Thần đồng chăn kiến góc sân và mục đồng chăn thơ trên cánh đồng làng – Phần II

 Vanvn- Ấy là Trần Đăng Khoa, người đã là “Thần đồng” ở tuổi U 10. Song, với tôi thì Trần Đăng Khoa là một “mục đồng”, kẻ không chăn trâu mà chăn thơ trên cánh đồng làng. Trước khi chăn thơ bé Khoa đã chăn kiến, vày giun ở góc sân nhà mình. Sau này bàn chân Khoa in dấu khắp nơi, thơ Khoa cũng mở rộng biên độ, chỉnh độ cao thấp, song tôi, và chắc không chỉ riêng tôi, vẫn thấy chỉ ở hai “sân chơi” nói trên mới đích thực là Trần Đăng Khoa.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

>> Thần đồng chăn kiến góc sân và mục đồng chăn thơ trên cánh đồng làng – Phần I

 

Thử lý giải thêm về thần đồng

Nói lý giải “thêm”, vì không ít các nhà nghiên cứu, cùng các bậc thức giả đã dụng công đi tìm sự giải thích, cắt nghĩa theo những cách khác nhau, mà cách nào xem ra cũng có lý, rằng cái gọi  “thần đồng” của Khoa đến từ đâu, do đâu mà có?

Người thì cho rằng Khoa được trời phú cho cái năng lực đặc biệt về nghe, nhìn, cảm, lại biết vận dụng phép “nhân hóa”, “lạ hóa” trong đồng dao, ca dao, cổ tích, thần thoại. Tổng hợp lại, nhân lên, cộng hưởng thành… thần đồng.  Có người giải thích sự cảm nhận thế giới của Khoa bằng cái nhìn “vật ngã đồng nhất” (mọi vật với ta như một), hay “vật ngã nhất như” (sự vật và mình là một) của Lão-Trang. Cái nhìn này cho người ta bầu bạn với hết thảy vạn vật xung quanh, có thể nghe được mọi âm thanh của cây cỏ, trò chuyện được với muôn loài, giao cảm hòa đồng với thiên nhiên.

Lại có người lý giải bằng cái nhìn tâm linh qua câu chuyện chết đi sống lại đầy chất “bí sử” của chú bé Khoa. Tình tiết thì ly kỳ song tóm lại thì, lên một tuổi Khoa đã bị nhiễm bệnh tả do có dịch xảy ra ở địa phương hồi 1958-1959. Bé Khoa ngừng thở, đã bó chiếu chờ “đến giờ Dậu thì đem ra đồng”, thì bỗng nhiên sống lại một cách thần kỳ sau một mũi thuốc tiêm, một đốt ngón tay củ gì (có lẽ là sâm) cùng những lời cầu khấn. Ngay lúc đó đã có người cười bảo: “Thằng cu này chết đi sống lại thế này là người nhà giời đấy. Sau này nó ắt hơn người”. Sau khi Khoa nổi tiếng, một vị cao tăng đã lý giải thần đồng bằng thuyết “đột biến”: “Việc chết đi sống lại cũng có thể là một cơ duyên để anh tiếp nhận những năng lượng đặc biệt từ vũ trụ để tạo nên một thần đồng thơ lừng lẫy sau này”.

Trần Đăng Khoa với mẹ và em gái năm 1968

Người viết còn muốn góp thêm một cách diễn giải nữa theo văn hóa Phật giáo, rất gần với cái nhìn Lão-Trang. Theo đó, thì “thần đồng” gần với “thần thông”. Hiểu nôm na thì “thần” là “thần kỳ” và “thông” là “thông đạt, thông hiểu”. Đó là khả năng siêu phàm của người tu luyện (chủ yếu là do công phu thiền định) mà có. Đến cảnh giới đó, tâm con người trở lên tĩnh tại và trong suốt, hòa đồng với tự nhiên với vũ trụ và sẽ đạt được “lục thông”, ứng với Như Lai, đắc chính quả Phật. “Tam thông” ở mức thấp và phổ biến hơn, gồm “thiên nhãn thông”, “thiên nhĩ thông”, “tha tâm thông”. Theo đó, khi đạt được cảnh giới “tam thông”, thì người ấy có thể nhìn thấy mọi vạn vật ở mọi nơi, mọi cõi, có thể nghe được mọi âm thanh của mọi loài, có thể “đọc” được suy nghĩ của vạn vật.

Con người ta bẩm sinh có những năng lực thần thông, nhưng do vật lộn, lặn ngụp giữa cuộc đời phồn tạp, nhiễm tham, sân, si, mạn, nghi (ngũ độc), nên dần dần những thần thông bị “cái tôi” bản ngã to đùng che khuất đi (vô minh). Tu luyện đúng bài bản thì thân tâm sẽ tự khai mở và thần thông sẽ triển hiện. Các cụm từ đi liền với chữ “thơ”, như “trẻ thơ”, “thơ ấu”, “thơ ngây”, “thơ thẩn” đã bao hàm trong nó cái chất thơ bẩm sinh. Thần thoại, cổ tích, đồng thoại, và ngay cả hai trường ca IliadOdyssey của Homer ở xứ Hy Lạp cổ đại, cũng ra đời ở thời ấu thơ của nhân loại, khi con người còn ở chung với thần thánh, nói “những lời có cánh”, nhân danh thần thánh mà nghĩ suy và hành động.

Những đứa trẻ anh nhi, vốn tâm trong, ý sáng (chân tâm) bẩm sinh đã có khả năng thần thông. Trần Đăng Khoa thời “hậu nhi đồng, tiền thiếu niên” cũng ít nhiều có khả năng ấy. Khoa không phải là kỳ nhân, cũng không là siêu nhân. Khoa là thần đồng vì hơn các trẻ em khác cùng lứa tuổi ở bộ nghe, nhìn, cảm của em nhậy hơn và nhất là cái khả năng mở miệng thành thơ, hay “diễn ngôn” thơ, như cách nói bây giờ. Ngoài thứ năng lực bẩm sinh, Khoa còn tiếp thu tình cảm, vốn sống từ lời ru của mẹ, từ chuyện kể của bà, từ kiến thức tổng hợp ở cái tủ sách bé tí mà anh Minh (sau này là nhà thơ tên tuổi Trần Nhuận Minh), một thầy giáo làng, dành cho em mình.

Và, điều quan trọng là không thiếu được lao động thi ca: “lao động, lao động và lao động”, đó là yêu cầu của người thầy lớn Xuân Diệu rỉ vào tai đệ tử nhí của mình. Nghe lời thầy“Tôi đã lao động miệt mài, lao động không mệt mỏi như thế từ bé”, Khoa hồi tưởng lại. Nhà thơ Lê Đạt, người từng nhận mình là “phu chữ”, đã từng bày tỏ “Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”. Quan niệm của này của Lê Đạt có hơi cực đoan song cũng không hề mâu thuẫn khi soi vào trường hợp Trần Đăng Khoa. Có điều lao động thơ của Khoa không để lại dấu vết của một “phu chữ”, nằm ở sự kỳ khu đẽo gọt, hay tỉ mẩn bẻ từ, cấy chữ, mà ở việc chọn con chữ sao cho đúng và trúng, nghĩa là đắc địa. Những chữ “đội” trong “đội sấm, đội chớp, đội cả trời mưa” khi nói về bố, hay từ “ngoi” trong “Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy” khi nói về mẹ, là hai ví dụ nhỏ về sự đắc địa của câu chữ, nên cũng “đắc nhân tâm” vậy.

Lại nữa, cũng chính thần đồng đã từng công khai rằng, hồi đó mình đã viết một số câu, số bài mà bây giờ nhớ lại thấy rất dớ dẩn, thậm chí buồn cười. Vậy nên cứ mỗi lần tái bản tác phẩm, tác giả của nó vẫn chi chút căn chỉnh để “góc sân” được vuông vức hơn, và “khoảng trời” được tròn trặn hơn, cũng như “Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa” sau này toàn bích hơn. Ở mấy lời đầu sách viết cho “Trần Đăng Khoa thần đồng thơ ca” nhà thơ còn trần tình rằng: Bi kịch của đời tôi là tôi đã cầm bút từ lúc có 8 tuổi và từ đó, không biết vì cái gì và tại sao, tôi đã buộc phải giã từ thời trẻ con”. Như vậy, hóa ra để được đời gọi là “thần đồng” đâu có dễ. Trời hào phóng, song trời cũng ky bo, kiết cú lắm, có cho không ai cái gì bao giờ!

Cái năng lực đặc biệt của Khoa thể hiện rõ nhất ở các bài Mưa, Đám ma bác giun, trăng sáng sân nhà em… như đã nói ở phần trên. Với bé Khoa thuở ấy, thì bất kỳ ai, thứ gì cũng có thể cất lên “tiếng nói” : “À uôm, ếch nói ao chuôm/ Rào rào, gió nó cái vườn rộng rênh/ Âu âu, chó nói đêm thanh/ Tẻ… te… gà nói sáng banh ra rồi/ Vi vu, gió nói mây trôi/ Thào thào, trời nói xa vời mặt trăng”. Con đường vẫn đi hằng ngày cũng có lần lên tiếng: “Đường rằng tao nhớ lắm thay/ Khoa ơi thầy giáo của mày đã xa”. Không chỉ thấy“Chim ngoài cửa sổ/ Mổ tiếng võng kêu”, mà đôi khi bé Khoa còn nghe được “Một tiếng gì lạ lắm/ Xôn xao cả đất trời”. Đáng lưu ý là, khi bộ ba “nhìn”, “nghe”, “cảm” kết hợp với nhau, mờ chồng lên nhau, thì thơ Khoa trên cả tuyệt vời. Đó là cái nghe không phải bằng tai, cái nhìn không phải bằng mắt mà bằng trái tim, tức là bằng “tâm”: tâm cảm, thấu cảm.

Cái sân thì ở làng quê nhà nào chả có, có cái còn “bắt mắt” hơn sân nhà Khoa, nhưng chỉ có tác giả Trăng sáng sân nhà em là thấy“Hàng cây cau lặng đứng/ Hàng cây chuối đứng im/ Con chim quên không kêu/ Con sâu quên không kêu/ Chỉ có trăng sáng tỏ/ Soi rõ sân nhà em”. Thực ra thì cây cau, cây chuối vẫn đang “nói” thứ ngôn ngữ tự nhiên của chúng, nghĩa là vẫn phe phẩy, đẩy đưa cái tàu, cái lá của mình, con chim, con sâu vẫn kêu cái ngôn ngữ nghìn đời của tổ tiên chúng. Chủ thể “quên” ở đây là bé Khoa. Như một thiền giả khi đã nhập tĩnh, bé Khoa lúc đó đã bỏ quên “cái tôi” trẻ con bên trong mình và cả cảnh vật bên ngoài, để hòa vào với cái ta, tức là đại ngã của thiên nhiên, vũ trụ. Ấy là người viết nghĩ thế, chứ Khoa ở tuổi ấy chỉ hồn nhiên dãi bày lòng mình với gió, tỏ tình với trăng, chứ đã biết cái “tôi”, cái “ta” là gì!

Vườn, cũng như sân, nhà nào chả có nhưng chỉ Khoa thấy “Lá xanh vẫy gió như là gọi chim” vào ban ngày, “Lá xanh lấp ló như là gọi trăng” vào ban đêm. Rồi nữa, “Nghe hàng chuối vườn em/ Gió trở mình trăn trở/ Chuột chạy giàn bí đỏ/ Loang vỡ ánh trăng vàng” (Nửa đêm tỉnh giấc). Vườn đã thế, ao cũng vậy. Bao đứa trẻ đã buông câu bên bờ ao song chỉ Khoa “đọc” được tính cách của từng con cá, đó là lão cá ngão “Cái mồm to hơn mình/ Mắt đỏ vằn gian giảo”; là cụ cá rô “Đầu đen sạm lầm lì/ Thường nháy phao đột ngột/ Rồi lừ lừ lôi đi”; là cô cá diếc thơ ngây “Hay vơ vẩn rong chơi/ Nhung nhăng khoe áo trắng/ Và nhẩn nha rỉa mồi” (Câu cá).

Rõ ràng là, cái nhìn hòa đồng, thấu cảm, đã cho Khoa những câu thơ thần đồng. Trong văn học xứ ta, ngoài việc hai người có công làm bất tử con trâu như đã nói, thì còn có hai người vô tình đã có công làm bất tử con chó, là Nam Cao và Trần Đăng Khoa. “Cậu Vàng” của Lão Hạc, và “bạn Vàng” của bé Khoa – một lão già nông dân đơn cô, và một cậu bé quê lên chín. Về già hóa trẻ con, lão Hạc nhấu nhí, trò chuyện với “cậu Vàng” cũng như bé Khoa bắt tay âu yếm “bạn Vàng” của mình, mỗi khi đi học về. Chỉ có những người sống ở làng, tâm hồn gần với đất đai cây cỏ, thì những con vật nuôi mới được họ nâng niu, trừu mến, trọng vọng như vậy.

Dù gì, sớm hay muộn con người vẫn phải tuân theo quy luật sinh học bất biến, là lớn lên và trưởng thành. Vào tuổi lên mười (1968) Khoa thấy năm nay em lớn lên rồi. Giữa Khoa và cảnh vật thiên nhiên đã bắt đầu có sự giãn cách “Nhìn trời, trời bớt xa xăm/ Nhìn sao, sao cách ngang tầm cánh tay/ Núi xa lúp xúp chân mây/ Bờ sông khép lại (hay gần lại?), hàng cây thấp dần” Bước vào tuổi mười bảy (1975), Khoa lên đường nhập ngũ, mở ra trang đời mới: “Em chẳng còn bé bỏng như xưa/ Chiếc khăn quàng em đeo đã bắt đầu thấy chật/ Những trang giấy cứ cồn lên trước mặt/ Đường hành quân dẫn đến mọi chân trời”.

Khi Khoa xuất ngoại, ngồi bên cửa sổ máy bay nhìn xuống mặt đất và tưởng tượng cảnh mẹ đang đứng bên dậu cúc tần nhìn lên “thằng con trai của mẹ/ Đang lượn bay trên cao thẳm bầu trời”“con lại cười vang như sóng dưới bầu trời”. Tiếng cười của anh Khoa bên cửa sổ máy bay bây giờ thật sảng khoái và sung mãn, khác hẳn với cái cười của nghé Khoa vênh mặt bên hố bom “cầu Cầm” ngày nào.

Sau Ò ó o thì trong thơ Khoa tiếng gà còn một lần nữa vang lên“Đêm dần khuya cao cao vòi vọi/ Bỗng vút lên/ Chót vót/ Tiếng gà/ Trẻ như thời trời đất mới sinh ra…”. Đây là tiếng gà của cô Bưởi, người du kích anh hùng bên sông Kinh Thầy“Cô Bưởi lắng nghe tiếng gà rừng rực/ Thấy sức triệu người hồi sinh trong lồng ngực/ Và cô đi/ Bên đám cháy/ Chưa tàn”. Tiếng gà vút lên trong cái đêm đen tối của làng quê thời thực dân mất nước cũng sống động, lay động lòng người, song không làm giật mình người ta nữa. Bé Khoa đã vỡ giọng thành anh Khoa. Chú gà trống choai đầy hăm hở, tự tin đang gồng mình lấy hơi để gáy những hồi dài trong trường ca gồm rất nhiều “khúc”, có cái tên chung khá hoành tráng là “Khúc hát người anh hùng”.

Lý tính dần đã thay cho trực giác. Cái khôn, cái khéo đã thay cho cái hồn nhiên, ngộ nghĩnh. Cái “tôi – tiểu vũ trụ” của Khoa ngày một lớn lên và đòi quyền được khẳng định mình trong cái “ta – đại vũ trụ”. Cái “tôi trữ tình” trong thơ Khoa cần phải được mở rộng biên độ, đào sâu suy tư. Cái nhìn “vật ngã đồng nhất”, những phép “thần thông” đã dần bỏ Khoa mà đi cùng với tiếng cây, tiếng cỏ, tiếng gió, tiếng chim của làng quê, tiếng trăng sao huyền bí của vũ trụ. Khoa cũng sớm nhận ra điều ấy, anh đã như tự thú trong bài “Bến đò”:

Mất một nỗi gì không thể tìm lại được

Ta đi, lòng vẫn ở nơi đây

Ai cũng chỉ có một lần

Cái thuở thơ ngây…

Vâng, ai cũng có một lần cái thuở thơ ngây, song chỉ Trần Đăng Khoa là có một thuở thần đồng! Cái thuở thần đồng “giời cho”, “giời mượn” ấy đủ để tác giả Góc sân và khoảng trời lấy làm vốn liếng, đào bới, chưng cất, ăn theo suốt cả đời mình, mà không có ai đặt điều so bì, ghen tỵ.

Ấn tượng Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa ngày đầu trong quân ngũ 1975

Tôi gặp Trần Đăng Khoa vào giữa năm 1990, khi anh đang học năm thứ hai ở Viện văn học mang tên M.Gorky ở Moskva. Còn tôi vừa xuống sân bay Sheremetyevo đang trên đường về Đại học Tổng hợp Kiev (CH Ukraina), ghé qua. Lúc ấy còn là Liên-Xô, về các nước cộng hòa thì mặc định phải qua Moskva. Không khí buổi gặp Khoa cùng với các học viên Nguyễn Đình Chiến, Châu Hồng Thủy, Vũ Xuân Hương, Thùy Linh, Nguyễn Thu Thủy…ở lớp dự bị tiếng Nga ở Trường MГУ nổi tiếng, mà tôi đã có dịp nhắc tới ở bài viết “Nguyễn Đình Chiến – Một con nghiện vô phương cứu chữa”.

Khi ấy Trần Đăng Khoa còn là chàng độc thân ở tuổi “cuối hăm đầu băm”, và cũng là “đầu hâm”, đang cặp kè bạn gái. Bóng dáng “thần đồng” chỉ còn phảng phất ở cái thông minh hóm hỉnh, kiểu chú Tễu của rối nước ao làng. Nhìn chung, đó không phải là sự thông minh lịch lãm của sách vở, dù Khoa đọc nhiều, mà là cái lém lỉnh, tếu táo, kiểu “nói trạng” xưa. Thì ra thần đồng cũng như mình, mang dáng vẻ của một trai làng có chữ nghĩa. Mình xấu trai, song “con giời” xem ra cũng không đẹp hơn. Mình đã nông dân nhưng hắn như cũng nông dân không kém. Mình đã muộn vợ, thì hắn cũng còn đang săn tìm cái nửa kia. Có thua là thua về cái gọi là “thần đồng thơ”, là “con giời”!

Trần Đăng Khoa là người thực tài, chân tài, chứ không phải là kẻ tài hoa, tài tử. Ngoài thứ anh hoa phát tiết ra tay (khi cầm bút viết thơ, viết văn) và ra mồm (khi đăng đàn giao lưu) thì hình như trời chẳng ban cho Khoa chút hoa tay, tài lẻ, tài vặt nào (hay trời có ban mà Khoa lý tài, không thèm triển hiện ra thì cũng không rõ). Không vẽ vời, không nhạc nhiếc, không bay bướm, điệu đà, cũng không rượu chè, giai gái tùm lum. Toát ra từ con người Khoa là sự giản dị, dân dã, từ ăn mặc đến ăn uống và cả ăn nói.

Mặc với Khoa thời ấy bốn mùa thường là bộ đồ quân đội màu cỏ úa, mũ lưỡi trai. Thứ thức ăn ưa thích của Khoa là cá kho với rau muống luộc chấm tương. Lòng lợn chấm mắm tôm, ở cái thời khốn khó hình như cũng là món khoái khẩu của Khoa. Tôi biết thế vì cả hai lần Khoa cùng bạn gái xuống Kiev chơi, thì đều được bọn đàn em ở đấy thết món dạ dày lợn chấm chanh mắm, mang sang từ Việt Nam. Vừa ăn Khoa vừa lắc lỏm: “Các ông ở U (Ukraina) sướng thật, chỉ vài rúp mà ăn dạ dầy lợn thoải mái”. Ăn nói thì Khoa cứ thủng thẳng, khụng khiệng, nhưng đố ai bắt chước được kiểu khụng khiệng như vậy. Khoa có bộ thần kinh vững. Vừa nằm xuống mấy phút là đã có thể ngáy khò khò. Người thế, nhìn chung là sướng. Chả bù cho hắn, là người dễ nuôi, nhưng khó ngủ.

Tuy không có máu đàn đúm trà rượu nhưng Khoa cũng tỉ mẩn, chẳng hạn như thích sưu tầm các thứ máy ghi hình, thu âm, hay chơi trò bói toán. Dưới mắt “Tây”, người như Khoa, cả bộ dạng lẫn tướng tinh, như ẩn chứa một cái gì rất bí hiểm của kiểu người Á đông. Bày trò bói toán chẳng để làm gì, chỉ để được cầm tay những nữ sinh Nga mới dậy thì mà đã phổng phao như người lớn, rồi phán mấy lời huyền bí về “đường tình”. Về thơ tình, người tình, Khoa có thể nhường S.Esenin, chứ cái khoản bói tay này thì Khoa hơn đứt “con họa mi của nước Nga”. Không phải là con gái làng Konstantinovo, tỉnh Ryazan, quê hương Esenin, song các em mắt xanh, tóc vàng mặt cũng đỏ lựng lên, rồi cười ngặt ngẽo. Khoa có lần kể với tôi thế.

Sang Tây, Khoa có những “Qua Bôrôdinô”, “Qua Xuzđan” “Uống rượu với người bạn Nga”, “Đến Vác-na nhớ Na-dim Hít-mét”, “Pa-blô Nê-ru-đa”,“Mátxcơva – Mùa đông năm 1990”Những bài thơ ấy đều chứa đựng ý tưởng, đều gói ghém thông điệp, chúng không “lép” so với mặt bằng thơ nói chung. Dù vậy, tôi chỉ thấy Chiều Riazan (với lời đề từ “nhớ Xecgây Esenhin”) là có hồn vía, hồn Nga pha lẫn hồn Việt, trong nhịp thơ năm chữ quen thuộc: “…Thấp thoáng căn nhà gỗ/ Nương hồn nước Nga xưa/ Dòng sông trôi mộng mị/ Chết đuối trong sương mờ…”. Hai câu kết “Lẽ nào Xéc gây còn/ Mà nước Nga lại chết”  nghe hơi “sái”, song vẫn chấp nhận được trong bối cảnh tao loạn, ôi ác của thời nước Nga “hậu Xô-viết”.

Nhớ cái lần cùng ngồi với nhau ở bên xứ Bạch Dương cách nay đã nhiều chục năm, Khoa có để ngỏ tâm sự: “Thơ mình có nhiều nét tương đồng với thơ S.Esenhin”. Tôi biết Khoa yêu quý, say mê đến sùng bái Esenin – “nhà thơ Nga nhất trong số các nhà thơ Nga”. Thơ ông được Du-ma Nga xem “là Kinh Thánh của tâm hồn Nga”. Căn hộ của anh thời ở “phố nhà binh” Lý Nam Đế có treo bức thảm chân dung khá lớn của nhà thơ này, ngay ở phía trên lối cửa vào. Chẳng biết anh mua hay do ai tặng. Tuy nhiên, tôi chỉ  thấy Khoa có nét tương đồng với nhà thơ Nga ở những sáng tác đầu đời. Vào thời ấy, họ đều lấy cánh đồng, mẹ, em, hay con chó, con trâu, con bò, cây bạch dương, cây lúa, tóm lại là đồng quê, người quê, làm cảm hứng cho thơ mình. Xa rời những cái “hương hỏa” ấy, thơ của cả hai đều như kẻ “chân không đến đất, cật không đến trời”, thiếu dần sinh khí.

Thiết tưởng, với hai nhà thơ, một Nga, một Việt, này thì cái sân, mảnh vườn và cánh đồng, nghĩa là cái không gian làng quê, có ý nghĩa như Mẹ Đất với thần Ăng-tê trong thần thoại Hy Lạp. Chàng lực sĩ Ăng-tê chỉ là vị thần vô địch, nếu chân chạm vào đất, nhận sức mạnh từ đất mẹ Gai-a. Khi bị nhấc ra khỏi mặt đất thì chàng sẽ “bất đắc kỳ tử”. Esenhin đã tự treo cổ mình, ngẫm cho cùng thì nguyên nhân chính yếu là do quẳng thân vào giang hồ, ông đã lâm vào bế tắc cả trong tình trường lẫn trong văn trường. Là “thần đồng”, Khoa không “bất đắc kỳ tử” song xa quê hương, ruộng đồng, cây cỏ, giun dế, cua cáy, thì “cái hồn” trong thơ Khoa xem ra có vợi đi. Thêm nữa, Esenin, cái người tuyên bố “Nếu không là nhà thơ/ Tôi sẽ là kẻ cướp”, đã kết thúc đời mình ở tuổi 30 bằng một chiếc cà-vạt cùng với những dòng tuyệt thếTrên đời này, chết là điều chẳng mới/ Nhưng sống, thật tình, cũng chẳng mới gì hơn”, nó cực dữ dội và quyết liệt, cả trong thơ và trong đời. Đời Khoa cả trong chính trường, tình trường cũng như văn trường, nhìn chung, không mấy thăng trầm, mà nếu có thì “thăng” vẫn là chính.

Họ Trần tự lên lão rất sớm, trước cả khi có Blog “Lão Khoa” đình đám. Lên lão sớm song Khoa lại trẻ lâu. Ở tuổi “nhi nhĩ thuận” mà mặt mũi Lão vẫn nhẵn nhụi, tóc vẫn ít muối nhiều tiêu, răng lợi vẫn chửa cãi nhau. Lâu lâu gặp lại, khó nhận ra vết thời gian cày xới trên khuôn mặt, nửa Phật nửa Tễu của Lão. “Thím” hay “các thím” là cụm từ Khoa thường dành cho chị em. “Thím dạo này sao trông nuột thế!”, “các thím làm cho không chỉ đám trai trẻ mà người như Lão đây cũng phải… đi khom”. Đại loại vậy. Thời Khoa chưa vợ, đi đăng đàn, Khoa hay bị hỏi xoáy, hỏi móc về chuyện tình, vì họ cứ tưởng Khoa bí, Khoa “ái”. Nào ngờ Khoa đã không bí, mà còn chủ động tán chuyện tình ái, khiến “đối tác” phải kiềng nể, còn đại chúng thì thích thú rỉ thầm vào tai nhau “đúng là Khoa “cuội”, “kẻ vạch giời rơi xuống!”.

Khoa muộn vợ. Tôi đã muộn, hắn còn muộn hơn. Đã lên “lão” rất lâu Khoa mới cưới vợ, nên vợ đã xinh lại trẻ, còn đảm đang nữa. Hôm cưới hắn không thèm mời tôi. Gặp Khoa tôi trách: “Ông khinh tôi quá. Làm việc đại sự mà không mời lão đây”. Khoa cười cười: “Chuyện vợ con tôi với ông cùng cảnh muộn cả, còn lạ gì nữa. Cho nó xong một việc. Tôi chỉ mời những ai không thể không mời”. Thì ra là vậy! Cho “xong một việc” dù là việc lớn, như người ta bảo. Điều này thì tôi cùng phe và hoàn toàn nhất trí với Lão.

Khoa hay hẹn hay hứa, xong lại quên ngay. Có lẽ biệt danh Trần Đăng “Hứa”, Khoa “Cuội” khởi nguồn từ những cái đại loại như thế. Không coi trọng tiền bạc song là người thực tế, ở thời buổi khó khăn của nước Nga, Khoa đã từng có dạo xách ca-táp theo người ta đi săn thuốc Tây gửi về quê bán kiếm lời, song rồi anh cũng sớm bỏ. Sau này, khi đã “vợ bìu con ríu” căn hộ trở nên chật chội, Khoa săng sái đi tìm thăm mua nhà riêng, và cũng mặc cả, trả giá như ai. Dù là trước đó, tôi có nhắc đến chuyện nhà cửa là Lão gạt phắt đi, giọng rất phũ: “Sau khi chết, Lão đây không có trách nhiệm gì với cái đống bầy nhầy của mình để lại” (!). Chẳng những thế, Lão nắm bắt thời cơ chuyển đổi sang nơi ở mới cho nó “hoành tráng” hơn, rồi còn sắm cả “bốn bánh” nữa. Ngồi ôm bụng “bầu” trong xe, nhường vợ cầm tay lái lụa, dáng dấp Lão chẳng khác nào một bá tước Nga mới lên đời, thời hậu Xô-Viết.

Với Khoa, “thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh” và “suốt đời, y luôn có ý thức vươn tới loại thơ đó”. Chẳng biết Khoa có đọc Lục Du không, song rõ ràng anh đã thấm cái quan niệm “Công phu thâm xứ thi bình dị” (Thơ hay nhất là thơ bình dị) của nhà thơ lớn thời Nam Tống. Khen thơ Khoa hay ở sự giản dị không có nghĩa là chê thơ cầu kỳ. Thiết tưởng, cái hay của thơ không phải tại cầu kỳ, hay giản dị, mới hay cũ, mà ở chỗ nó có chuyển tại được một “lượng tâm hồn” nào đến bạn đọc không”? Có chia sẻ với ai đó khi họ vui và nhất là có vỗ về, an ủi khi họ mất mát, đau khổ không? Ở đây chỉ muốn nói rằng Trần Đăng Khoa viết về những cái bình thường, thậm chí là tầm thường mà vẫn thơ, vẫn hay. Thế  mới khó, mới tài.

Nhìn chung, thơ Khoa cũng “mộc” như con người Khoa, không vặn vẹo câu chữ, son phấn điệu đà. Nếu phân giới tính thì thơ Khoa thuộc loại “trung tính”, chẳng đậm tính nữ cũng chẳng rõ tính nam. Đọc nhiều, giao tiếp rộng, thụ học với toàn những “cao nhân” bên trời Tây, vậy mà trong văn xuôi của Khoa tôi không thấy anh trích dẫn ông “ốp” ông “ép”, bà “ôi” bà “êy” là cái mốt, và cũng là cái cần, của những người có tem mác. Đọc văn phê bình, chân dung của Khoa không có cái “sướng” được ngợp mình trong biển kiến thức hàn lâm của một học giả, mà là cái “thú” bắt gặp một cây bút thông minh, tưng tửng, có khả năng phát hiện những cái khác thường trong những cái bình thường, cùng một giọng văn trần mộc, hóm hỉnh, thậm chí “hơi ác” (lời giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh – một người cũng thường có những nhận xét “ác” như thế).

Trong đời thường Khoa có “cuội” nhưng lại khá trung thực trong viết lách, cẩn trọng trong câu chữ. Khoa đã tự nhận mình là “nhà thơ khoác áo lính”, và  đã có lần tự bạch “Thuở bé, y từng ước mơ trở thành kỹ sư nông nghiệp và suốt đời làm thơ về làng quê, cảnh quê, những vui buồn của người dân quê ở nơi xóm mạc..”. Về cái việc viết, Khoa có lần tâm sự trên báo: Tôi chỉ có thể viết được cái gì tôi đã thực sự thấy bằng mắt, chỉ rung cảm về cái gì thực sự tôi đã trải trong tâm trí mình. Có thể tìm thấy trong thơ tôi những sự việc hoàn toàn có thực của bản thân tôi, gia đình tôi, làng quê tôi… Tôi thực sự biết ơn cái làng quê nhỏ bé của mình đã nuôi dưỡng tôi như vậy”.

Trong lĩnh vực văn chương, tôi thấy nhà thơ Trần Đăng Khoa có nhiều nét tương đồng với nhà văn Lê Lựu, vì cả trong đời và trong văn hai người đều đậm chất nông dân pha trộn chất lính tráng. Khoa có lần tâm sự trên báo: “Tôi chỉ có thể viết được cái gì tôi đã thực sự thấy bằng mắt, chỉ rung cảm về cái gì thực sự tôi đã trải trong tâm trí mình. Có thể tìm thấy trong thơ tôi những sự việc hoàn toàn có thực của bản thân tôi, gia đình tôi, làng quê tôi… Tôi thực sự biết ơn cái làng quê nhỏ bé của mình đã nuôi dưỡng tôi như vậy”. Cha đẻ “Giang Minh Sài” đã có lần tự bạch, một thứ tự bạch rốt ráo đến nỗi khiến người ta nghi ngờ cái sự nói thật, viết thật của ông: “Tôi là người ít học, ít đọc, vì lười nghĩ ngợi. Toàn bộ những trang viết của tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là Thật. Tôi không thể viết được nếu không bám vào sự thật. Tôi chỉ là người chép truyện, “có gì viết nấy”.

Hai “lão thợ cày”, một thơ, một văn xuôi – một tròn trịa nhẵn nhụi, một lởm chởm râu ria, là đồng hương Hải Hưng một thời này mà cặp đôi với nhau trong những buổi giao lưu, nhất là về chủ đề đi Mỹ vào thời đầu đổi mới, hội nhập, thì chỉ có là “bố đời”, “mẹ thiên hạ”. Nếu mục kích cảnh họ “diễn”, và “xướng” thấy còn ly kỳ, lôi cuốn hơn cả chuyện thiên hạ đệ nhất Trạng An-Nam đi sứ nước Tàu xưa. Cái “tài” của họ là biến những chuyện nghiêm chỉnh, tầm cỡ quốc gia, thậm chí quốc tế, trở thành tầm phào, và ngược lại. Tưởng như vô bổ, mà lại được việc. Những người như thế thường không xuất hiện ở chốn trường ốc, theo kiểu khoa cử, hay được tổ chức cơ cấu, mà như sen súng, nhô lên từ bùn đất lam lũ ở chốn làng quê Việt, theo quy luật chọn lọc tự nhiên. Nếu tổ chức dụng công nuôi trồng, cơ cấu, có khi lại thành ra phản tác dụng.

Sau này, Khoa học lên, đi nhiều, biên độ thơ Khoa cũng mở rộng hơn, suy tư, khái quát, triết luận cũng nhiều hơn, song, với tôi, chỉ những trang viết về làng quê mới sống động, mới thật là Trần Đăng Khoa. Và, cũng chỉ những triết lý hay khái quát nào xuất phát từ trái tim, gắn với “cây đời xanh tươi” thì mới có tính thuyết phục, tỷ dụ như Rồi ra đọc sách, cấy cày/ Mẹ là đất nước tháng ngày của con; Mái gianh ơi hỡi mái gianh/ Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương… Còn khi Khoa dụng công triết lý, thì nhìn chung là có cái hằn nổi của xương cốt mà thiếu cái tươi mát của da thịt.

Bài Về làng, Khoa viết nhân danh một người thương binh hỏng mắt có những câu cảm động, song lại kết rằng “Thế hệ anh đã sống một thời/ Xứng đáng để thế hệ sau kiêu hãnh/ Vì thế em ơi/ Cuộc đời anh không hẳn là bất hạnh” thì quả thực“mỗi lời là một vận vào khó nghe”. Hay anh luận về sự vô thường của phận người khi thăm nghĩa trang Văn Điển, rồi lên giọng thống thiết: “Trước mắt ta là hàng hàng bia đá/ Con người ơi hãy thương lấy con người” thì chẳng biết có ai mủi lòng vì lời kêu gọi của anh mà sống tốt hơn không? Bài Đứng trước chùa giải oan cũng có những câu triết lý tương tự: “Và chùa đứng như một người làm chứng/ Có bao giờ giải được nỗi oan đâu/ Nên chùa vẫn còn đây màu ngói cũ/ Một màu hoang từng xao động lòng người”. Tuy nhiên, mấy câu trong Matxcơva, mùa đông năm 1990Trái đất mỏng manh và đáng thương biết mấy/ Trước những mưu mô, toan tính của con người” thì lại nghiệm. Những ngày này “thằng anh”, cậy lớn, đang mang bom đạn dội lên đầu “thằng em”, nhỏ bé vì cái “tội” “chú” cứ nghe lời “ai”, chứ không chịu nghe “anh”. Thế là hỗn. Anh phải thẳng tay dậy bảo chú bằng một… “chiến dịch đặc biệt” (?).

Lại có lần Khoa tâm sự bằng thơ với anh mình – nhà thơ Trần Nhuận Minh “Người bảo bác theo Đỗ/ Em phải học Lý thôi/ Bác đã bay dưới đất/ Em đành đi trên giời”. Tôi thấy thơ Trần Nhuận Minh có phảng phất ít nhiều cái nỗi đau đời của “thi Thánh” Đỗ Phủ khi nói về thân phận dân đen, chứ không thấy cái hào sảng, thích thảng, phóng dật của thi tiên Lý Bạch ở thơ Khoa, dù rằng anh có nói đến trăng, đến gió, kể cả việc “nào ta nâng cốc đi anh…”. Cái “bầu trăng gió” mà khoa “quẩy” nhỏ bé, nhẹ nhàng, nhàn tản quá. Nó chẳng những không có cái hào sảng của “Quân bất kiến: Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai” đã đành, mà nó cũng không có cái cô đơn rợn ngợp của “Cử bôi yêu minh nguyệt/ Đối ảnh thành tam nhân”. Mà thiển nghĩ, việc gì Khoa cứ phải bóng gió so mình với những thi Tiên, thi Thánh ở tận đẩu đâu, tự thời nào! Thần đồng thơ nước Việt thiếu tự tin chăng?

Bài thơ “Gửi bác Trần Nhuận Minh” hàm chứa nhiều tâm sự về đời và thơ của Trần Đăng Khoa. Cứ theo lẽ thường, khi nhìn lại đời thơ mình thì nhẽ ra người thơ phải biết ơn, cảm tạ những giun dế, kiến vàng, chó đen “Đã khiêng vác em lên”, cho Khoa tột đỉnh vinh quang. Thì giọng thơ ở đây lại ỡm ờ, khụng khiệng như giễu cợt chúng. Còn đâu cái nâng niu, trừu mến, trân trọng, thân ái, đầy chất nhân văn, nhân hậu như trong Đánh thức trầu, Đám ma bác Giun, Sao không về Vàng ơi, hay cái ung dung ngồi vuốt râu của chú Mèn họ nhà Dế dưới bờ tre, bên ao trường. Thiển nghĩ, nếu “đọc” được những dòng này, thì những sinh linh mang kiếp giun dế, kiến đen, chó vàng… sẽ buồn tủi như những cung phi thời xưa một thời được quân vương sủng ái, nay bị bệ hạ bỏ rơi.

Lại nữa,“Giờ thì em đã chán/ Những vinh quang hão huyền”, Khoa khiêm tốn hay tự kiêu? Nhưng, gợn nhất là câu kết “Thung thăng em với bác/ Ta cưỡi thơ ra đồng”. Đây không phải là một thi ảnh đẹp, nó chẳng tương xứng với Trần Đăng Khoa một chút nào. Tôi hình dung con trâu thơ đẹp đẽ, thơ mộng của một thuở thần đồng sẽ phải oằn lưng, nhăn mặt chịu đựng cái thân hình ục ịch của “Lão Khoa” hôm nay. Mục tử chăn thơ hào hoa đã thành lão già cưỡi thơ thô kệch! Trong thơ, Khoa luôn mơ làm thợ cày, ước  mình được cưỡi trâu ra đồng, song tôi thấy trong đời thực thì Khoa chủ yếu là “cày” đường phố, chẳng phố Hà Nội, thì cũng phố Moskva, New York, hay Boston, và nếu không “cưỡi” hai bánh thì cũng là bốn bánh, hay vi vu lưng chừng trời.

Trong thơ, Khoa đã từng “một mình em đóng cả ba vai chèo”, trong đời Khoa cũng sắm nhiều vai, kể cả làm “quan”, dù là “quan văn”. Song, vai thi nhân là đạt nhất, ấn tượng nhất. Trên cánh đồng chữ nghĩa của Khoa có vạt này vạt kia, thì vạt thơ là trĩu trịt nhất, những chùm đầu đời, chín tới và chín sớm, là ngát hương, đậm vị hơn cả. Hành trình gần sáu chục năm thơ Trần Đăng Khoa là một hành trình nhiều chặng, song vẫn nhất quán một giọng thơ, dù ở mỗi chặng thơ có ít nhiều những biến đổi, nhấn nhá. Đó là giọng thơ tưởng quen mà lạ, đơn thanh mà không đơn giản, có duyên mà không làm dáng, sâu sắc trong cái sự hồn nhiên pha trộn giữa hiện thực đời sống với ca dao, đồng dao, kể cả cổ tích, ngụ ngôn, thần thoại. Cái tôi trữ tình của Khoa là cái tôi trữ tình công dân, chân chất, đằm sâu, dung dị, dạt dào tình người, tình quê hương xứ sở, và mấp mé vươn tới cảm hứng sử thi, ít nhiều mang tính thời đại nhà thơ sống.

Nếu bằng cái nhìn không – thời gian nghệ thuật của các nhà lý luận mà xét, thì hành trình thơ Trần Đăng Khoa nghiêng về cảm quan không gian hơn là thời gian. Trong hành trình ấy, tôi thấy Khoa tung hoành nhất, tự tin nhất, là hành trình từ “sân” ra “vườn”, ra “ao”, rồi ra “đồng”. “Điền Trì”, cái làng chôn rau cắt rốn của Khoa theo nghĩa Hán-Việt là “ruộng và ao”, thì trong thơ Khoa “ao” và “ruộng” cũng lưu nhiều dấu vết hương hỏa. Ở khoảng không-thời gian quen thuộc đó, anh phát huy mọi sở trường, thả sức phô diễn tài năng, vốn sống của mình, như anh đã từng có lần viết về nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong Chân dung và đối thoại:“chân cứ thung thăng bước mà không sợ bị vướng vào câu, tay cứ tự do vung mà không ngại bị va phải chữ”. Sau này ra đảo, sang Tây, làm quan có cái hay, cái được, cái vinh, nhưng thiển nghĩ anh không thể có cáí sướng của “tỏa hương ruộng đồng” cùng “niềm vui gieo trồng” thuở từ sân ra đồng.

Từ sân nhà ra đồng làng gồm nhiều “sân chơi” cùng đồng hiện, thì ở sân nào tôi thấy thơ Khoa đều nổi lên một “nhân vật” trung tâm, sắm vai “chủ trò”, gây ấn tượng mạnh. Ở trong sân là bạn vàng, ở góc vườn là bác giun, ở ngoài ao là cá (lão cá ngão, cụ cá rô, cô cá diếc), ở ngoài đồng là con trâu. Còn về con người, thì có ba nhân vật được khắc họa rõ nét và ấn tượng nhất, là bé Giang, mẹ và bố. Bé giang là thần tiên nhất “phất phơ mái tóc/ Vương vương nụ cười”, mẹ là hy sinh nhất “nằng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”, bố là kỳ vĩ nhất “đội sấm/ đội chớp/ đội cả trời mưa.

Ấy là chưa nói đến những nhân vật có tên không tên, tham gia vào cuộc chơi, là hoa, là chim, là cây, chị mây, cô gió, ông mặt trời, bà mặt trăng…Chính những nhân vật này đã góp phần quan trọng làm nên cái gọi là “không gian làng quê” đặc thù trong thơ Khoa. Nếu để ý, trong thơ Khoa cứ chỗ nào động đến quê, là rưng rưng lay động lòng người, kiểu như “bóng cau vẫn ngả ngang vườn/ Lá tre gió vẫn thổi vương ngõ ngoài”. “Anh nghe tơ mảnh tiếng côn trùng/ Gáy rụt rè trong bụi cỏ/ Trâu đủng đỉnh lắc sừng đi qua ngõ/ Hơi sương tan trên rặng cúc tần/ Ánh chiều rơi vào khung cửa sổ rất gần”…

Nhà thơ Phạm Công Trứ – tác giả bài viết. Ảnh: Chu Nhạc

Đọc lại Góc sân và khoảng trời, tôi hụt hẫng trước“Thời gian vẫn đi lạnh lùng khắc nghiệt/ Có kiệt tác hôm nay mai đã bẽ bàng rồi/ Bao thần tượng ta tôn thờ cung kính/ Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi”, song rồi hồi tâm lại với “Cái còn thì hãy còn nguyên/ Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan”. Đúng thế. Gia tài thơ Trần Đăng Khoa, cái gì gắn với máu thịt cuộc đời, là tiếng hát của tâm hồn, là rung động của con tim, thì vẫn còn nguyên giá trị lâu bền. Còn những gì mang tính thời cuộc, được người ta công kênh lên, hoặc “gà” cho, hay anh tự túm tóc hòng nhấc mình lên, thì sẽ rơi rụng theo thời cuộc. Trong cuộc chạy marathon thơ, Khoa không giữa đường bỏ cuộc song đã dần đuối sức so với chính mình, như một quy luật nghiệt ngã trong sáng tác của nhiều nhà thơ tên tuổi khác. Thơ Việt phải chăng đang trên ngưỡng cửa của sự đổi chặng, đang dò dẫm bẻ ghi sang một “hệ hình thẩm mĩ khác”, với thế hệ bạn đọc khác và những nhà thẩm thơ khác? Vậy nên, sau này Khoa ít viết thơ chuyển dần sang văn xuôi, phê bình, đăng đàn, làm quản lý… cũng là phải lẽ.

Người ta yêu Khoa, sùng bái thơ Khoa không phải ở sự cách tân thi pháp, sự kỳ khu trong cấu tứ, sự diệu vợi của tâm trạng, sự hoa mỹ của câu chữ, mà ở cái sự “chân”: chân cảm. Trong văn chương nghệ thuật, “chân” là gốc của “thiện”, của “mi”. Thiếu “chân” thì “thiện” và “mĩ” sẽ chẳng khác nào kẻ “tiên thiên bất túc”. Anh là nhà thơ của nhân dân, của số đông. Bạn đọc tin anh và anh cũng tin ở sự công tâm của bạn đọc. Sức sống thơ Trần Đăng Khoa có thể lượng định được qua tần suất tái bản, có tập đến hơn trăm lần, một kỷ lục thời nay dành cho thơ. Góc sân và khoảng trời cùng với vài trường ca khác, hấp dẫn không chỉ cho trẻ con, mà cho cả người lớn. Ở đó, người quê, nhất là trẻ quê, tìm thấy bóng dáng, vui buồn của mình. Nếu thơ là tiếng lòng, tiếng vang ngân, cộng cảm từ tâm hồn một người đến tâm hồn nhiều người, thì cha đẻ của Góc sân và khoảng trời ở tuồi chín mười đã làm được như vậy. Khoa đã như rỉ vào tai lũ trẻ rằng: thơ chẳng ở đâu xa. Cái hay, cái đẹp tàng ẩn ngay ở mảnh sân, góc vườn, bờ ao nhà chúng, cánh đồng làng chúng. Chỉ cần một bàn tay với lòng trong, tâm sáng, chan chứa tình người chạm đến, là nó sống dậy, ngân lên. Nghe thế, biết thế, nhưng cứ thử đi, đừng có mà tưởng bở, thấy đỏ ngỡ chín nhé!

Vì yêu quý Trần Đăng Khoa, có người đã ước Khoa thế này, thế kia, tỷ như gia tài thơ tình của anh dầy dẫn hơn, giá như làng quê, đồng quê trong thơ anh ngoài cái tươi đẹp, hồn hậu, đáng yêu, còn có cái nỗi sầu muộn, bi mẫn, u hoài muôn thuở, ẩn giấu sau những góc khuất, mặt tối. Giá như anh nên sửa thơ ở chỗ này mà không nên sửa ở chỗ kia, giá như anh viết tiểu thuyết (mười tuổi Khoa đã thử sức mình ở vài tiểu thuyết mi-ni viết dở)… Song, họ sẽ bớt đòi hỏi, nếu họ biết rằng người Pháp có câu, đại ý rằng: nếu mà giá được thì người ta có thể bỏ cả Pa-ri vào một chiếc túi!

Thử mạo muội “xếp chiếu”, thì ở lĩnh vực thơ thiếu nhi, Trần Đăng Khoa ngồi ở “chiếu nhất”. Ở lĩnh vực thơ chống Mỹ anh cũng ở khoảng “chiếu nhì”. Anh còn ngồi chung chiếu với các nhà thơ thuộc “trường thơ Quê” thời Thơ Mới mà không cần sự chiếu cố. Trong số các thi sĩ đương đại, anh là người hạnh phúc nhất. Nổi tiếng dài dài, được cả danh và lợi, mà hình như không bị “đánh đấm”, “lườm nguýt” gì. Nếu có thì đó cũng là cái sự… “yêu thì cho roi cho vọt”, “giơ cao đánh sẽ”!

Trong hình dung của tác giả những dòng lan man, loằng ngoằng này, thì từ một thần đồng chăn kiến vầy giun ở góc sân nhà, đến một mục đồng chăn thơ trên cánh đồng làng, Trần Đăng Khoa đã như “Bạn nhỏ cưỡi trâu về ngõ/ Tự mình làm nên bức tranh”. Trong đó, ẩn chứa chân dung của một thi nhân có gương mặt thơ không trộn lẫn với ai, khó lặp lại trong nền thi ca đương đại. Người đó, ở thời đó, đã có một mạch thơ tuôn chảy của tiếng đàn bầu đêm trăng “mát trong như suối đầu nguồn” với một giọng thơ chót vót tiếng gà “trẻ như thời trời đất mới sinh ra”. Mạch thơ, giọng thơ đó kết tinh nhiều tinh túy Việt, nhất là:

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay

Thế mới là thơ.

Thế mới là Trần Đăng Khoa “thần đồng nước Việt”!

PHẠM CÔNG TRỨ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *