Thanh Phương – người đa tài của văn nghệ Lai Châu

Vanvn- Vũ Thanh Phương hay gọi tắt Thanh Phương sáng tác ở nhiều loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc, hội hoạ. Anh từng đạt giải âm nhạc ở cấp trung ương, hiện sinh sống bằng nghề mĩ thuật và sáng tác đều tay cả thơ và truyện ngắn. Anh còn viết kịch và tham gia biên kịch sân khấu ở địa phương. Con người anh phóng khoáng, sôi động, tài hoa. Ở lĩnh vực nào, anh cũng đạt được những thành tựu nhất định.

Anh đã từng xuất bản tập Truyện kí Thanh Phương. Gần đây, anh có truyện ngắn in chung trong tập truyện ngắn Lai Châu – Xuống núi (2020). Xin giới thiệu tới độc giả một số truyện ngắn của tác giả Vũ Thanh Phương.

CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC LAI CHÂU:

>> Văn học Lai Châu: Nhìn từ Pu Ta Leng

>> Đỗ Thị Tấc – trụ cột của văn học Lai Châu

>> Hà Phong viết để yêu thêm đất núi quê mình

>> Huỳnh Nguyên thuộc thế hệ tiên phong văn học Lai Châu

>> Thơ Đinh Hồng Nhung: Nỗi niềm của cô giáo cắm bản

 

GIÓ CHÈ XÀO XẠC

 

Chưa đến sáu mươi tuổi mà mái tóc chị Hải chẳng còn sợi nào đen. Chị sống khá âm thầm lặng lẽ cùng một thằng con trai trên hai chục tuổi, thất học nên ở nhà đi làm thuê làm mướn. Thằng con một cũng không được ngoan ngoãn lắm nên nhiều khi chị rất buồn phiền. Nó cậy có một mình nên cứ tự tung tự tác, muốn làm thì làm, muốn chơi thì chơi, chị nói nó chẳng thèm tiếp thu. Cực nhất là nó không hề biết kính trọng chị. Nếu cứ đà này thì không biết về sau này, nương tựa vào nó làm sao đây?

Nhà văn Thanh Phương

Giã từ làng xóm quê hương từ khi hơn hai chục tuổi đầu. Không được xinh đẹp như chúng bạn nên đến năm trên ba mươi, chị Hải bằng lòng với việc kiếm một đứa con, hy vọng cuối đời có người chăm lo khi đau yếu. Chị không bao giờ quên được cái kỷ niệm những ngày thậm thụt hẹn hò với bố thằng Lâm. Vì lúc ấy, quan niệm của xã hội về việc phụ nữ không chồng mà có con còn khá nặng nề, nếu chuyện quan hệ tình cảm bị bại lộ thì cả hai sẽ bị kỷ luật nặng. Nhưng cái nhu cầu có một đứa con đã thôi thúc chị phải khẩn trương chớp thời cơ. Ông ta hẹn gặp chị trên một nương chè gần đơn vị vào một buổi tối trăng lu, người ta hay gọi là trăng suông. Đêm ấy với chị không còn là trăng suông nữa. Chị đã có được người đàn ông của mình, mặc dù chỉ là tranh thủ, chụp giật. Hai người ngồi tâm sự trên một thảm cỏ giữa những hàng chè gần giao tán. Trên đầu họ là vầng trăng hạ tuần với những vòng quầng báo hiệu một mùa hạn hán. Gió cao nguyên lướt trên những tán chè nghe xào xạc. Đôi khi thấy tiếng gió, ngỡ là có người đi đến, cả hai nín thở ngồi im. Họ đã trao thân cho nhau trong nỗi phập phồng lo sợ ấy. Điều đáng nhớ nhất của cái đêm ấy là cả hai đều bị bọ nẹt chè châm vào mông, buốt đến rụng rời mà chỉ dám khẽ xuýt xoa. Kể như ban ngày thì tìm bằng được thủ phạm, di nát ra để lấy phần ruột của nó mà bôi vào vết đốt là dịu ngay. Đằng này, dưới ánh trăng lờ mờ nên đành chịu để cho nó buốt. Hôm sau, cứ nhìn thấy nhau là cả hai bất giác lại cười. Và chị đã có được thằng Lâm chỉ sau cái đêm chụp giật ngắn ngủi đáng nhớ ấy. Chị lẳng lặng mang thai, làm như điếc khi nghe những lời xì xào, làm như câm khi đơn vị và các đoàn thể họp kiểm điểm. Chị chịu tất cả mọi hình thức kỷ luật để có được đứa con của riêng mình.

Bố thằng Lâm chỉ hoàn thành cái việc giúp chị để có nó, sau đó thì đã về nghỉ hưu ở miền xuôi. Người ta có vợ con đàng hoàng. Khi đặt vấn đề xin con, chị cũng đã hứa là sẽ không làm gì gây phiền hà cho ông ta về sau này. Nếu có điều kiện, ông tự nguyện giúp đỡ mẹ con chị, không thì thôi. Quả thật, ông ta cũng có cho vài hộp sữa, vài cân đường khi mới sinh nó xong. Thằng Lâm được hơn ba tháng tuổi thì bố nó nghỉ hưu. Từ khi chuyển về xuôi, cũng kể như đứt liên lạc. Đến bây giờ, thằng Lâm cũng không thể nhớ được mặt bố nó chứ đừng nói đến chuyện được bố nó dạy bảo điều gì.

Nghĩ đến con, chị lại thấy chán nản, nên thường đi sang nhà cụ Đạo hàng xóm chơi cho đỡ buồn. Điều đương nhiên là chị cũng hay mang chuyện khó bảo của thằng Lâm mà kể lể cho vơi nỗi u sầu. Hôm nay cũng vậy. Vừa nhổ tóc ngứa cho cụ Đạo, chị vừa phàn nàn:

– Bà ạ ! Nói ra thì bảo là nói xấu con. Nhưng không biết nó học ai cái bệnh tham ăn đến thế không biết? Nhà chỉ có hai mẹ con, mà thịt con gà, chặt ra rang, nó gắp cho con mấy miếng. Còn lại, nó ngồi ôm cái nồi, chén sạch.

Cụ Đạo quẹt cái vệt quết trầu bên mép rồi thũng thẵng:

– Thì tại chị chứ còn kêu ai? Chị chỉ có mình nó, từ bé đến giờ cái gì cũng dành hết cho nó, nên nó sinh ra ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình. Nếu bây giờ có thêm một đứa em thì nó sẽ thay đổi ngay!

– Lấy đâu ra một đứa nữa cho nó nghĩ lại hở bà ? Tuổi con bây giờ…

– Ấy là giả thử thế, chứ chị thì còn đẻ đái gì nữa!

Câu chuyện vô tình làm chị nhớ day dứt cái thời thanh niên của mình.

***

Ấy là cái hồi chiến tranh ác liệt, Hải vừa tròn hai mươi tuổi. Thằng Mỹ mang bom ném ra miền Bắc. Dân tản cư từ các thành phố, thị xã về quê chị đông nghịt. Nhà chị dành hẳn một gian buồng cho một gia đình người thành phố Nam Định ở nhờ. Hôm ấy, mẹ chị rào đón khi chị đi làm đồng về:

– Ăn hết nhiều chứ ở hết mấy. Nhà mình có hai mẹ con mà ở năm gian nhà. Người ta chạy tản cư, sểnh nhà ra thất nghiệp…

– Thì u cho ai ở thì cho, con có nói gì đâu!?

– Ừ thì u cũng nói thế! Mày chuyển sang buồng bên này ngủ với u, nhường buồng bên ấy cho gia đình họ. Còn ba gian giữa thì dùng chung.

Thế là từ hôm ấy, ngôi nhà có thêm ba người thành phố. Và đó là điểm khởi đầu của những chuyện bi hài cuộc đời chị.

Cái gia đình trọ ở nhà chị chỉ có ba mẹ con. Bà mẹ tên là Hiền, mới ngoài năm mươi, trước làm công nhân nhà máy dệt, nay đã nghỉ hưu. Cậu con trai tên là Phúc, hai mươi hai tuổi, đang học trường cơ khí. Cô con gái tên là Hậu mười bẩy tuổi, vừa học hết lớp mười, đang chờ đi học sư phạm. Họ là vợ con gia đình liệt sĩ. Cũng chính vì ông bố liệt sĩ nên Phúc không được đi bộ đội. Bà mẹ cứ nhất quyết bắt cậu ở nhà đi học nghề. Trường cơ khí cũng đã tản cư về cách nhà chị gần chục cây số nên cậu con trai vẫn ngày ngày đạp xe đi học.

Dân thành phố quen ăn trắng mặc trơn, nay về nông thôn cái gì cũng có vẻ luộm thuộm. Quần áo thì vắt ở dây cối xay với cần cối giã gạo. Nhà tắm, nhà vệ sinh chẳng ra quy củ gì. Đàn ông con trai thì thế nào cũng xong. Riêng cánh đàn bà con gái, thường phải chờ tối trời mới dám ra cầu ao bờ giếng mà dội lấy dội để. Hải để ý đã mấy bận thấy bà Hiền và Hậu nhăn mặt, nhăn mũi, rồi nhổ phì phì khi đi vệ sinh về. Rõ ràng là việc thích nghi của họ còn đang rất khó khăn. Nhà Hải đang chỉ có hai mẹ con, nay thêm hẳn ba người thành phố nữa, lại có một thanh niên chưa vợ, đâm ra mọi sinh hoạt cũng bị đảo lộn. Hai mâm cơm hai chế độ, cho thấy cái khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, nông dân và công nhân khác nhau nhiều quá. Nồi cơm nhà nông thì khoai sắn là chính, gạo là phụ. Thức ăn thì chỉ có canh cua, cà pháo, thi thoảng mới có niêu cá lẹp kho mặn hoặc đĩa cua rang muối. Nồi cơm nhà thành phố thì độn mỳ sợi hoặc mỳ bột làm bánh. Thức ăn, ngoài các món nông thôn ra, thế nào cũng có thêm đĩa thịt, đĩa đậu phụ hoặc đĩa cá mua theo tiêu chuẩn tem phiếu. Hai bà mẹ đều góa chồng. Bà mẹ nông thôn thì vấn tóc lối xưa, khăn thâm mỏ quạ, áo nâu, quần vải thâm đất, may theo kiểu chân què. Bà mẹ thành thị thì đầu phi dê như cái súp lơ, áo hoa lấm tấm, quần sa tanh đen bóng. Cứ đứng ngoài mà nhìn cũng thấy nghịch cảnh, chứ đừng nói trong cuộc. Khi gia đình tản cư mới đến, hai người mẹ có vẻ cảm thông với nhau, coi nhau chẳng khác chị em. Vậy mà chỉ hơn tháng sau, cái khoảng cách về nhận thức, tập quán và vô số cái không hợp giữa hai điều kiện sống đã dần đẩy hai người về hai bờ ngăn cách. Hai bà vẫn phải nói chuyện với nhau hàng ngày nhưng xem ra chẳng mặn mà gì, ai theo đuổi ý nghĩ của người ấy. Mẹ Hải có máu tự ti nên nhiều lúc cứ hậm hụi với con gái về cái sự nghịch cảnh ai cũng thấy ấy. Bà cố tình chuẩn bị bữa ăn sớm hơn hoặc muộn hơn gia đình thành thị…..

Cái anh chàng tản cư có tên là Phúc, nghe cứ như tên con gái. Nước da anh ta cũng trắng như con gái, nên nhiều khi Hải cứ gọi đùa là chị Phúc. Hải thầm ước mình có được nước da của Phúc. Con gái nhà nông suốt ngày mưa nắng ngoài đồng, chân tay bám vàng một màu phèn chua, nhìn thấy người thành thị mà xấu hổ. Thế mà mấy đứa trong xóm lại ghép Phúc với Hải làm một đôi, lắm lúc ngượng chín mặt. Chẳng lúc nào Hải dám nghĩ đến chuyện đũa mốc lại chòi mâm son như thế. Nhưng Phúc lại có vẻ thích Hải ra mặt. Cậu ta bảo:

– Cái nước da cơ bản của Hải không mối mọt được. Nhiều người còn phải ra bãi biển nằm hàng tháng để mong có được nước da như thế ấy chứ!

Phúc hay mua tặng Hải những thứ lặt vặt như cái cặp tóc ba lá, mấy con chỉ mầu, to nhất cũng chỉ là đôi dép nhựa xanh đỏ. ấy thế mà Hải cảm động lắm. Thanh niên ở cái vùng nông thôn bán sơn địa này, chẳng ai có được cái cách xử xự ga lăng như thế.

Cảnh quê những đêm trăng vắng tiếng đạn bom thật thanh bình, yên ả. Cánh con trai con gái nhầng nhầng thường rủ nhau ra bờ đê hóng mát. Từ khi có cánh tản cư người thành phố về thì đêm sáng trăng, bờ đê có vẻ tấp nập hơn. Những thảm cỏ gà, cỏ mật êm như cỏ sân bóng đá là nơi họ thường nằm ngửa mà ngắm Ngân Hà, mà chỉ cho nhau những chòm sao trong mênh mông vũ trụ.

Phúc và Hải cũng thường rủ nhau đi chơi trong những đêm trăng ấy, nhưng điểm đến của họ lại là đồi chè sau nhà. Chè ở quê Hải là giống chè hái lá, nấu hoặc hãm để uống chè tươi. Những hàng chè còi cọc gầy nhằng bị hái xơ xác, mỗi nhánh lúc nào cũng chỉ còn một hai lá. Ngoài mép mỗi hàng chè còn trồng thêm một hàng sắn hoặc dong tinh. Xen giữa những hàng chè ấy là những thảm bổi và cây thanh hao, cây hương bài với những mùi hương đặc trưng của cây cỏ trên núi. Ngồi trên thảm bổi ấy, anh con trai thành phố tha hồ huyên thuyên những truyện trên trời dưới biển. Cô gái quê mùa ngây ngô, hai chục tuổi đầu chưa ra khỏi luỹ tre làng, chỉ biết nuốt lấy từng lời với vẻ mặt đầy thán phục như con chiên lành nghe cha giảng đạo. Thế rồi lửa bén rơm cháy ngùn ngụt lúc nào không biết. Cô gái làng nhẹ dạ đã trao cái quý giá nhất của đời người con gái cho anh chàng người thành phố trên cái thảm bổi quê mình trong một đêm trăng. Và gió, gió đồng thổi lên mát rượi, chúng lướt qua làm cho những hàng chè xào xạc.

Hải có những biến động về tâm lý. Cô vui vẻ hát véo von suốt ngày, mắt lúc nào cũng long lanh. Hễ có cơ hội là cô lại quấn lấy anh chàng tản cư. Có lẽ bà mẹ thành phố nhận ra điều ấy sớm hơn bà mẹ nông thôn. Bà đã đôi lần đưa ra những lời bóng gió về cái gọi là đăng đối gì đó, nhưng xem ra Hải không để ý đến những điều ấy. Men tình đã ngấm, những cuộc trao gửi của đôi trẻ hầu như chẳng ai có thể kiểm soát được. Rồi cái điều tất yếu đã đến. Bà mẹ nông thôn nhận ra cô con gái không bị trời làm tội đã hai tháng, liền ra sức tra vấn. Hải đành thú nhận tất cả. Cuối cùng cô nói:

– Anh ấy hứa là sẽ cưới con mà!

– Nó hứa thì mày bảo nó cưới ngay đi! Vài tháng nữa, bụng mày như cái đó mẹ thì ê mặt với cả làng đấy nghe không?

Ba tháng đã trôi qua mà không thấy gia đình Bà Hiền đặt vấn đề cưới hỏi gì, bà mẹ nông thôn càng sốt ruột. Mặc dù ngày nào cũng ở cùng nhau trong một mái nhà, nhưng nhà gái không thể mang chuyện ấy ra mà đặt vấn đề được. Bà mẹ nông thôn còn chưa biết xử trí ra sao thì hiệp định Pa-Ri được ký kết. Mỹ ngừng ném bom ra miền Bắc, đồng nghĩa với việc những người tản cư được trở lại thành phố. Khỏi phải nói niềm hân hoan của mọi người khi đón nhận tin vui chiến thắng từ bàn đàm phán.

Bà Hiền rưng rưng nắm tay bà mẹ nông thôn:

– Chị Hồng ơi! không bao giờ mẹ con em quên được cái ơn mà chị và cháu đã dành cho gia đình em trong thời gian qua. Ngày mai, mẹ con em xin phép thu dọn để trở về thành phố. Em sẽ xắp xếp để thường xuyên về thăm chị và gia đình…

Bà Hiền còn nói dài dài nữa về niềm vui, về nỗi lòng của bà. Tuy nhiên không một lời nào nói về chuyện của hai đứa trẻ. Buộc lòng bà mẹ nông thôn phải rào đón để nói ra cái điều bà đang lo lắng nhất bấy nay:

– Bà ơi! Em hỏi khí không phải, chứ cháu Phúc đã nói chuyện gì với bà chưa ạ!

Bà Hiền như ngớ ra:

– Là nói chuyện gì hả chị?

– Chuyện… Chuyện… Thôi chết rồi!… Tôi thật không biết nói với bà thế nào về chuyện này?!

– Có chuyện gì thì chị cứ nói ra, sao lại ?…

Và bà Hồng đã nói về mối quan hệ bấy nay của hai đứa trẻ, về cái thai. Bà muốn xem ý bà mẹ thành phố sẽ giải quyết việc này thế nào? Không ngờ bà Hiền buông một câu lạnh lùng:

– Ôi! Tưởng chuyện gì, chứ chuyện ấy thì chị cứ để các cháu. Khi nào chắc chắn, nó khắc nói ra. Lúc ấy chúng mình mới có ý kiến được!

– Chỉ còn cháu Phúc chưa nói với bà, chứ cháu Hải nó đã tâm sự hết với em rồi bà ạ! Vả lại, cậu ấy đã hứa sẽ cưới, nên… Bây giờ cái thai đã ba tháng rồi!

Bà Hiền phá lên cười:

– Hứa hẹn gì cái bọn thanh niên bây giờ hở bà?… Còn cái thai… để được thì để, còn nếu không thì… ở thành phố, chẳng mấy khi chúng nó để hậu quả cho mọi người phải nghĩ ngợi đâu bà ơi!

– Bà… Bà nói thế tức là… Con ơi là con! Mày bôi gio trát trấu vào mặt mẹ rồi con ơi! – Bà mẹ nông thôn tức tưởi ôm mặt khóc.

Phúc còn đi học chưa về. Nhà trong, Hải bật lên tiếng nấc rồi đóng sập cửa, chạy ào lên núi. Hải tìm đến thảm bổi, nơi cô đã trao thân cho Phúc. Cô vật vã với những cây bổi vô tội. Đáp lại cô, chỉ có tiếng gió chè không ngừng xào xạc.

Những người tản cư đã về hết thành phố. Hải ở lại với cái thai lớn từng ngày trong bụng. Rồi Hải sinh con trai trong sự đàm tiếu của xóm làng. Chẳng hiểu hai người thư từ thế nào mà khi thằng cu Hạnh vừa tròn ba tháng tuổi thì mẹ con bà Hiền quay lại xin đón cháu. Xin đón cháu mà không hề nói đến chuyện xin dâu hay cưới hỏi gì? Thế mới lạ! Bà Hiền thẽ thọt:

– Chị với cháu thông cảm! Tôi đã về xem kỹ lắm rồi, thầy nào cũng phán là số các cháu không hợp nhau. Nếu cứ cố tình mà lấy nhau về thì sẽ có đứa chết yểu. Thôi thì cháu đã sinh đẻ mẹ tròn con vuông, công cháu rất lớn. Bác xin bồi dưỡng cho cháu chút ít! – Bà đưa vào tay Hải cái gói nhỏ – Trong này có một trăm đồng, cháu lo bồi bổ thuốc thang. Sau này gặp được ai hợp duyên hợp số thì cũng chưa muộn.

Vào thời điểm ấy, một trăm bạc là số tiền có thể mua được hai chiếc xe đạp Vĩnh Cửu, cái phương tiện đi lại đang là niềm mơ ước của bao nhiêu người, cả làng mới có đôi ba chiếc.

Hải cầm cái gói trong tay, mặt đờ đẫn, hết nhìn đứa con còn trứng nước vừa trao cho người ta, lại nhìn bà mẹ nghèo đang ngồi chết lặng trên tràng kỷ. Đến khi chiếc xe chở mấy người nhà bà Hiền và thằng cu Hạnh chuyển bánh thì Hải mới sực tỉnh. Chị chạy theo, ném cái gói vào trong xe rồi bất ngờ gào lên:

– Tôi không cần…!

Chiếc xe lao vút đi, để lại một làn khói bụi mù mịt.

Tuổi xuân của chị đã đi qua như thế. Cũng kể từ đó, chị bặt tin đứa con đầu đời của mình. Anh chàng Phúc chắc đã xây dựng gia đình với người con gái khác. Chỉ cách thành phố Nam Định chưa đầy năm chục cây số nhưng chưa khi nào chị dám đi tìm, thăm con. Gia đình bà Hiền cũng không một lần về thăm lại cái chốn họ đã nương nhờ thời chiến tranh và còn là quê ngoại thằng cháu đích tôn như đã hứa hẹn lúc chia tay.

Hải tự ti, mặc cảm. Chị sống xa lánh mọi người, lầm lũi đi về như một cái bóng. Rồi bà mẹ già qua đời, mấy năm sau có đợt tuyển công nhân đi Tây Bắc, chị nhanh chóng trở thành một công nhân ngành chè trên miền núi cao. Chị không hề hé răng cho ai biết về thằng con của người thành phố ấy…

***

Thằng Lâm an bài với nghề làm thuê làm mướn. Nó vẫn nghĩ rằng mẹ nó chỉ có mình nó. Cho đến một hôm.

Vừa đặt lưng xuống giường nghỉ sau bữa cơm trưa thì chị Hải nghe tiếng gọi tên mình ngoài cổng. Chị chạy ra thì thấy một đôi nam nữ trung niên cùng một thằng bé khoảng bảy tám tuổi đang lấp ló. Hình như họ là một gia đình. Người chồng chừng bốn chục tuổi và người vợ tầm trên ba mươi. Vừa nhìn thấy người chồng, không hiểu sao chị giật nảy mình. Anh ta có nét gì quen thuộc quá.

– Bác ơi! Bác có phải là Bác Hải không ạ! – Người  vợ mau mắn hỏi.

– Vâng! Tôi là Hải đây!

Hình như chỉ chờ có thế, vợ chồng con cái nhà kia chạy ào cả lại:

– Mẹ ơi! Thế là con tìm được mẹ đây rồi!

– Bà ơi! – Thằng bé con cũng mếu máo.

– Thế… Thế anh chị là… – Chị ngạc nhiên.

– Con là Hạnh đây!

– Hạnh… Trời ơi! Con tôi, cháu tôi! – Chị nghẹn ngào…

Không thể tả hết được nỗi vui mừng của cảnh gia đình đoàn tụ sau gần bốn chục năm trời người mẹ phải xa đứa con còn trứng nước. Mẹ con, bà cháu ôm nhau khóc khóc cười cười ồn ã. Thằng Lâm vô cùng ngạc nhiên khi nghe mẹ nó vừa khóc vừa kể về sự ra đời của người anh trai khác bố. Nó cũng không ngờ mẹ nó lại có thể kín chuyện đến như vậy. Suốt từng ấy năm trời mà mẹ nó lặng lẽ, âm thầm, không hề hé răng với ai. Nhìn kỹ nó thấy anh nó giống mẹ nó quá. Không ngờ, anh nó đã trải qua gần bốn chục năm trời trong sự ghẻ lạnh của người mà anh nó vẫn phải gọi là mẹ. Xét cho cùng thì nó còn hạnh phúc hơn anh nó nhiều lắm.

Hạnh kể cho mẹ và em về hoàn cảnh hiện tại. Hạnh làm thợ sửa chữa xe máy, đã lấy vợ hơn chục năm. Vợ Hạnh buôn bán nhỏ ở chợ cóc trên phố, thu nhập nhì nhằng. Nhìn chung, kinh tế cũng đủ nuôi hai con ăn học, không dư dả gì.

Chuyện chị Hải có con trai lớn đưa vợ con về tìm mẹ chẳng mấy chốc lan ra cả xóm phố. Nhiều người chạy đến hỏi han, chúc mừng gia đình đoàn tụ. Vợ chồng Hạnh tỏ ra là những đứa con hiếu đễ, biết ăn biết nói. Họ động viên, an ủi mẹ, dạy bảo thằng Lâm ra dáng anh chị cả trong gia đình.

Bà cụ Đạo hết ngắm nhìn chị Hải rồi lại ngắm nhìn vợ chồng con cái nhà Hạnh rồi hỏi:

– Này, bà hỏi khí không phải. Chứ sao lớn bằng ấy tuổi đầu rồi mới đi tìm mẹ là nghĩa làm sao?

Hạnh rầu rầu nét mặt:

– Bà ơi! Từ lúc bốn năm tuổi, cháu đã biết cháu không phải là con đẻ của bố mẹ cháu bây giờ. Nhưng khi khôn lớn, cháu hỏi tìm mẹ cháu thì ai cũng nói là mẹ cháu chết từ ngày mới sinh cháu.

– À! Thảo hèn nào! 0 Cụ Đạo tỏ ra thông cảm 0 Thế rồi làm sao cháu biết mẹ cháu ở trên này?

– Chuyện tình cờ lắm, bà ạ! Một hôm cháu sửa xe cho một người. Bác ấy là người vui tính nên vừa ngồi chờ vừa chuyện trò vui vẻ. Trong câu chuyện, bác ấy nói đến những ngày chạy sơ tán về một miền quê cùng với bố cháu. Tò mò nên cháu hỏi địa chỉ. Bác ấy cho biết rõ cả từ xóm, làng đến xã, huyện, tỉnh. Không ngờ, khi về hỏi bố cháu thì bố cháu cứ giấu quanh co. Cháu nghĩ chắc là có chuyện tế nhị gì nên bố cháu mới giấu. Từ đó, cháu cứ nuôi hy vọng là mẹ cháu còn sống và quyết định là sẽ tìm về nơi ấy. Ngờ đâu linh cảm của cháu đã đúng. Những người ở quê đã cho cháu biết là mẹ cháu ở trên này. Thế rồi vợ chồng cháu cùng tìm lên đây.

– Thế bà nội của con, bà Hiền ấy, còn sống không? , Chị Hải bỗng đột ngột hỏi.

– Dạ! Bà con mất đã gần chục năm rồi. Không hiểu sao, lúc sắp lâm chung, bà cứ nắm tay con, nước mắt giàn giụa mà không nói được điều gì.

Chị Hải gật gật, trong đầu chị đang nghĩ đến những điều bà Hiền muốn nói với thằng cháu đích tôn khi ấy, chẳng hiểu có điều gì ăn năn về người mẹ không được thừa nhận này không? Bất giác những giọt nước mắt lại lăn dài trên đôi má đã đầy những đường gian khổ của chị.

Chỉ ở chơi được dăm ngày thì vợ chồng Hạnh xin phép về quê với bao nhiêu điều hứa hẹn.

Từ khi tìm được mẹ, vợ chồng Hạnh thi thoảng lại lên chơi một chuyến. Mỗi chuyến đi, thế nào họ cũng kèm theo một ít hàng hóa, gọi là lấy tiền tầu xe. Khi thì một hai thùng quần áo, khi thì vài thùng bánh kẹo, khi thì ít tôm cá khô. Có lúc chị cần tiền tiêu, chúng đưa cho chị vay vài ba triệu. Cũng có chuyến chúng nói là khó khăn, chị chạy vay cho chúng một số. Có mẹ có con, thêm chỗ dựa, nghe ra cái gia đình nhỏ của chị ấm cúng lên nhiều. Thằng Lâm cũng đã thay đổi từ khi bỗng nhiên có thêm anh chị và hai đứa cháu. Nó có vẻ biết thương mẹ hơn. Vợ chồng Hạnh đã trực tiếp tham gia vào những việc nhà. Nào là chú nên lấy vợ ra sao, nhà cửa nên xây cất thế nào… Hôm ấy, chị vừa bán một lô đất vườn được gần một trăm triệu để chuẩn bị xây lại nhà thì Hạnh lên. Biết chị đang có món tiền lớn trong nhà với ý định ấy, Hạnh liền tham gia :

– Bây giờ bắt đầu mùa mưa, không ai xây nhà mùa này vì sắt thép dễ bị gỉ và che chắn công trình phức tạp. Số tiến ấy mẹ và chú nên gửi ngân hàng hoặc cho ai vay lấy lãi, ba tháng sau khởi công thì hay hơn.

Đó là một lời bàn chí lý. Chị cứ nghĩ là gặp khách thì bán đất, có tiền thì xây, nào ngờ còn chuyện mưa gió. Đúng là có con trai lớn trong nhà có khác, nó nghĩ được những điều mà mình không ngờ tới. Chị liền bàn và thống nhất với thằng Lâm là hôm sau sẽ mang tiền đi ngân hàng gửi.

Tối hôm ấy, Hạnh nhận mấy cuộc điện thoại của vợ, cậu ta ngần ngại mãi rồi nói với mẹ và em:

– Nhà con nó vừa điện lên, nói là có người bạn muốn nhượng lại cái ki-ốt ở chợ Mỹ Tho. Tiền nong chúng con đang thiếu một ít, hay là mẹ với em cho chúng con vay số tiền ấy có được không? Cứ làm giấy tờ, chúng con trả lãi đàng hoàng!

Chị nhìn thằng Lâm ra ý hỏi, nó bảo:

– Tuỳ mẹ thôi! Anh chị ấy cần thì cho anh chị ấy vay cũng được!

Thế là chị đưa số tiền ấy cho Hạnh. Cậu ta đòi lấy giấy bút, ghi giấy vay đàng hoàng. Tối hôm sau, Hạnh lên xe về xuôi. Cậu ta để lại món quần áo bán dở lại cho mẹ và em, nhờ bán và thu tiền nốt, hẹn rằng tuần sau sẽ lên.

Một tuần, rồi hai tuần không thấy vợ chồng Hạnh quay lại. Chị Hải giục thằng Lâm gọi điện thì cả hai số di động của hai vợ chồng Hạnh đều không liên lạc được. Sốt ruột không chịu nổi. Đợi thêm một tuần nữa, chị quyết định gửi nhà, cùng thằng Lâm lên xe về Nam Định.

Theo địa chỉ vợ chồng Hạnh để lại, mẹ con chị tìm đến. Số nhà và ngõ phố đều đúng, chị gọi cửa. Ra mở cửa là một người đàn ông trắng trẻo, gầy gò ốm yếu thật thảm hại. Nhưng mới thoạt nhìn, chị đã nhận ngay ra là anh chàng Phúc ngày nào. Cũng chỉ sau câu chào hỏi đầu tiên, ông Phúc đã nhận ra cô gái làng năm ấy. Họ ngại ngùng, bối rối nhìn nhau. Trong nhà không có ai ngoài ông Phúc. Chị nhìn lên bàn thờ, hai tấm di ảnh của cha mẹ ông Phúc lồng trong khung đen.

– Sao nhà lại có mình ông? – Chị cất tiếng hỏi sau khi để ý thấy đồ đạc, quần áo chỉ của một người.

Ông Phúc ho sù sụ một hồi rồi mới hỏi lại:

– Bà muốn hỏi ai?

– Thế vợ con ông với vợ con thằng Hạnh đâu cả rồi?

Ông vừa với chai nước lọc, rót ra hai cái cốc, vừa lắc đầu, giọng chua chát:

– Làm gì còn ai nữa đâu!?

– Thế là thế nào? – Cả thằng Lâm và chị Hải gần như đồng thanh hỏi.

– Thì các vị thấy đấy! Bây giờ chỉ còn lại mình tôi, chúng nó chết cả rồi! – Ông ta bật cười chua chát – Đời tôi phải trả giá mà!

– Chết gì mà chết, cách đây vài tuần, vợ chồng con cái nó còn ở chỗ tôi chứ đâu! – Chị Hải không khỏi ngạc nhiên.

– Vợ chồng ? Vợ chồng nào? – Ông Phúc tròn mắt, ngạc nhiên không kém.

– Bác nói gì thế? Anh chị ấy lên trên ấy mấy lần, còn cho cả thằng cu Tuấn đi cùng. Anh chị ấy còn vay của mẹ con cháu gần trăm triệu về mua ki-ốt…

– Thôi! Thôi! Khốn nạn rồi…! – Ông Phúc rít lên, nhưng giọng ông yếu dần như một con mèo ốm. Ông gục xuống thở gấp gáp. Hai mẹ con chị Hải cuống cuồng, người xoa ngực, người đỡ nằm xuống ghế. Theo tay ông Phúc đang chỉ lên bàn thờ, thằng Lâm nhìn theo, nó thấy có lọ thuốc liền với xuống, mở nắp. Ông Phúc lập cập lấy mấy viên bỏ vào miệng.

Phải một hồi lâu sau, ông Phúc mới thở đều được, liền chống tay ngồi dậy. Ông ngước cặp mắt biết ơn nhìn hai người, rồi ông thều thào:

– Sao nó lại dám lên tận đấy mà lừa cả bà…? Tội lỗi ngày xưa, chỉ mình tôi chịu là đủ rồi chứ…!

Từ khi đến nơi, thấy cảnh thấy người, nghe ông Phúc nói những câu chưa rõ ràng, Hai mẹ con chị Hải đã linh cảm thấy những điều không hay. Bây giờ thì cả hai mẹ con đều thấy choáng váng. Chị Hải như ù đặc hai tai, bắt đầu mếu máo:

– Anh Phúc! Anh nói rõ xem nào…!

Nói xong, chị như khuỵu gối xuống. Lâm vội dìu mẹ lên ghế rồi quay lại ông Phúc, nó bình tĩnh hỏi:

– Chuyện thế nào, bác nói cho mẹ con cháu biết để còn liệu?!

Bằng cái giọng đứt quãng, hụt hơi của người bị bệnh suyễn mãn tính, ông Phúc kể lại quãng đời từ khi chạy tản cư về. Mẹ ông đã cưới cho ông một cô gái trẻ đẹp, con nhà buôn bán khá giầu có. Nhưng không hiểu vì lý do gì mà hơn chục năm, hai người không thể có con. Cô ta sinh ra thù nghịch với thằng cu Hạnh, nhiều lần đối xử với nó quá đáng. Từ năm lên mười tuổi, Hạnh đã có những phản ứng chống đối. Thế là cô ta càng xử sự thậm tệ hơn. Hạnh học hành chểnh mảng, kết nối với đám bụi đời. Năm mười bốn tuổi, nó cùng mấy đứa bạn đón đường đánh cô ta một trận nhừ tử, rồi bỏ nhà đi luôn. Lâu lâu nó lại về, bằng mọi cách moi của bà ít tiền rồi lại mất hút như ma quỷ. Ông làm thợ sửa chữa, một lần hút xăng, bị xộc vào miệng, mặc dù được đưa đi rửa ruột ngay nhưng vẫn nhiễm độc chì, sức khoẻ suy kiệt, phải nghỉ mất sức. Cô vợ của ông sau đó đòi li hôn rồi đi lấy chồng khác. Mẹ ông buồn phiền, ốm yếu nên mất khi chưa đầy bảy chục tuổi. Thằng Hạnh nghiện ma tuý, chuyên lừa đảo, đâm thuê chém mướn nên vào tù ra tù như cơm bữa, đến nỗi ông không thể biết lúc nào nó ở ngoài, lúc nào nó ở trong tù nữa. Nó không ở đâu cố định quá một năm. Vợ thì nó thay nhiều như thay áo, chẳng đứa nào cưới xin gì…

– Thôi! Ông đừng kể nữa! Khốn nạn! Tôi không ngờ kiếp mình lại khốn nạn như thế này! Con ơi là con…!

Chị Hải ôm thằng Lâm khóc không giấu diếm. Lâm ngồi bặm môi, mặc cho nước mắt tràn ra. Ông Phúc cũng rút khăn chặn đôi dòng lệ. Ba con người khốn khổ cùng khóc thảm hại một hồi lâu. Ông Phúc trấn tĩnh trước, nói bằng cái giọng mếu máo:

– Tội lỗi do tôi và mẹ tôi gây ra, đáng lẽ chỉ mình chúng tôi gánh chịu…! Có ngờ đâu còn để cho mẹ con em vạ lây. Tôi cũng không sống được bao nhiêu, con cái cũng không có…! Thằng Hạnh thì không còn hy vọng gì đâu…! Tôi sẽ trả lại cho mẹ con em số tiền đó…! Tôi sẽ viết di chúc ngôi nhà này cho mẹ con em…!  Chỉ xin đừng oán hận chúng tôi…

– Tôi không cần! – Chị trả lời dứt khoát, rồi dắt tay thằng Lâm – Đi về con!

Hai mẹ con chị kéo nhau ra khỏi ngôi nhà như bị ma đuổi, mặc cho ông Phúc gọi với theo. Ông cũng không đủ sức để gọi to, càng không có sức để chạy theo giữ lại.

Suốt chặng đường về, hai mẹ con chị gần như không ai nói với ai câu gì. Bát phở đêm trong hành trình đi xe, chị cũng không nuốt nổi. Trông thằng Lâm mới khổ, nó như già đi đến chục tuổi. Có lẽ đến bây giờ nó mới biết thương mẹ, thương mình. Nó động viên mẹ nó ăn uống, nhưng chị gần như chẳng còn cảm xúc gì. Mặt chị chai lại, mắt trơ trơ nhìn vô định.

Hàng xóm thấy mẹ con chị buồn rầu trở về thì túm lại động viên. Có người bảo:

– Sao không ở lại, bắt ông ấy viết di chúc, xin xác nhận rồi cầm béng lấy?

Chị Hải chẳng nói chẳng rằng, nhưng Thằng Lâm nói như dao chém đá:

– Cháu không bao giờ nhận cái thứ không phải do mình làm ra!

Mọi người ra về, Lâm lên giường ngủ liền.

Chị Hải trằn trọc mãi không sao chợp mắt được, nên lặng lẽ mở cửa ra ngoài. Trời trăng sao nhàn nhạt. Lại một đêm trăng suông. Chị cứ bước như người mộng du lên đồi chè sau nhà. Hương chè ngai ngái trong sương đêm. Những hàng chè đều tăm tắp như những con sóng bạc. Đôi chân vô định đưa chị đến đúng cái nơi trước đây chị hẹn hò với bố thằng Lâm. Chị lấy dép lót, rồi ngồi xuống đúng chỗ hơn hai mươi năm trước hai người đã cùng ngồi.

Một cơn gió nhẹ thoảng nhanh và những lá chè va vào nhau xào xạc. Chị giật mình ngỡ có ai đến, vội bám cành chè đứng dậy. Bỗng chị rụt vội tay lại. Chị đã chạm phải giống bọ nẹt chè, nhức buốt đến tận nách.

Như tỉnh cơn mộng du, chị Hải lững thững trở về. Sương đêm dầy hơn và gió chè không ngừng xào xạc.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Anh Đào

HỒN CÂY

 

Lạng vốn làm nghề xe ôm, cậm cạch từ thời cái xe Kích ghẻ, qua thời Min khờ, đến bây giờ thì thịnh hành đường núi là Win. Những chiếc Win Tầu chẳng đáng bao nhiêu tiền mà chạy đường đèo đường núi cứ vèo vèo, chấp hết các loại suối khe, cứ có đường là đi được. Cái nghề đi nhiều, đương nhiên là biết lắm. Những bản làng quanh cái vùng này, chẳng nơi nào chưa có vết bánh xe của Lạng. Dân chạy xe ôm cũng không ít, nhưng dám đi đến tận các bản vùng sâu, vùng xa thì chỉ có Lạng. Vóc người to lớn, tướng mặt dữ dằn, lại đã qua mấy năm công an nghĩa vụ nên Lạng tỏ ra chẳng ngại ngần khi khách gọi đi vào những giờ quá sớm hoặc quá muộn trong ngày. Vì vậy, thu nhập từ nghề xe ôm của Lạng rất khá. Kết hợp với nguồn thu từ cái ki ốt tạp hoá của vợ, gia đình Lạng đã xây được nhà hai tầng lừng lững giữa phố huyện, nội thất toàn thứ đắt tiền, xe máy hai ba chiếc hàng xịn.

Ấy vậy mà bỗng dưng Lạng bỏ nghề xe ôm, chuyển sang nghề buôn bán cây cảnh. Mảnh đất sau nhà và thổ bên cạnh được Lạng dùng làm nơi tập trung cây. Những cây sanh, cây si, lộc vừng cổ thụ ở các bản xa gần dần dần đều về nghỉ tạm ở nhà Lạng, rồi toả đến toạ lạc đâu đó tại các nhà hàng, khách sạn đang mọc lên khắp nơi. Có khi chỉ sau một đêm, sáng ra vườn của Lạng đã sừng sững mấy cây sanh, cây si hàng trăm tuổi. Để rồi cũng chỉ sau một đêm thì chúng lại biến mất như có phép tàng hình. Mỗi cây ra đi, sau khi “làm luật” hết các cửa, Lạng vẫn có thu nhập từ vài chục đến vài trăm triệu. Thấy bảo những cây ấy đều có ma ở, nên trước khi đào cây nào, Lạng đều thuê thầy mo “làm lý” cẩn thận. Có vẻ cái việc “làm lý” ấy được ma chấp nhận nên mọi việc diễn ra đều xuôn xẻ.

Lạng đã ra dáng ông chủ từ quần áo đến cách nói năng. Rồi Lạng mua ô tô, cái xe hơn tỷ bạc mà Lạng nói nhẹ nhàng như người ta mua cái xe đạp. Nhờ người hướng dẫn lái cho vài buổi, rồi nhờ người làm cho cái bằng lái vài chục triệu, thế là Lạng yên tâm mỗi ngày chở vợ đi ăn sáng một lần mà chẳng sợ ai hỏi giấy tờ.

Để chiều lòng chồng, Hương – vợ Lạng cho người ta thuê lại ki ốt tạp hoá trong chợ, về coi sóc nhà cửa và đôn đốc hai người làm cắt tỉa vườn cây. Không còn phải cóp nhặt từng đồng như trước nữa, mỗi cú giao dịch điện thoại của chị ta bây giờ trị giá chí ít cũng vài chục triệu bạc. Nhà chỉ có hai đứa con, Thằng Tạ, con trai lớn vừa tốt nghiệp cấp ba, được bố mẹ nó cho sang du học tận bên nước láng giềng. Con Yến đang học lớp mười, được cho về học trường chuyên tại Hà Nội. Tuy chẳng đứa nào giỏi giang gì, nhưng hình như có tiền thì cánh cửa nào cũng mở thì phải?! Khốn nỗi, sẵn những đồng tiền kiếm được một cách dễ dàng của bố mẹ, hai đứa thi nhau tiêu sài. Có lẽ chúng nó đi học cách tiêu tiền nhiều hơn là đi thu nạp kiến thức!

Không biết bao nhiêu cây cảnh cổ thụ đã đến và đi khỏi mảnh đất nhà Lạng. Dọc những con suối lớn trong vùng vắng dần bóng dáng thân quen của những cây sanh, cây si, cây lộc vừng đã gắn bó với người dân địa phương từ đời này qua đời khác. Bao nhiêu hồn ma phiêu dạt trú ngụ tại những cây Lạng đã lấy đi, nay mất nơi nương náu, dồn cả về một cây sanh có dáng “quá kiều thức” (tức là dáng qua cầu). Cây sanh này nằm ở điểm cuối cùng của một con suối nhỏ, nơi sông Đen đón nhận nó hoà dòng. Gốc của nó bám chắc vào gần chân vách đá dựng đứng cao đến hơn ba chục mét trên bờ suối bên này, nhưng ngọn nó ngả sang vách đá có triền thoai thoải ở bờ bên kia, tạo thành thân cầu. Những chiếc rễ xoà xuống, theo năm tháng to dần tạo thành những chân cầu vững chắc khá đều đặn từ gốc đến ngọn cây. Những cành khúc khuỷu, già nua phất phơ như những tiều phu đang gánh vác qua cầu. Tất cả tạo thành một tác phẩm nghệ thuật đẹp như cõi bồng lai. Cây sanh này còn tồn tại đến thời điểm ấy là do cái thế đắc địa của nó. Cũng đã có mấy tay săn cây nhòm ngó, nhưng thấy nguy hiểm quá nên không dám lấy. Chỗ nó mọc, vách đá như cắm xuống ngã ba nơi con suối nhỏ gặp dòng sông. Đấy chính là điểm hai dòng nước gặp nhau tạo thành một xoáy lớn, không biết nó sâu bằng nào, nhưng ngay mùa cạn cũng nghe tiếng miệng xoáy nuốt nước ừng ực đến rợn người. Nghe nói người ta thả những quả bưởi ở đấy thì vài ngày sau thấy những quả bưởi ấy nổi lên mãi gần thuỷ điện Hoà Bình. Muốn ngắm cây cầu sống ấy thì phải xuống thuyền bơi xa xa, hoặc sang vách núi đối diện. Còn muốn lấy nó về thì chỉ có hai cách, hoặc làm khoảng gần trăm mét đường men theo miệng vực để đến chỗ nó, hoặc phá đá rồi hạ nó xuống sông. Cách thứ hai có vẻ đỡ tốn kém nhưng nguy hiểm hơn.

Khi đã khai thác hết những cây ngon ăn, hết nạc vạc đến xương, Lạng bắt đầu nghĩ kế hoạch ẵm cây cầu thiên nhiên ấy. Đầu tiên, gã thuê thuyền độc mộc chở đến ngắm nghía, chụp ảnh. Thế độc của cây cầu làm cho Lạng mê mẩn. Gã bảo chủ thuyền cập bờ để hắn trèo lên xem cho tường tận. Đã đánh hàng trăm cây lớn nhỏ, thu không biết bao nhiêu tiền từ những cây cảnh thiên nhiên, nhưng gã chưa thấy cây nào đẹp bằng cây này. Quả là có một không hai. Từ cái dáng nằm của thân cầu đến những chùm rễ lớn nhỏ, những cành nhánh phân chia trên thân, những hang hốc và rêu mốc do tuổi tác… Tất cả tạo nên một tác phẩm “quá kiều thức” tuyệt mĩ, cứ như đã có một bàn tay nghệ nhân chăm chút từ bao đời. Hắn nhẩm tính, lấy được cây này về, gặp khách thì ăn đứt bạc tỉ. Thấy gã mon men định đi ra giữa cây cầu thiên nhiên ấy, ông già người Thái chủ thuyền vội gọi với lên:

– Này mạy mi phi luông (cây có ma nhiều) đấy! Mày ra, ma nó đẩy mày xuống nặm phoong (nước xoáy) bây giờ!

– Ma hả ! ờ… ! Ma thì không ra nữa! – Gã cũng chợt dựng tóc gáy.

Rồi gã cười vang, điệu cười đầy toan tính. Tiếng cười của gã vọng vào vách đá và xoáy nước nghe ma quái làm sao, cứ như tiếng âm hồn vọng từ địa ngục về vậy!

– Thôi! Ta về bố già! Gã bảo ông chủ thuyền khi đã ngồi gọn trong lòng  chiếc thuyền độc mộc – Mà bố nói cây ấy có ma là thế nào ? Có thấy chỗ thắp hương đâu?

– Cái cây ấy là mạy cái khua hảư phi phay ỉn (cái cầu cho ma đi chơi thăm nhau). Dân bản mình ai cũng bảo thế mà!

– Vớ vẩn! Làm gì có chuyện ma cỏ!

– Có đấy! Dân bản bảo bây giờ hình như ma nhiều hơn trước! Có người còn nói nghe thấy ma cãi nhau vì thiếu chỗ ở đấy! Hình như thầy mo đang chuẩn bị làm hươn nghe (nhà ma), nhưng chưa chọn được ngày tốt!

– Thế hả? Thế thì mình phải nhanh mới kịp!

– Nhanh nữa à? Ông già cứ tưởng gã bảo chèo nhanh hơn, bèn ra sức khoát nước.

Trên đường về, Lạng ghé ngay vào trụ sở uỷ ban xã. Tay chủ tịch xã có tên là Hít, vốn là cánh hẩu, đã từng nhận của gã khá nhiều tiền từ những giấy cho phép mua bán, vận chuyển cây trước đây. Mỗi khi Hít ra huyện là thế nào cũng được Lạng chèo kéo nhậu nhẹt, hát hò. Vừa thấy bóng Lạng, chủ tịch Hít đã vồn vã:

– Chào xếp Lạng! Chắc lại tăm được cây nào rồi hả?

Lạng cười hềnh hệch, nịnh:

– Sao chủ tịch tinh thế !

– Thì có lần nào vào đến đây mà xếp không lấy đi một cây nào đó!- Hít cũng chả phải tay vừa .

Lạng đánh ngay bài ngửa. Gã bàn thẳng với Hít về kế hoạch lấy cây cầu thiên nhiên ấy. Ngoài việc lo giấy tờ, Hít còn phải dẹp yên việc dựng nhà ma, với lý do chống mê tín dị đoan. Phần của Hít sẽ là năm chục triệu. Mọi việc khác đều do Lạng đảm nhận. Thấy món hời trước mắt, Hít mừng như mở cờ trong bụng, nhưng vẫn tỏ ra khó khăn để nắn gân Lạng:

– Xếp ơi! Lấy mạy cái khua (cây bắc cầu) ấy thì nguy hiểm lắm. Với lại động vào việc ngăn chặn tự do tín ngưỡng, thờ tự của dân bản là khó đấy! Nhất là thầy mo, nhiều người còn tin thầy mo hơn cả chính quyền!

– Chủ tịch cứ dẹp từ lão thầy mo là yên tất! Tôi chi ngay hai triệu để chủ tịch lo chỗ này. Nhờ luôn lão ấy “làm lý” cho cẩn thận. Tôi phải về ngay để triển khai kế hoạch, ba ngày nữa ta tiến hành.

Nói rồi Lạng móc luôn xấp tiền dúi vào tay Hít. Hít giả bộ miễn cưỡng nhận:

– Thôi được, để tôi cố  gắng thuyết phục bà con! à xếp ở lại uống rượu đã chứ!

– Để hôm nào ăn mừng chiến thắng một thể!

Lạng rồ máy cho chiếc xe hơi lao vút ra khỏi sân uỷ ban xã. Hít nhìn theo lẩm bẩm: “ Mới là thằng xe ôm, bây giờ đã thành ông chủ. Oai thật!”.

Đúng ba ngày sau, Lạng rùng rùng kéo quân vào. Ngoài chiếc xe tải chở hai cái tời tay, và chiếc xe cẩu, Lạng chỉ mang theo hai chuyên gia nổ mìn. Cánh thanh niên lao động thủ công, đã có Hít thuê hộ người trong bản. Nghe nói hai chuyên gia này có thể nổ mìn phá đá ngay sát móng nhà cao tầng mà không gây ảnh hưởng gì.

Kế hoạch của Lạng là sẽ dùng một tời thả hai chuyên gia nổ mìn từ trên đỉnh vách đá xuống. Việc đầu tiên là buộc cáp để giữ cây ở tư thế treo và buộc cáp cho chiếc tời bên kia sông, sau đó ốp mìn cho sập tảng đá phía dưới gốc cây. Việc còn lại chỉ là chặt những chiếc dễ còn neo bám. Khi chiếc tời trên vách đá thả cáp cho cây hạ xuống nước, thì chiếc tời thứ hai được đặt bên kia sông sẽ kéo cây thoát khỏi miệng vực xoáy vào bãi cát. Lạng và Hít trực tiếp đứng chỉ huy trên đỉnh vách đá. Hơn ba chục thanh niên được huy động đứng quay hai chiếc tời.

Mọi việc diễn ra xuôn xẻ cho đến khi những chiếc dễ cuối cùng được thằng Chài, chính là con trai của chủ tịch Hít chặt dời khỏi vách đá. Cái cây đã nằm trong thế treo lơ lửng đúng như tính toán của Lạng và các chuyên gia, mà hình như nó chưa hề bị rụng một chiếc lá nào. Thằng Chài cũng đang trong tư thế treo lơ lửng như con ếch bằng một sợi chão. Khi nó chặt cái dễ cuối cùng đứt thì sức nặng toàn bộ cái cây kéo căng dây cáp tời xuống thấp hơn vị trí cũ chừng ba bốn chục phân. Lạng và Hít cùng thở phào, rối rít ra lệnh kéo dây chão cho thằng Chài lên. Nhưng sợi chão đã bị sợi cáp lăn sang đè chặt vào kẽ đá, mấy người kéo không sao nhúc nhích được. Thằng Chài bắt đầu hoảng hốt khi nhìn xuống xoáy nước phía dưới. Nó hét toáng lên kêu cứu. Lạng và Hít cũng mất dần bình tĩnh khi sự cố nằm ngoài ý muốn đã đến. Bỗng cái cây nặng chừng hơn một tấn tụt uỵch xuống thêm một cấp vì sợi cáp lăn xuống vị trí thấp hơn. Nguy hiểm quá, sợi cáp nghiến sợi chão sắp đứt. Thằng Chài nhìn thấy cái chết đến nơi, nó chỉ kịp hét lên ba tiếng: “tai cu đọ” (chết tôi rồi) thì sợi chão đứt hẳn, nó rơi thẳng xuống vực xoáy. Cái miệng phễu nuốt thằng Chài chỉ nghe đánh “ực” một tiếng là đã chẳng thấy tăm hơi gì nữa.

Mấy chục con người cùng sững sờ chứng kiến vực nước nuốt thằng Chài mà không thể làm gì để cứu được nó. Chính cái giây phút sững sờ ấy đã làm cho các tay tời bủn rủn, sức nặng của cây sanh đã thắng những đôi tay không còn chút sức lực nào vì khiếp đảm kia. Lạng đứng bên cạnh tời, bỗng thấy những tay đòn không còn người níu giữ bắt đầu xả. Gã vội kêu: “Kìa tời!”, đồng thời giơ tay níu lấy một tay đòn. Nhưng cũng chính lúc ấy, cây sanh tụt hẫng thật nhanh, những cánh tay tời quay vun vút. Chưa ai kịp phản ứng gì thì Lạng đã bị ném sang bờ bên kia của con suối, toàn thân mềm nhũn, bê bết máu. Cái tài tình của cú ném là khi rơi xuống, gã nằm ôm trọn một phiến đá, đúng nơi người ta định làm nhà cúng ma, mặt gã hướng về xoáy nước, nơi cây sanh đang từ từ lặn xuống.

Chỉ trong chưa đầy một phút, mấy chục con người phải hai lần kinh hoàng chứng kiến hai cái chết khủng khiếp liên tiếp sảy ra trước mắt, mặt ai nấy xanh như lá, họ lặng đi, không ai nói được câu nào. Chỉ đến khi những cánh tay tời dừng hẳn, sợi cáp căng ra thì họ mới hoàn hồn. Những tiếng “Phà ơi!”(Trời ơi!) phát ra liên tục từ miệng người này đến miệng người kia. Chợt có ai đó hét toáng lên:

– Pay…! Tai mết đọ…! (Về! Chết hết đấy!).

Thế là họ kéo nhau chạy cả về bản, không ai dám quay lại nhìn.

Chủ tịch Hít như điên như dại khi mất thằng con trai duy nhất ngay trước mắt. Trong lúc tuyệt vọng, Hít cuống cuồng muốn nhảy xuống cứu con. May mà có hai tay chuyên gia nổ mìn ra sức giữ, nếu không chẳng biết sự thể sẽ thế nào.

Xác Lạng được đưa về ngay trong ngày hôm ấy để gia đình làm ma. Trong đám tang đột ngột vội vàng, người ta có tới hàng ngàn lời xì xào xung quanh cái chết của gã.

Vì du học nước ngoài, Thằng Tạ không làm kịp thủ tục để về dự đám tang bố nó. Con Yến phải mũ gậy thay anh trai. Hương động viên con yên tâm ở lại, đến tuần tứ cửu (bốn mươi chín ngày) hãy về, nhân tiện sẽ làm lễ cầu siêu cho bố nó một thể.

Đúng hẹn, thằng Tạ từ nước ngoài về. Chỉ hơn một năm xa quê mà nhìn nó lạ hoắc, từ đầu tóc đến áo quần trông chẳng giống ai. Nó về hôm trước thì hôm sau lễ cầu siêu cho bố nó được tổ chức đúng nơi bố nó bị nạn. Mẹ nó thuê hẳn mấy thầy cao tay nổi tiếng từ những chùa lớn về để làm cho yên tâm. Trong khi hành lễ, con Yến nhập đồng, nói đúng giọng của bố nó:

– Lúc sống, tôi phá nhà của người ta nhiều quá! Bây giờ xuống đây bị Diêm Vương phạt, phải sống vật vờ không nhà không cửa. Mẹ con nó thương tôi thì làm trả lại nhà cho người ta! Có như thế thì tôi mới có chỗ ở. Cái nhà bị tôi phá sau cùng hiện mắc trong họng Long Vương, nên Ngài đang nổi giận. Mẹ con nó phải cẩn thận mới được!

Nói dứt lời, con Yến rùng mình một cái rồi lăn đùng ra, bất tỉnh. Bao nhiêu người lay gọi mãi, đến khi hoàn hồn, hỏi lại thì nó chẳng nhớ gì cả.

Nỗi lo sợ bao trùm gia đình ba mẹ con. Đêm nào Hương cũng gặp ác mộng. Hình như những bóng ma luôn rình rập quanh nhà để đòi nợ.

Hương không tiếc tiền cho những việc yểm bùa trấn trạch, ai mách gì làm nấy. Theo lời Lạng nói trong buổi nhập đồng, Hương thuê người trồng đền cây non vào những nơi Lạng đã đánh cây cổ thụ. Hương còn muốn thuê người kéo cây sanh ra khỏi vực xoáy cho ngài Long Vương hết giận, nhưng không ai dám làm. Hương muốn trả lại tất cả tiền của đã kiếm được từ cây cảnh để có được cuộc sống yên bình cho ba mẹ con. Nhưng không kịp…!

Chỉ còn một ngày ở nhà với mẹ trước khi trở lại nước bạn để tiếp tục học tập, tối hôm ấy, thằng Tạ lấy xe hơi chở mấy đứa bạn đi uống bia ở một quán lá ven thị trấn. Tan cuộc thì cũng đã khuya, đường phố vắng tanh, nó chở từng đứa bạn trả tận nhà rồi tà tà cho xe chạy về. Tạ bỗng thấy bụng ấm ách vì chầu bia, nó đang tìm chỗ vắng thì cây cầu bê tông hiện ra. Nó dừng xe vào mé cầu, bước xuống và xả. Vừa kéo kín cái khoá quần, nó bỗng rùng mình. Một luồng khí lạnh chạy dọc sương sống, nó ngã nhào xuống suối. Cơn lũ cuối mùa cuồn cuộn đưa nó xuôi dòng.

Gần sáng chẳng thấy con về, mẹ nó nháo nhào gọi điện cho lũ bạn. Cuộc kiếm tìm diễn ra ngay sau khi cả mấy đứa đều nói là Tạ đã về rồi. Họ tìm thấy chiếc xe không khó khăn gì, nhưng người thì biệt tăm. Nhớ lại lời đồng dặn, Hương bảo mọi người tìm theo con suối lũ. Những ánh đèn lục lọi dọc con suối cho đến khi bình minh thức dậy thì cũng vừa đến ngã ba, nơi con suối gặp sông Đen. Miệng xoáy nước rít lên đe doạ đến rợn người.

Ba ngày sau, xác Tạ nổi lên đúng nơi thấy xác thằng Chài trước đó, mãi tận đất Hoà Bình.

Những oan hồn cây không biết bao giờ chịu yên nghỉ?!!

THANH PHƯƠNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *