“Thành phố hướng biển” xưa và nay

Vanvn- Trong quá trình hình thành và phát triển vùng đất Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh, nhờ luôn hội tụ và phát huy những lợi thế về vị trí địa lý, sự giao thương rộng rãi với bên ngoài và nguồn lực vật chất của lưu vực Đồng Nai – Cửu Long, “cảng thị sơ khai” Cần Giờ xưa kia, cảng Bến Nghé thời Nguyễn, cảng Sài Gòn trong thế kỷ XX và hiện nay là hệ thống cảng biển của TPHCM đã giữ vững vai trò quan trọng trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Đó là một đặc trưng mang tính chất lợi thế mà hầu như không có một đô thị biển nào ở nước ta có được.

1. Thành phố Hồ Chí Minh có mặt tiền là biển Đông. Đó là 15km bờ biển thuộc huyện Cần Giờ, hai vịnh Gành Rái (sông Lòng Tàu) và Đồng Tranh (sông Soài Rạp) là cửa ngõ nối liền thành phố, miền Đông Nam Bộ với biển Đông. Khu vực Cần Giờ thể hiện rõ nhất tính chất sông nước, biển và ven biển của vùng đất Sài Gòn xưa.

“Thành phố hướng biển” xưa và nay. Ảnh: Nguyễn Thị Hậu

Sài Gòn có một hệ thống sông lớn nối liền các vùng đất liền ra cửa biển nên từ thời xa xưa nơi đây đã có sự giao lưu mạnh mẽ với các khu vực khác qua đường biển. Quá trình khai phá vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ, những người dân từ nơi khác đến nơi này bằng đường biển là chủ yếu, sau đó theo các dòng sông đi sâu vào đất liền và định cư trên khắp Đồng bằng sông Cửu Long.

Vị trí địa lý của Cần Giờ khá đặc biệt, đó là vùng cửa sông – vịnh biển mang tính chất “mặt tiền” của lưu vực Đồng Nai rộng lớn, lại là “trạm trung chuyển” giữa hai miền lưu vực sông Vàm Cỏ – sông Đồng Nai hay hai vùng Tây Nam Bộ – Đông Nam Bộ. Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai – Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” xuất hiện muộn vào thời những đoàn lưu dân lênh đênh trên sông nước, ngược từ vịnh biển Cần Giờ vào miền Gia Định – Đồng Nai.

Nhưng từ thời tiền sử, cư dân cổ Cần Giờ chọn vị trí “cửa sông vịnh biển” để cư trú, góp phần hình thành một quy luật của “làng Nam Bộ” là định cư trên giồng cao nơi “giáp nước”, nơi gặp nhau giữa nước thủy triều chảy ngược và nước sông chảy xuôi, ghe xuồng ngược xuôi buôn bán thường nghỉ lại đây chờ con nước. Làng mạc mọc lên… ở đâu là nơi giáp nước, ở đó trên bờ là thị tứ, chợ búa…

Tính chất sông nước không chỉ là yếu tố tự nhiên, mà còn tạo ra đặc trưng của nền kinh tế đô thị Sài Gòn: buôn bán bằng đường thủy, hình thành hệ thống bến cảng, kho bãi, nhà máy, công xưởng ven sông. Đồng thời tăng cường tính chất cởi mở “hướng biển” giao thương với nhiều nơi khác, thúc đẩy kinh tế phát triển và góp phần vào sự phong phú, đa dạng của văn hóa thành phố.

2. Cần Giờ hai ngàn năm trước là một “cảng thị” cổ, nơi tiếp thu và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá – kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu tố văn hoá bản địa.

Hệ thống di tích khảo cổ học ở Cần Giờ cho thấy vào thời tiền sử, cách đây khoảng 2500 năm cư dân nơi này không phải là cư dân nông nghiệp trồng trọt như nhiều cộng đồng cư dân cùng thời. Người cổ ở Cần Giờ có đời sống kinh tế khá đặc biệt: Phát triển thương mại đường sông đường biển kết hợp hoạt động khai thác tự nhiên. Những di vật thể hiện mối quan hệ giao thương với nhiều vùng khác cho biết Cần Giờ là một “cảng thị sơ khai”, nơi tiếp thu và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá – kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu tố văn hoá bản địa.

Bước vào thời đại kim khí khoảng 2500 năm trước, lưu vực sông Đồng Nai đã là một trung tâm nông nghiệp, quy tụ lượng tài vật khá lớn của phía nam bán đảo Đông Dương. Dựa lưng vào một hậu phương rộng lớn và trù phú như vậy, “cảng thị” Cần Giờ đã có một nền tảng kinh tế – xã hội vững chắc để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, cư dân cổ Cần Giờ không hoàn toàn phụ thuộc vào hậu phương mà tự thân họ đã tạo dựng một trung tâm thủ công nghiệp. Sản phẩm của họ mang tính chất hàng hoá, đặc biệt là những mặt hàng quý như đồ gốm có hoa văn đặc sắc, đồ trang sức như khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai 3 mấu bằng đá ngọc và thủy tinh, hạt chuỗi mã não, hạt vàng, mảnh vàng có hoa văn… có mặt tại các di tích sâu trong lưu vực Đồng Nai là kết quả của mối quan hệ mật thiết với cửa biển Cần Giờ.

Bếp gốm – mô hình chôn trong mộ chum. Ảnh: Nguyễn Thị Hậu cung cấp

Từ những nơi khác xa hơn ngoài biển nhiều sản phẩm và kỹ thuật sản xuất đã đến Cần Giờ, như khu vực văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung nước ta, quần đảo Philippines, Đài Loan… xa hơn nữa về phía Nam như quần đảo Indonesia, bán đảo Malaysia… đặc biệt yếu tố kỹ thuật Ấn độ trong chế tác mã não, thủy tinh rất rõ ràng và độc đáo.

Đời sống trên biển của cư dân cổ Cần Giờ thể hiện ở loại hình bếp lò gốm (cà ràng), một vật dụng quan trọng đã được của cư dân cổ chôn theo trong mộ táng. Đây là loại bếp gốm dùng phổ biến trên ghe xuồng hay nhà sàn của cư dân sông nước Nam Bộ, cũng là vật dụng quen thuộc của cư dân nhiều nơi ở Đông Nam Á.

Các nền văn hoá khảo cổ thời kỳ tiền sơ sử ở Đông Nam Á đã cho thấy Biển Đông không phải là yếu tố ngăn cách và cô lập các tộc người ở khu vực này, mà trái lại là “chiếc cầu” nối liền các tộc người ven biển với nhau, liên kết giữa Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á lục địa, giữa Đông Nam Á với những vùng xa hơn trong Thái Bình Dương bao la. Mối quan hệ giao lưu rộng rãi của “cảng thị” Cần Giờ là một trong những yếu tố kích thích sự phát triển của văn hoá Đồng Nai thời tiền sử đạt đến cực thịnh, góp phần quan trọng vào quá trình hình thành văn minh Óc Eo ở Đồng bằng sông Cửu Long từ đầu Công nguyên.

Cần Giờ là huyện duy nhất của TP.Hồ Chí Minh có diện tích rừng lớn, “lá phổi xanh” của thành phố. Rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng điển hình. Chính vì vậy việc bảo vệ môi trường ở Cần Giờ rất quan trọng. Cần Giờ còn có một hệ thống di tích Khảo cổ học quý giá về mặt khoa học và có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử – văn hóa. Vì vậy đô thị biển Cần Giờ phải được phát triển theo tiêu chí vừa là đô thị hiện đại, vừa bảo toàn môi trường sinh thái tự nhiên và hệ thống di sản văn hóa có giá trị cao. Quy hoạch phát triển đi đôi với bảo tồn một cách hài hoà sẽ phát huy có hiệu quả giá trị của hệ thống di sản văn hóa Biển đặc sắc ở Cần Giờ.

3. Thành phố Thông thoáng, Thông thương và Thông minh. Từ đầu năm 2022 TP.Hồ Chí Minh đã đẩy nhanh và hoàn thành việc chỉnh trang khu vực bến Bạch Đằng, mang lại diện mạo hiện đại cho nơi này, đồng thời mở ra hướng quy hoạch chỉnh trang toàn bộ “mặt tiền” sông Sài Gòn, sông Đồng Nai đoạn qua thành phố, nhằm thay đổi cả hai bên bờ sông không chỉ ở đoạn trung tâm mà xa hơn, về phía Đồng Nai, Bình Dương hay ra phía Nhà Bè, Cần Giờ. Sự thông thoáng không chỉ là cảnh quan một vùng đất mà còn là một đặc trưng về tính cách con người, tính chất nền kinh tế của thành phố.

Do quá trình hiện đại hóa nên hệ thống bến – cảng công nghiệp đã di dời ra khỏi nội thành. Tuy nhiên, nếu TPHCM mất tính chất “cảng thị” thì sẽ mất đi một nguồn lực kinh tế cũng như nguồn lực văn hóa có được nhờ tính chất giao lưu tiếp nhận những yếu tố mới từ bên ngoài, qua hệ thống cảng thị. Tính chất “cảng” làm duy trì và phát triển sự cởi mở, năng động của thành phố. Vì vậy, bên cạnh khu vực cảng kinh tế thì khu vực cửa sông – vịnh biển Gành Rái – Cần Giờ – Vũng Tàu nên trở thành cảng du lịch lớn nhất, “cửa ngõ” quốc tế của thành phố (bên cạnh đường hàng không là sân bay Tân Sơn Nhất và sau này là sân bay Long Thành). Thông thương là một đặc trưng quan trọng có được từ vị trí địa lý và sự tận dụng, phát huy của người Sài Gòn từ hàng trăm năm trước.

4. TP Hồ Chí Minh đang xây dựng một thành phố thông minh không chỉ từ những khu công nghệ cao phần mềm hay từ việc ứng dụng, sử dụng thành quả của công nghệ thời 4.0 và trí tuệ nhân tạo. Mà sự thông minh đầu tiên là nhận biết những bài học hữu ích từ quá khứ: từ những lợi thế tự nhiên các thế hệ tiền bối đã sử dụng để mang lại sự phát triển thịnh vượng và bản sắc riêng độc đáo của đô thị Sài Gòn.

NGUYỄN THỊ HẬU

Báo Lao Động 8.2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.