàu cho quỹ lớp. Đến giờ tôi cũng chẳng nhớ nổi tôi đã đóng góp bao nhiêu trong đó vì tôi cũng là một cổ đông bài phạt ưu tú của môn cô. Nhưng đừng nghĩ rằng không học bài nhưng vẫn có thể thoát khỏi bài phạt nhờ xem tài liệu trong giờ của cô, cô mà gác kiểm tra thì lớp im lặng đến nổi chỉ nghe được tiếng quạt trần kêu, lâu lâu thì có tiếng đứa nào thở dài vì không làm bài được, đứa nào cả gan xài phao thì vinh danh sổ đầu bài hạ hạnh kiểm như chơi, cô chỉ nhìn sơ ngang là biết ngay.

Nỗi ám ảnh thứ tư là trang điểm trong giờ học của cô, trước giờ có tiết Văn, lũ con gái trong lớp chúng tôi chẳng bao giờ dám thoa son trát phấn, họa mài uốn mi gì cả, nếu để cô thấy là cô bắt phải đi tẩy trang ngay. Cô bảo vì chúng tôi còn đang ở độ tuổi xuân xanh, nét đẹp thiếu nữ ở giai đoạn này không phải là đẹp vì son vì phấn mà là một nét đẹp tự nhiên, trong sáng và thuần khiết, đừng để những thứ này làm chúng tôi già dặn đi. Tôi thấy nó cũng đúng, đúng đối với những bạn gái bình thường hiếm khi trang điểm, chứ đối với một số đứa hay trang điểm của lớp tôi, chúng nó bảo rằng việc bắt chúng nó tẩy trang thì khác nào biến chúng nó thành “cái xác chết trôi”. Nhưng vì quy định của cô, tôi và mấy đứa đều thực hiện theo, đến giờ còn những tấm ảnh mặt mộc để đời mà thi thoảng chúng tôi vẫn lôi ra xem lại. Buồn cười nhất là chỉ cần hết tiết, cô vừa bước ra khỏi lớp là chúng nó lại lôi mỹ phẩm ra bôi bôi trét trét. Có đợi, cô bất chợt quay lại lớp vì để quên đồ, chúng nó giật mình bôi đi và lại ngồi vẽ lại từ đầu, thế là hết giờ giải lao.

Còn rất nhiều nỗi ám ảnh thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật như: soạn bài, chép bài, kiểm duyệt đạo văn mẫu trên mạng,… cùng với những quy định mà tôi đã từng trải nghiệm và nhận ra rằng những điều đặc biệt này chỉ có ở cô chứ tôi chưa từng thấy ở giáo viên nào khác, chính những điều đặc biệt của cô cũng đã giúp tôi của năm cuối thời học sinh đặc biệt hơn tôi của trước giờ. Mười hai năm làm học sinh, tôi chẳng bao giờ chép bài đầy đủ, chẳng bao giờ soạn bài đầy đủ, và cũng chẳng bao giờ tự mình viết ra một bài văn hoàn chỉnh mà không nghía nhẹ qua văn mẫu. Thế nhưng ở năm lớp mười hai, Ngữ Văn là môn học duy nhất tôi chép không sót một chữ nào kể cả bài đọc thêm hay là một cái ghi nhớ, là lần đầu tiên tôi viết hết quyển tập 200 trang của mình, lần đầu tiên tôi soạn bài đầy đủ, lần đầu tiên tôi tự viết nên một bài văn hoàn chỉnh mà không xem văn mẫu, lần đầu tiên quyển tập Văn của tôi đã được đàn em ở thế hệ sau xin lại và lưu truyền tận 2-3 năm, cùng vô số những lần đầu tiên khác của tôi. Cô còn rèn cho học sinh của mình kĩ năng chép bài điêu luyện mà kĩ năng ấy sau này đã giúp ích cho tôi rất nhiều ở giảng đường đại học. Cô không có thói quen đọc từng câu từng chữ cho học sinh chép, cô chỉ giảng bài, giảng rất nhiều thứ và mở rộng rất nhiều vấn đề, học sinh cần phải có kỹ năng chắt lọc và ghi chép những thứ trọng tâm. Suốt một năm học mười hai, chỉ kể riêng môn Văn, tôi đã sử dụng hết ba quyển tập nháp để chép bài cô giảng, một quyển tập dày để chép lại những thứ nguệch ngoạc trong vở nháp rõ ràng và sạch đẹp hơn, một quyển tập dày khác phục vụ cho việc chép bài phạt và hai quyển tập cho việc soạn bài. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi phải dùng nhiều tập như thế cho một môn học.

Cùng với vô số những điều mà tôi và lớp tôi xem là “ám ảnh” với cô ở năm lớp mười hai, cô cũng là người đem lại nhiều kỉ niệm cho chúng tôi. Với riêng tôi, cô chính là người đã truyền cảm hứng cho tôi để tôi lựa chọn đi theo con đường văn chương. Trước đó tôi đã từng nghĩ rằng văn chương không dành cho mình, nhưng kể từ khi tôi đạt được hai con điểm mười môn Văn của cô, tôi đã suy nghĩ lại. Để lấy được con điểm mười từ cô rất khó, ngay cả trong lớp tôi thì chỉ có tôi là duy nhất có hai con điểm mười. Thế nên con điểm ấy làm tôi vô cùng tự hào, tự hào hơn cả con điểm Văn thi đại học, mặc dù nó chỉ là cột điểm trả bài miệng nhưng nó chính là ngọn lửa đầu tiên thắp lên tình yêu của tôi dành cho môn Văn. Không chỉ là người thắp lửa, cô còn là một người giáo viên tận tụy khi đã chọn dìu dắt học sinh của mình đến tận ngày cuối cùng trước khi xuất trận.

Hồi đấy, sau khi kết thúc khóa ôn thi trung học phổ thông quốc gia ở trường, giáo viên có thể xem như đã hoàn thành nhiệm vụ của mình đối với học trò, thế nhưng cô đã gọi tôi và một vài bạn khác đến nhà cô, để cô ôn thêm kiến thức cho chúng tôi mà không lấy phí, vì cô biết chúng tôi muốn thi vào những trường top với những số điểm khá cao. Một trong những lần cô làm tôi nhớ mãi, vào những ngày tôi đang chạy nước rút đến kì thi tốt nghiệp, thế mà những bài văn của tôi câu từ vẫn còn cứng ngắc và khô khan, cô đã bảo tôi rằng “Câu văn em viết ra nó khô cứng và cộc lốc như chính con người em vậy, nếu em không đọc, không viết nhiều hơn thì em không sửa được cái khuyết điểm này đâu”. Lúc đấy tôi thật sự không tin và không chấp nhận sự thật đấy, tôi nghĩ bao nhiêu kiến thức tôi học đã nhiều hơn những bạn trong lớp và đã đủ cho bản thân tôi rồi, tôi nghĩ mình không cần phải cải thiện nữa. Nhưng kể từ khi tôi lên đại học, dần dần tôi càng thấy nhiều người nói với mình như vậy, tôi đã lôi những bài văn cũ ra đọc lại và nhận ra rằng nếu lúc đó tôi nghe lời cô, có thể bây giờ văn phong của tôi đã tốt lên rất nhiều so với hiện tại. Rất nhiều lần tôi đã thấy nuối tiếc vì đã không vâng lời cô sớm hơn.

Tôi ngồi viết những dòng này vào những ngày đầu của tháng mười một, gió bấc đã bắt đầu thổi mạnh hơn. Năm nay là một năm khá đặc biệt, Covid-19 xuất hiện đã làm cho đời sống mọi người có nhiều biến động. Vì dịch bệnh nên có những sự kiện vô cùng đặc biệt đã xảy ra như việc học sinh đã phải ngồi hằng giờ trước màn hình điện thoại hay màn hình máy tính thay vì đến trường đến lớp, buổi khai giảng diễn ra giữa một sân trường vắng bóng học trò… Dịch bệnh cũng làm thời gian trôi qua nhanh hơn, đến độ bây giờ tôi mới bất giác nhận ra rằng chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa thì đã đến Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Đã bốn năm trôi qua, tôi không còn cảm giác của một đứa học trò hớn hở chuẩn bị những món quà để dâng lên thầy cô nhân dịp 20-11 nữa. Cũng đã bốn năm rồi, kể từ khi rời xa mái trường cấp ba, tôi chẳng có dịp nào để ghé thăm người cô yêu quý của mình, thi thoảng chỉ là một vài tin nhắn hay đôi ba dòng bình luận của cô trò chúng tôi được diễn ra trên Facebook. Không biết bây giờ cô đã có thay đổi gì không hay vẫn là một cô giáo nhỏ nhắn trong tà áo dài thướt tha, hằng ngày vẫn đều đặn đến lớp mang cặp kính lão soi từng con chữ, và gõ đầu lũ trẻ lần cuối trước khi chúng rời xa mái trường cấp ba để ùa vào đời. Không biết bụi phấn giờ đã nhuộm màu tóc cô chưa? Tiếng giảng bài ngân vang qua ô cửa sổ giờ vẫn còn thánh thót như xưa? Và cô còn nhớ người học trò này không nữa?

Với tôi, cô là một giáo viên đặc biệt nhất trong quãng đời học sinh của mình, cô đã để lại trong ký ức tôi rất nhiều những kỉ niệm. Cô đã vẽ nên một phần trong tuổi áo trắng của biết bao thế hệ, cũng là người hằng ngày lặng lẽ chèo thuyền đưa biết bao vị khách sang sông, dù khó tính và nghiêm khắc nhưng cô rất được học trò yêu quý vì sự tận tụy với nghề nhà giáo. Nhiều năm như vậy, có những người chắc là đã quên đi bóng dáng của người cô ấy, nhưng cũng sẽ có những người nhớ đến cô và luôn muốn dành cho cô những lời tri ân sâu sắc nhất.

Bốn năm kể từ ngày cô dìu tôi đi đến trước cánh cửa đại học, cô buông tay và vẫy chào tôi lần cuối để tôi có thể bước qua một khung trời rộng lớn khác, còn cô phải quay về những thường nhật để tiếp tục hành trình dìu dắt những thế hệ của trường Tân Châu đến bờ tri thức, tôi vẫn chưa có dịp để nói ra một lời tri ân chân thành từ tận sâu trái tim của một đứa học trò đã được cô dạy bảo.  Lại một mùa tri ân nữa sắp đến, cứ mỗi mùa tri ân như thế đi qua, tôi luôn tự mình ôn lại những câu chuyện cũ của những con người đã gieo trồng tri thức cho tôi, đặc biệt là cô – người đã cho tôi động lực và niềm tin vững bước trên con đường mà mình đang đi. Tôi luôn nhắc nhở bản thân dù có đi đâu, làm gì cũng phải nhớ đến công lao dạy dỗ của thầy cô suốt những năm tháng qua, họ chính là những con người đang ngày đêm thầm lặng cống hiến sức mình vì sự nghiệp trồng người cho quê hương, cho Tổ quốc.

“Con đò mộc – mái đầu sương

Mãi theo ta khắp muôn phương vạn ngày”

VÕ NGUYỄN HUỲNH NHƯ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *