Thần đồng chăn kiến góc sân và mục đồng chăn thơ trên cánh đồng làng – Phần I

Vanvn- Ấy là Trần Đăng Khoa, người đã là “Thần đồng” ở tuổi U 10. Song, với tôi thì Trần Đăng Khoa là một “mục đồng”, kẻ không chăn trâu mà chăn thơ trên cánh đồng làng. Trước khi chăn thơ bé Khoa đã chăn kiến, vày giun ở góc sân nhà mình. Sau này bàn chân Khoa in dấu khắp nơi, thơ Khoa cũng mở rộng biên độ, chỉnh độ cao thấp, song tôi, và chắc không chỉ riêng tôi, vẫn thấy chỉ ở hai “sân chơi” nói trên mới đích thực là Trần Đăng Khoa.

 Khi Ò ó o vang lên

Trần Đăng Khoa khởi đầu đời thơ từ góc sân nhà em. Một buổi sáng mùa xuân đẹp trời, bé Khoa đuổi theo cánh bướm đang rà ngang sân qua vườn ra ngõ. Như trêu chú bé, bướm vàng xà xuống lượn vòng vút lên, bay mất. Hụt rồi. Tiếc nuối, song bù lại, chú vồ được bài thơ đầu tiên “Con bướm vàng/ Con bướm vàng/ Bay nhẹ nhàng/ Trên bờ cỏ/ Em thích nó/ Em đuổi theo…”. Cũng may, chú vồ hụt nên “con bướm vàng” còn lãng đãng mãi trong ký ức tuổi thơ, chứ nếu không thì (xin lỗi cụ Tố Hữu cùng chú đồng chí “Lượm”): “Một cái xác nhỏ/ Thôi rồi bướm ơi!”. Như vậy, nếu bảo rằng tác phẩm là đứa con tinh thần của nhà thơ, thì ở tuổi lên tám bé Khoa đã có “đứa con thơ” đầu lòng là con bướm vàng, trình làng văn.

Trần Đăng Khoa với căn nhà xưa cùng giáo sư Nguyễn Lân, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Hoành Khung năm 1970, Ảnh fb nhà thơ

Sau này, cũng cái tứ này, song con bướm vàng hóa thành con cá vàng “Con cá vàng/ bơi nhẹ nhàng/ trong bể nước/ đố ai bơi được/ như con cá vàng”. Bài thơ chẳng rõ tác giả này có cái hay của một câu đố vui, ngắn gọn, dễ thuộc nên trẻ mẫu giáo rất thích. Con bướm vàng chập chờn trên bờ cỏ xanh mướt ở làng quê, còn con cá vàng lãng đãng trong sóng sánh bể cảnh nơi phố thị. Sẽ có nhiều em bé quê thuộc thơ rồi mong đuổi bướm, hái hoa, song chẳng biết có em bé phố nào thử bơi được như con cá vàng không?

Cánh bướm thơ mộng song êm ả, rụt rè quá chưa khiến ai chú ý. Dù làng xóm lúc ấy người ta đã ít nhiều truyền tai nhau về cái thằng con nhà ý mới tí tuổi mà đã nói ra thơ, tức xuất bản bằng “mồm”. Phải đến khi tiếng gà  “Ò… ó… o…/ Ò… ó… o…” dõng dạc cất lên từ góc sân nhà Khoa thì làng Điền Trì mới giật mình, xôn xao cả lên. Cái tiếng gà từng hồi dồn dập, cấp tập, hết giục quả na mở mắt, giục hàng tre đâm măng, rồi giục buông chuối, giục hạt đậu, giục con trâu, giục đàn sao, giục ông trời nó mới tinh khôi, hồn nhiên làm sao. Từ con vật, con người đến đất trời cây cối, ở cái làng ấy đều bừng tỉnh, náo nức, sống động hẳn lên. Sau khi một vài bài thơ Khoa đăng báo trung ương thì làng văn xúm lại, ngơ ngác hỏi nhau: “Trần Đăng Khoa là đứa nào vậy?”.

Thấy lạ, nhà thơ Xuân Diệu về tỉnh, giữa đêm khuya ông tìm về khảo sát cái sân, rồi xách đèn soi vườn nhà Khoa. Sau chuyến thực địa cái “vũ trụ tí hon”, “chỗ đầu nguồn của thơ Khoa”, ông viết bài phát trên đài thì danh tiếng Trần Đăng Khoa vang như sấm rền. Giữa thời bom đạn mà có người ở đẩu đâu hỏi thăm tìm về tận làng, xem cái đất ấy “địa linh” thế nào mà lại xuất “nhân kiệt””. Xem phong thủy, lại còn vào tận nhà tò mò bắt thằng bé xòe tay xem đường chỉ, vạch tóc xem khoáy, vạch áo xem rốn, vạch quần xem… rồi im lặng ra đi, rất bí hiểm. Xem để thấy thằng cu có gì khác lạ không, mà sao lại tài thế.

Hóa ra, cái làng Điền Trì xuất thần đồng ấy là một làng chiêm trũng lam lũ, người dân ở đây cũng xắn quần lội ruộng, chổng mông gặt lúa, chẳng khác gì dân làng mình. Còn thần đồng là thằng cu “bé như cái kẹo” (chữ của Chế Lan Viên), cũng lem luốc, chỉ được cái lém lỉnh, hỏi gì đáp lấy, như trạng tái thế. Lại có người không tin những bài thơ đó do Khoa làm, để nhân tiện vừa thử tài thần đồng, vừa kiểm tra độ thực hư, họ yêu cầu cậu bé phải ứng khẩu thơ ngay tại chỗ, đề tài là do họ ra.

Mười tuổi (1968) Khoa đã có tập thơ “Từ góc sân đến khoảng trời”. Ở nước mình, hình như trước Khoa chưa hề có, sau Khoa chẳng biết có hay không. Khoa là độc nhất vô nhị. Chẳng những ở Việt Nam mà còn tầm thế giới. Và cái nghệ danh “thần đồng” thơ, như một con “chíp” của giời gắn vào Trần Đăng Khoa, định vị đời Khoa từ đấy. Cái tên Trần Đăng Khoa lẫy lừng đến nỗi đã khiến một ông nhà văn xứ Nam, tỉnh Thái, trùng tên chạnh lòng phải đổi thành Khoa Đăng cho khỏi… “chạm húy”!  Dù ông nhà văn này họ Nguyễn và bố mẹ đã đặt tên Đăng Khoa trước thần đồng hàng chục năm.

Sau này, phục tài Khoa có nhà phê bình, một tiến sĩ Tây học khá nổi tiếng, đã dụng công làm hẳn một quyển sách hơn hai trăm trang đặt tên là “Trần Đăng Khoa thần đồng thơ”. Cuốn sách xuất bản năm 2000 này nghe nói bán chạy, bìa rực một màu hồng bình minh đang lên. Chắc là người thiết kế bìa được gợi ý từ câu thơ “gọi ông trời/ Nhô lên/ Rửa mặt” trong bài “Ò ó o” của thần đồng chăng?

“Thần đồng” chăn kiến, vầy giun trên sân nhà

“Thần Đồng”, đại để theo giải nghĩa của tự điển thì là đứa trẻ thông minh, có năng khiếu khác thường. Còn với dân quê thì thần đồng là người có khả năng làm những việc mà người ở tuổi nhi đồng (nay gọi là “tuổi nhí”) không làm được. Thần Đồng là tài giời, là “con Giời”. Cụ Tố Hữu, vị trưởng lão của làng văn nghệ, người đã phát biểu “tôi không thích chữ này lắm” cũng phải thừa nhận “Tinh hoa văn hóa của dân tộc đã dồn đúc vào một số ít người, trong đó có Khoa. Giời đã mượn cái miệng trẻ con của Khoa để làm thơ cho người lớn đọc…”. Thời ấy, đồng thời và sau Ò ó ó là “Ôi bốn bề/ Bát ngát/ Tiếng gà”. Một số đứa trẻ trạc tuổi Khoa cũng làm thơ đăng báo, song chỉ có Khoa được “chúng khẩu đồng từ” là thần đồng nước Việt. Không thần đồng thì làm sao một đứa trẻ quê ở tuổi còn ngịch đất, bụng chưa có mấy tí chữ, mà đã có cả một sân thơ, một vườn thơ, một ao thơ, rồi sau đó là một cánh đồng thơ dài rộng như vậy.

Trần Đăng Khoa với em gái và nhà thơ Ngô Viết Dinh bên bờ sông Kinh Thày năm 1969. Ảnh fb nhà thơ

Với thần đồng, góc sân, mảnh vườn, bờ ao là cả một vương quốc của côn trùng, vật nuôi như bướm, chim, gà, chó, mèo, giun, dế, cá… và cùng với đó là một thế giới của thảo mộc: trầu, na, chuối, mía, dừa… Trong cái vương quốc tí hon ấy, Khoa thỏa sức khám phá cảnh vật, phát hiện chính mình. Như một ông vua không ngai song đầy uy quyền của một phù thủy nhí, bằng vốn ngôn ngữ ít ỏi nhưng lại rất hồn nhiên, sinh động, bé Khoa đã bắt những cây con tầm thường, nhàm chán ấy phải gáy lên, hát lên, múa lên, tấu lên theo cái “điệu tâm hồn” của chú. Cái chất giọng nửa hồn nhiên, ngộ nghĩnh, nửa sâu sắc, hóm hỉnh của Khoa khiến không chỉ các bạn đồng lứa mà cả các bậc “phụ huynh”, các cây đa cây đề làng văn nghệ cũng phải ngạc nhiên theo Khoa, trầm trồ cùng Khoa. “Bàng hoàng”, “xúc động”, “ám ảnh”, “giời cho”, “giời mượn”… là những hình dung từ chỉ sắc thái, những giới từ chỉ mức độ, mà người ta hào phóng tặng cho cậu bé tên Khoa làng Điền Trì.

Chỉ nội một bài Mưa đã bầu Khoa là thần đồng. Trời mưa, đứa trẻ nào thích chí, nghịch ngợm lắm thì chạy ra sân trần truồng tắm rồi reo cười với nhau trong bữa tiệc giao hoan của đất trời, chứ làm sao thấy được mối trẻ bay cao, mối già bay thấp, gà con ẩn nấp, mía múa gươm, kiến hành quân, cỏ gà rung tai, bụi tre gỡ tóc, bưởi bế con, dừa sải tay, mồng tơi nhảy múa, cóc nhảy, chó sủa…. Đó đúng là ngày hội kì vĩ của thiên nhiên, con vật, cây cối và cả đất trời. Mà cái kỳ vĩ ấy lại hiện lên ở ngay tại mảnh sân và góc vườn nhà Khoa, với cái oai phong của “Ông trời/ Mặc áo giáp đen/ Ra trận, cái lạ lùng của “Sấm/ Ghé xuống sân/ Khanh khách/ Cười”. Nhưng kỳ vĩ, lạ lùng hơn cả là “Bố em đi cày về/ Đội sấm/ Đội chớp/ Đội cả trời mưa”.

Cứ một ánh chớp lóe lên, kèm một tiếng sấm, thì hình ảnh người bố vai vác cày tay vuốt nước mưa lại như một lần tạc thêm vào mắt người con đang lo lắng nhìn ra sân. Ba chữ “đội” nối tiếp nhau có hơi khoa trương, song trong bối cảnh của “một cơn mưa gió nặng nề”, dưới cái nhìn của một đứa trẻ con, thì lại thấy nó hợp lý dù có ít nhiều thần thoại hóa. Chỉ bằng vài chục câu, ngắt nhịp một, nhịp hai, tung tẩy tự do, theo cái tiết tấu của dông lốc, gió mưa, thế mà Mưa có cái dung lượng của một khúc tráng ca về thiên nhiên và con người, vừa hòa hợp vừa vật lộn với nhau trong cái vũ khúc sinh tồn của trời đất lúc sang mùa. Thông thường thơ cổ kim hay nói về mưa buồn, diễn tả nỗi cô quạnh của con người, thì Trần Đăng Khoa góp vào một cái nhìn khác về mưa. Đó là sự giao tranh giữa con người bé nhỏ và thiên nhiên kỳ vĩ. Thiên nhiên đã kỳ vĩ, con người còn kỳ vĩ hơn. Chẳng có lời xưng tụng, biểu dương về tầm vóc của người lao động, lại là bác thợ cày nào mạnh mẽ mà lại kiệm lời hơn thế.

Sau này, Khoa có hẳn trường ca Đánh thần hạn khá hoành tráng, ca ngợi sự đoàn kết cùng tinh thần quyết chiến quyết thắng của người nông dân trước thiên nhiên “Thần nào ta cũng đánh tan/ Vì đầu ta có nhiều lẽ phải/ Vì tim ta không hề sợ hãi/ Vì tay ta lấm láp phù sa”. Hoành tráng, đa nhân vật, giàu suy tư, song dù vậy, “ta” trong đoàn quân chiến đấu với thần hạn, lên tận trời, không gây ấn tượng mạnh bằng “không ta” trong  trận “mưa” có kiến hành quân, cóc nhảy, chó sủa ở ngay trên sân nhà.

Người viết sực nhớ đến vở múa “Hạn Hán và Cơn Mưa” nổi tiếng khắp sân khấu  Âu-Mỹ do nghệ sĩ Ea Sola Nguyễn Thủy (người Việt quốc tịch Pháp) dàn dựng trên nền nhạc chèo. Chẳng biết khi dựng vở này Ea Sola có lấy cảm hứng từ thơ Trần Đăng Khoa hay không, nhưng các bà nông dân Thái Bình “bước thẳng từ ruộng lúa nước lên sân khấu nghệ thuật quốc tế” “nhảy múa tung hoành như thôi miên khán giả trên sân khấu Paris, Amsterdam, London” (lời Nguyễn Duy) nhất định ít nhiều đã từng đọc hoặc nghe nói về Mưa, Hạt gạo làng ta Đánh thần hạn của Khoa.

Đâu chỉ có Ò ó o, Mưa, bằng cái nhìn tinh tế, bé Khoa còn cảm thấy sự mơ hồ của một cái lá đa rơi nơi đền Côn Sơn (Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng nghe rất mỏng như là rơi nghiêng), chú mục vào một cái vại nước ở sân nhà (Nghe trời trở gió heo may/ Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau), hay lắng thấy (Vườn xanh biếc tiếng chim/ Dơi chiều khua chạng vạng). Nhiều nhiều những câu thơ kiểu thần đồng như vậy. Người ta có thể bảo Khoa ảnh hưởng từ đồng dao, từ cổ tích, thần thoại, từ văn ông này thơ bà kia. Hẳn có thế. Nhưng dù vậy, vẫn phải thừa nhận phần sáng tạo của Khoa là chủ yếu.

Ở độ tuổi vừa qua nhi đồng thì chơi và học, chơi và làm cứ đan bện vào nhau, kể cả thứ trò chơi cao cấp là thơ phú. Không nói ra, song câu “tất cả đều là bạn tôi”, ứng đúng với thơ Khoa, nhất là ở thời đầu. Là bạn của nhau nên đều bình đẳng, dù đó là bạn “hai chân” như con gà, con chim, bạn “bốn chân” như con chó, con trâu, bạn “không chân” như cây trầu, cây na, cây chuối, cây đa, con cá, con giun. Con… người cũng chỉ là một thứ con “đa chân” mà thôi, kể cả chân ảo và … chân thật. Thì con Nhân sư (sphinx) trong thần thoại Ai Cập cổ đại chẳng có câu đố hắc búa mà đầy thâm thúy, rằng “Con gì mà sáng đi bằng bốn chân, trưa đi hai chân, chiều đi ba chân, và khi nó càng đi bằng nhiều chân thì nó càng yếu” đấy thôi!

Là bạn, nên “tao – mày”, hay “chúng tao – chúng mày” là cách xưng hô tự nhiên và cũng là hợp lý nhất. Hãy nghe Khoa dỗ dành cây trầu “Tao đã đi ngủ đâu/ Mà trầu mày đã ngủ”, hay nói với con Vàng trong tưởng tượng “Mày không bắt tay tao/ Tay tao buồn làm sao”, hoặc an ủi con gà mái mất con vì bom Mỹ “Mày nhìn tao, con mắt lạc hẳn đi/ Trong mắt vằn những tia máu đỏ/ Cái nhìn cháy như hai hòn lửa/ Có phải tại tao đâu!”. Khoa nâng niu, trìu mến bạn mình, nên không lạ gì khi tán thán từ “ơi” cùng với các dấu hỏi, dấu than xuất hiện hơi nhiều “Trăng ơi, từ đâu đến?”,“Trầu ơi, hãy tỉnh lại/ Mở mắt xanh ra nào!”, “Trâu ơi, ăn cỏ mật/ Hay là ăn cỏ gà”, kể cả “Khoa ơi, thầy giáo của mày đã xa”

Dưới mắt của đứa bé vừa qua tuổi nhi đồng thì tất cả mọi vật, mọi loài chẳng những là bạn bè, mà còn như có anh em, họ hàng với nhau, đều như mang tính người, đều có linh hồn, dù mỗi thứ, mỗi loài một “cá tính”. Vậy nên Buổi sáng sân nhà em mới hội đủ các gương mặt của một gia đình nhà quê: Ông trời nổi lửa, bà sân vấn khăn hồng, ả mèo rửa mặt, mụ mái cục tác, thằng trống huyên thiên, cái na tỉnh giấc, đàn chuối vỗ tay, chị tre chải tóc, nàng mây soi gương, bác nồi đồng bùng boong, bà chổi loạt quẹt.

Trong vườn thì giun, dế, kiến là những giống nhỏ bé nhất, lành hiền nhất và cũng bị người đời coi thường nhất. “Con sâu, cái kiến”, chấp gì. Chửi “đồ chó” mới chỉ là miệt thị, chứ rủa “đồ giun dế” mới thực là coi khinh. Ấy vậy mà  trong thơ Khoa giun dế, chó mèo chúng cũng ở vai “chú” “bác” bình đẳng với ông trời, bà sân, mụ gà, ả mèo…. Bác thì suốt ngày hì hục đào đất (Bác giun đào đất suốt ngày), chú thì ung dung ngồi vuốt râu (Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu) mặc bốn bề tiếng máy bay rú rít, lẫn tiếng bom, tiếng pháo cao xạ.

“Thế đấy giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ” hai câu thơ của người lính công binh Phạm Tiến Duật ở Seng Phan khiến người đọc nước ngoài ngây ngất thán phục về sự dũng cảm, bình thản xem thường bom đạn của người Việt Nam trong chiến tranh đã đành. Song, người ta cũng sửng sốt không kém khi thấy chú dế mèn ung dung ngồi vuốt râu bên bờ tre ao trường trong thơ của một thiếu nhi mười tuổi. Chưa đến Việt Nam, chỉ bằng hình dung chiến tranh khúc xạ qua thơ dịch, người ta đã nhận định rằng, trong cuộc chiến không cân sức này, Mỹ nhất định sẽ thua!

Bác giun, một người lao động cần cù, tận tâm đã qua đời ở ngay gốc cây sau nhà. Thương bác, bé Khoa đã làm ma cho bác. Đây là một đám ma kỳ lạ nhất trong số các “đám hiếu” trong thi ca: các con nhiều chân đưa đám một con không chân. Trong Đám ma bác giun góp mặt cả họ hàng nhà kiến: kiến già, kiến con, kiến đất, kiến cánh, kiến lửa, kiến kim, mỗi con một diện mạo, một cá tính, giữ một “vai” nhất định: Con đi trước, con đi sau, con cầm hương, con khóc than, con khoác áo tang, con đốt đuốc, con chống gậy, con nặng vai. Đám ma có một không hai này kéo dài từ vườn chuối, vườn khoai qua vườn cà rồi kết ở Kiến đen uống rượu la đà/ Bao nhiêu kiến gió bay ra chia phần.

Không thấy nói đến mộ bác. Bác giun không có mộ. Ngầm hiểu thi hài bác được “táng” ở bụng kiến. Thế giới loài vật là vậy. Con này làm thức ăn cho con khác là theo quy luật sinh tồn của tự nhiên, không có vấn đề thiện-ác ở đây. Được hiến thân cho kẻ khác, nếu sự hy sinh đó có ý nghĩa thì có gì mà buồn. Mẹ đất sản sinh ra bao cỏ cây, hoa lá làm gì nếu không để nuôi dưỡng bao con vật, trong đó có con người. “Người ta là hoa của đất” cơ mà! Thế giới loài người cũng hao hao loài kiến: bụng mỗi người chúng ta nếu tính toán ra thì hỏi đã “táng” biết bao nhiêu cây con? Nói như thế, không phải là hạ thấp, phí báng con người mà thấy rằng con người chúng ta cần khiêm tốn, biết điều. Có biết bao cây con khác, đã vì cuộc sống của con người mà chấp nhận hiến sinh.

Xung quanh Đám ma bác giun đã có nhiều cách hiểu theo góc nhìn khác nhau, cách “tán” khác nhau. Theo chiều nhân văn, nhân bản, mà là của đa số, thì bác giun là người lao động chết vì làm việc quá sức, lũ kiến vì tình làng nghĩa xóm cùng xúm lại làm ma, đâu ra đấy rất chu đáo. Theo chiều phản biện, lên án, có người thấy bác giun chính là thân phận người nông dân nghèo, do hoàn cảnh kiếm sống o ép lao lực quá mà chết. Lũ kiến đưa tang cũng chẳng tử tế gì, đang đói khát, thì đây là một dịp may để được… làm thịt bác. Ở một cái đám tang như đám này, ai khóc cứ khóc, ai buồn cứ buồn, sẽ vẫn có một bọn xem đây là “cơ hội” để được ngồi uống rượu la đà, để rình bay ra chia phần. Cảnh này không chỉ đơn thuần phản ánh hủ tục ở làng xã xưa, mà vẫn sẽ diễn ra ở mọi xã hội.

Cũng cách “bình tán” này có người bảo ở bài Ò ó o, khi “ông trời nhô lên rửa mặt” thì bầy sao phải “chạy trốn”, nghĩa bóng ám chỉ khi cái mới, cái tốt xuất hiện thì cái cũ, cái xấu cái phải tự nhiên rút lui. Tất cả thay đổi bắt đầu từ ba tiếng Ò ó o. Mà Ò ó lại từ miệng Khoa, giời mượn, mà ra! Tinh vi hơn, họ còn tán rằng, sau ba tiếng ấy những cây đa, cây đề của làng văn ta đều chết lặng vì thấy mình sắp bị ông trời con là thần đồng Khoa mới nhô lên làm cho lu mờ đi!

Theo người viết, đây cũng là một ví dụ thú vị, mang tính bí ẩn “ý tại ngôn ngoại” của thơ mà ngay cả người làm ma bác là bé Khoa cũng không ngờ tới. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ nào, thì thiết nghĩ, không có những ngày chăn kiến ở góc sân, vầy giun ở góc vườn, và không nhập được vào cái hồn của ca dao, đồng dao, ngụ ngôn, cổ tích vừa hồn nhiên vừa thâm thúy, nhất là không có chất “ma”, chất “quái” pha trộn cùng chất “người”, thì không có đám ma bác giun. Chỉ bằng 12 câu lục bát bé Khoa viết như chơi, mà lại như gói trọn một kiếp giun trong xã hội loài kiến. Mà ngẫm ra đâu chỉ là chuyện giun, chuyện kiến!

Sống ở làng quê nên ngoài cánh bướm, thơ Khoa còn có nhiều “chim” nhiều “hoa“. Song, hoa cau của gió heo may lúc giao mùa xuân hè nơi góc sân nhà là tinh tế nhất, ấn tượng nhất. Chỉ vẻn vẹn một cặp lục bát “Nghe trời trở gió heo may/ Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau” đã khiến người đọc chẳng những như nhìn thấy cánh hoa trắng li ti ánh lên chất dân dã nơi đáy vại nước, mà còn như cảm thấy mùi hương quê kiểng quanh quất đâu đây.

Trong Góc sân và khoảng trời tràn ngập cái tình với cây (cây na, cây dừa, cây xoan, cây bàng…), với con (con bướm vàng, con chim hay hót, con cò trắng muốt, con gà liếp nhiếp, con trâu đen lông mượt…) nhưng cảm động hơn cả là tình người. Trong số bạn hai chân, gần gũi nhất, đáng yêu nhất là bé Giang “Nhăn nhăn cái mũi hở mười cái răng” mỗi khi bé cười. Chơi với em, “chăn” em, xem ra còn ý vị, tự hào hơn chăn kiến vì cái sự được làm anh. Đưa võng cho em ngủ, Khoa có Tiếng võng kêu. Trong cái kẽo cà kẽo kẹt (không phải Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra…trong cổ tích), đồng hiện lên “Cây na thiu thiu thiu/ Mắt na hé mở/ Nhìn trời trong veo”, cùng với cánh cò “lặn lội bờ sông”, cánh bướm “mênh mông mênh mông”, và dáng mẹ “lom khom trên đồng”, dáng chú pháo thủ “canh trời nắng trong”. Rõ ràng, đó là dáng dấp của làng quê đang bận rộn sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Song hình ảnh đẹp nhất, làm nên trung tâm của “kẽo cà kẽo kẹt” là  em bé đang mơ giấc thần tiên của “Tóc bay phơ phất/ Vương vương nụ cười”.

Dậy em đánh vần, Khoa có Kể cho bé nghe: “Hay nói ầm ĩ là con vịt bầu/ Hay hỏi đâu đâu/ là con chó vện…”. Nó như một khúc đồng dao hiện đại vì cùng với vịt bầu, chó vện, nhện con… là dây điện, trâu sắt, máy bơm, những sản vật của nông thôn thời nay. Cùng chơi với em, Khoa có Đánh tam cúc. Sợ mèo buồn vì thua cuộc, Khoa thay em dỗ mèo “À thôi mày được! Bé Giang dỗ dành/ Mèo thè lưỡi đỏ/ Liếm vào răng nanh”. Lo cho em, Khoa có Dặn em đừng chơi xa để còn ra kịp hầm tránh máy bay, đừng ra ao cá kẻo trượt chân ngã nhào, rồi kết ở “Mẹ cha bận việc ngày đêm/ Anh ngồi trong lớp lo em ở nhà”.

Khi mẹ vắng nhà, ngoài “chăn” em, Khoa làm tất cả những công việc của một đứa trẻ con nông thôn sớm biết nghĩ, như luộc khoai, giã gạo, thổi cơm, nhổ cỏ, quét sân ngõ. Bài thơ giản dị, chỉ có kể lể, liệt kê qua điệp ngữ “khi mẹ vắng nhà em…”, chẳng có một chút “tu từ” nào, ấy mà lại vẫn rất thơ, rất cảm động. Cảm động bởi nó thực, nó giản dị, nó có cái hiếu thảo của “Áo mẹ mưa bạc màu/ Đầu mẹ nắng cháy tóc/ Mẹ ngày đêm khó nhọc/ Con chưa ngoan chưa ngoan!”.

Mẹ ốm là bài thơ điển hình cho tình mẫu tử thiêng liêng mà thằng con bé bỏng dành cho mẹ mình. Người con nào cũng yêu kính mẹ, nhưng chẳng phải đứa nào cũng cảm được “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”, cũng thấy được “Cả đời đi gió đi sương/ Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”. Đứa con ấy còn làm tất cả những gì, miễn là mẹ vui như “Ngâm thơ, kể chuyện, rồi thì múa ca”, kể cả “…diễn kịch giữa nhà/ Một mình con đóng cả ba vai chèo”. Hai câu kết “Rồi ra đọc sách, cấy cày/ Mẹ là đất nước tháng ngày của con” mang tính khái quát ở tầm cao mà lại rất tự nhiên. Những bài thơ Khoa viết về bà, về bố, về anh chị, các chú bộ đội…cũng có những câu thơ cảm động, thấm thía.

Như vậy, không đâu xa, Khoa lấy toàn những cảnh, những sự, những việc diễn ra hàng ngày ở xung quanh làm thi liệu, thi ảnh cho thơ mình. Hơn nữa, những cảnh, những sự, những việc ấy còn được Khoa thể hiện bằng những cảm xúc rất hồn nhiên, giản dị, chân thực. Cái “thi pháp” tạm gọi là kể và tả, cảm và gợi, cùng với nhịp thơ năm chữ hoặc bốn chữ, được thể hiện điển hình ở các bài  Kể cho bé nghe, Em kể chuyện này, Kẽo kà kẽo kẹt mà em nhặt được ở sân nhà. Bút pháp này cũng được Khoa cấu tứ ở nhiều bài khác, như Cánh đồng làng điền trì, Thôn xóm vào mùa”, Cầu Cầm, Hà Nội…

Phát hiện cái khác thường trong cái bình thường, thậm chí là tầm thường cùng với lối kể có duyên, sự tả có hồn, nhất là ở sự “chốt” lại và “thăng hoa” ở những câu kết, kèm với nhạc điệu khúc xạ từ ca dao, đồng dao, đã làm nên nét độc đáo, tài hoa của thơ Khoa. Chúng chẳng những chứa đầy chất thơ, du dương chất nhạc, mà còn ăm ắp chất người. Chứ nếu yếu cảm xúc, non tay nghề, thì chẳng những việc kể sẽ nhàm, sự tả sẽ nhạt, mà những khát quát, nâng tầm cũng sẽ khó thuyết phục. Bẩm sinh đã đành, được rèn giũa cũng có. Sau này, Khoa có lần phát biểu “Trong con mắt tôi, cây cối, trâu bò, gà lợn, chó mèo cũng có niềm vui, nỗi buồn như những con người. Tình cảm ấy, tôi tiếp nhận được từ mẹ”.

 

Mục đồng chăn thơ trên đồng làng

Tác giả bài viết nhà thơ Phạm Công Trứ. Ảnh Chu Nhạc

Tôi cứ nghĩ, các cụm từ có chữ “đồng”, như “nhi đồng”, “mục đồng”, “thần đồng”, “cánh đồng” thì ít nhiều giữa chúng như có mối liên thông qua lại nào đó. Điều này ứng với trường hợp Trần Đăng Khoa. Chẳng biết nhà Khoa có nuôi trâu không, nhưng tôi thấy bé Khoa hao hao có cái dáng mục đồng thời nay, chứ không phải “Mục đồng là trẻ chăn trâu/ Ăn sống ăn xít vật nhau cả ngày” của ca dao xưa. Là con nhà lành, có học, có đọc sách nên “mục tử” họ Trần nhẹ cái phần nghịch ngợm, lăn lóc, mà nặng về nghĩ ngợi, lam làm. Dù rằng cái làm, cái chơi, cái nghịch ở tuổi lên mười vẫn còn như một quán tính.

Trong khi ra sông cùng lũ trẻ đánh dậm, Khoa thấy“Này chị Cua càng giơ tay chào biển lúa/ Này thằng Dói nhớ ai?/ Mà khóc mắt đỏ ngầu như lửa/ Này lão Trê nhảy võ ở đâu? Mà ngã bẹp đầu!”. Đi “chọc ếch” nghe tiếng ộp ộp Râm ran suốt cả trời chiều, Khoa cũng tiện mồm… hát theo một bài như một chú ếch cốm. Trong khi kéo xe chở phân ra ruộng, Khoa vẫn không quên reo lên “Ái chà, con cà cuống/ Bỏ ngay vào ống bơ!”.  Qua Trận địa bỏ không, Khoa thấy mình như con “Dế co càng đạp cỏ xanh/ Cất cao giọng gáy một mình ri ri”. Qua cầu Cầm, cây cầu có biết bao chuyện kể cả chuyện “một máy bay Mỹ rụng”, Khoa thấy “Uống nước hố bom sâu/ Nghé con vênh mặt cười”. Hố bom sâu hút, nham nhở như muốn kéo tụt con người ta xuống, nhưng tiếng cười cùng cái vênh mặt của “chú nghé tên Khoa”, nó cao hơn bom đạn, nó hóa giải cái chết. Nó là của quý trong đời, của hiếm trong thơ.

Như đã nói, góc sân, mảnh vườn, bờ ao, đã cho Khoa những vần thơ hồn nhiên, trong trẻo mang dáng dấp thần đồng, song dù sao đó cũng là một không gian nhỏ hẹp, một khoảng trời giới hạn. Phải ra Cánh đồng vui reo/ Gió đồng rộng rãi thì Khoa mới có cái chững chạc, khoáng đạt của một thiếu niên bắt đầu từng trải gió nắng.

Cũng là lao động kiếm sống, song nay không phải là“Bác giun đào đất suốt ngày” mà là bác trâu và các bác thợ cày “Tiếng trâu và tiếng người/ Vang ruộng dài lõm bõm”. Giọng thơ của Khoa cũng biến đổi, từ trong trẻo hồn nhiên sang nặng dần suy tư. Trong khi thấy“Con cò/ Trắng muốt/ Bay ra đón cơn mưa”, Khoa còn thấy“không ai biết/ Con cò/ Co ro/ Chịu rét trên cành cây”. Vẫn là gió, song không còn là“Cô gió chăn mây trên đồng” mà là bão “Bão đến ầm ầm/ Như đoàn tàu hỏa/ Bão đi thong thả/ Như con bò gầy…Mặt bão thế nào/ Suy ra cũng biết”. Mặt trời bây giờ không hồn nhiên chơi trò “đạp xe qua đỉnh núi” mà là ông trời của “mưa bạc màu”, “nắng cháy tóc”. Vẫn ao, song không còn cái tha thướt của “Chị tre chải tóc bên ao/ Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương” mà là “Bờ ao lở. Gốc cây bàng cũng nghiêng/ Quả bòng chết chẳng chịu chìm/ Ao con mà sóng nổi lên bạc đầu; “Rêu nằm mơ những sấm sét/ Rồi khô trên cọc cầu ao”.

Thơ Khoa còn có “con mắt trời” và “con mắt đất” bí hiểm. Con mắt trời rừng rực “Đêm đêm con mắt ấy/ Cháy bùng trên mặt ao”, con mắt đất hun hút“Đêm đêm con mắt ấy/ Nói điều chi với trời?”. Đấy là những ngôi sao, những chiếc giếng đã được Khoa nhân hóa, thế sự hóa. Nên biết rằng, nông thôn nước ta ở những năm tháng ấy, bên cạnh cái tốt đẹp, hào hùng, cũng đang tích tụ dần những mặt trái của hợp tác hóa kiểu cũ, để rồi vỡ ra Cái đêm hôm ấy đêm gì, như tên một bút ký gây chấn động văn đàn của nhà văn xứ Thanh, Phùng Gia Lộc ở thời cuối bao cấp, đầu Đổi Mới.

Ra đồng, như bao thành viên của làng, Khoa được tắm trong hương đồng gió nội, hòa nhập vào hơi thở của đất đai, mùa màng. Đó là cái hương sực nức hăng nồng của “Mùi bùn đang ngấu/ Mùi phân đang hoai”. Đi trong niềm vui gieo trồng, Khoa như thấy “Thịt da ta cũng/ Tỏa hương ruộng đồng” (Hương đồng). Trong bầu sương khói mờ mịt của đồng chiều vừa cày xong, thêm một lần Khoa cảm nhận “Đất trời cách một gang mây/ Và tôi cùng với luống cày tỏa hương” (Đồng chiều).

Tôi tin rằng, hình tượng bố em đi cày về đội cả trời mưa, sấm chớp, vụt hiện ở sân nhà, song nó đã manh nha từ khi Khoa ra đồng. Hình tượng mẹ em đi cấy giữa trưa tháng sáu Khoa cũng nhặt được ở ngoài đồng. Tôi đã nói về cái kỳ vĩ của bố em đi cày về, trong ba chữ “đội”, ở bài mưa, song phải nói thêm rằng, mấy câu viết về mẹ trong Hạt gạo làng ta cũng kỳ vĩ không kém, mà lại như có phần gần gũi, dân dã hơn. Bởi vì cái “đội” của bố em còn có phần khoa trương, thần thoại hóa, chứ cá cờ, và nhất là hình tượng “cua ngoi”, “mẹ xuống”, thì đích thị là của đồng quê Việt. Bài thơ mẹ ốm viết bên giường mẹ, song cái hồn vía của “nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”, Khoa cũng nhặt được trên cánh đồng làng.

Ra đồng, bạn gần gũi bây giờ là con trâu thay cho con Vàng thân thiết trong sân. Con trâu đen ở đầu tập thơ là con trâu của tập làm văn“Con trâu đen lông mượt/ Cái sừng nó vênh vênh/ Nó cao lớn lênh khênh/ Chân đi như đạp đất”. Con trâu“Ngửi mùi rơm mới/ Cái chân dậm liên hồi” cũng là một phát hiện tinh song vẫn là trâu ở sân kho hợp tác. Chỉ có “Tiếng trâu và tiếng người/ Vang ruộng dài lõm bõm” mới là con trâu thực sự đang lao động trên cánh đồng làng Điền Trì.

Con trâu, người bạn của nhà nông, cũng có lúc được Khoa thi vị hóa. Ấy là cảnh nhòe mờ trong sương sớm của“Trâu quên đôi sừng lấm đất/ Tưởng mình lững thững lên trăng”. Hay cảnh trâu thơ thới trong lúc nông nhàn“Làng quê lúa gặt xong rồi/ Mây hong trên gốc rạ phơi trắng đồng/ Chiều lên lặng ngắt bầu không/ Trâu ai no cỏ thả rông bên trời”. Thời Thơ Mới, Đoàn Văn Cừ đã bất tử trâu bằng cái nhìn lãng mạn “Con trâu đen chúi mũi đứng bên đồng/ Cứ liếm mãi nắng vàng trên cỏ biếc”, thì thời nay Trần Đăng Khoa, như một nghệ nhân nhí của làng, cũng đóng đinh hình ảnh con trâu vào bức tranh quê “Em nhỏ cưỡi trâu về ngõ/ Tự mình làm nên bức tranh” (Khi mùa thu sang).

Mảnh sân cũng như cánh đồng – những “sân chơi” của các nhân vật trong thơ Khoa, như đều có “dương bản” và “âm bản”. Mảnh sân ban ngày là của ông mặt trời, của chó đâu đâu, gà cục cục, thì vào đêm là của hàng cau, cây chuối, con chim, con sâu đắm chìm trong ánh trăng. Cánh đồng lúc đang mùa, vào vụ, là cày bừa, gieo cấy, tiếng trâu, tiếng người, tiếng liềm hái, thì lúc vãn mùa là của mây hong trên gốc rạ, bạch đàn nỉ non soi bóng trên đầm, luống cày đang sủi tăm, đống hoang nằm thiêm thiếp.

Nếu Trăng sáng sân nhà diễn tả tâm trạng một mình với trăng, rợn ngợp cùng trăng, tan chảy vào trăng, thì ở đồng quê Khoa cũng diễn tả cái tâm trạng một mình với cánh đồng, thả hồn vào cánh đồng, đắm mình vào cánh đồng chiều. Chỉ khi“Có con châu chấu phương nào/ Bâng khuâng nhớ lúa đậu vai em” thì thi nhân mới giật mình, bừng tỉnh khỏi tâm trạng phiêu diêu, kỳ thú. Dù cùng là cái nhìn hướng nội, chưng cất tâm hồn mình, song rõ ràng sân trăng nó siêu hơn đồng chiều vì lúc ấy bé Khoa ở tuổi lên 8, còn bây giờ đã là anh Khoa của 16 tuổi (= 2 X 8).

Có thể nói rằng, nếu xâu chuỗi “bộ ba” hình tượng“Bố em đi cày về…”“Mẹ em xuống cấy” cùng con trâu đang “lõm bõm” trên đồng, thì vô tình bé Khoa đã diễn giải hóa, “Khoa hóa”, cái hồn cốt của câu ca dao xưa“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa”. Khác chăng, là trên đồng làng bây giờ có tiếng máy cày lẫn với tiếng máy bay, tiếng bom đạn thời chiến. Tương tự, trong bài Hạt gạo làng ta, bé Khoa chẳng những diễn tả được cái nghĩa tình sâu nặng của câu ca dao“Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”, mà còn có tính thời sự nóng hổi của“Những năm băng đạn/ Vàng như lúa đồng/ Bát cơm mùa gặt/ Thơm hào giao thông”.

Là người Việt, ai cũng đã từng trồng lúa, hoặc gần gũi những người trồng lúa, đã múc canh bằng muôi và cơm bằng đũa, nhưng hỏi đã mấy ai thấu hiểu và nhất là diễn ngôn được bằng thơ một cách giản dị mà sâu sắc những tinh chất Việt trong hạt gạo như chú bé Khoa ở tuổi chín mười? Cũng không nghi ngờ gì nữa, “bộ bốn” các bài Cánh đồng làng Điền Trì, Làng xóm vào mùa, Hương đồng, đặc biệt là Hạt gạo làng ta, đã đưa Khoa thành một trong những cây viết sống động nhất, sâu sắc nhất, cảm động nhất (tóm lại là hay nhất), về cánh đồng và hạt gạo một thời.

Hẳn có người sẽ cho rằng, thơ bé Khoa thời đó toàn đề cao cái hay cái tốt, ít thấy những góc tối, mặt khuất vốn có của làng quê. Song, nếu ai sống vào thời “cả nước lên đường”, “xẻ dọc Trường Sơn” thì họ sẽ không lạ. Trước vận mệnh còn mất của dân tộc, vì nghĩa lớn, nên từ tiền tuyết đến hậu phương, con người ta đã tự “lớn” dậy, “tốt” lên không ngờ. Nó hào hùng đến độ mà Tố Hữu phải ngạc nhiên:Đời rạng rỡ, mỗi con người tự sáng”; Chế Lan Viên phải ngây ngất: “Ôi! Ta là ta mà lại cứ mê ta”; Chính Hữu thì hồ hởi:“Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội/ Của những người đi, vô tận, hôm nay”; Phạm Tiến Duật thì náo nức“Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Còn có thể dẫn ra nhiều nhiều những câu thơ mang vẻ đẹp lãng mạn cách mạng như thế. Là chứng nhân của một thời, lài là người trong cuộc, Trần Đăng Khoa cũng đã từng phát biểu đại ý là “mang dấu ấn của một thời, những câu thơ ấy đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó”.

Nhìn chung, cánh đồng và người nông dân trong thơ Khoa có “ngọt bùi đắng cay”, song không quá lam lũ, cơ cực. Đó là cánh đồng hợp tác xã thời chống chiến tranh phá hoại, nằm trong quỹ đạo của đồng bằng Bắc Bộ được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Thái Bình, sông Kinh Thầy. Nó là tiền thân của cánh đồng thời “Khoán Mười” sau này, và cánh đồng “Mẫu Lớn” sau này.

Hiện nay, hình bóng con trâu, người thợ cày, thợ cấy gần như nhạt bóng trên đồng và vắng bóng trong thơ. Nên vui hay nên buồn? Vui vì “Núi rừng có điện thay sao/ Nông thôn có máy làm trâu thay người”. Phải sau 60 năm câu thơ của nhà thơ lãng mạn cách mạng Tố Hữu mới đang dần thành hiện thực. Hạt gạo, hạt vàng, hạt ngọc của làng ta, bản ta, phum sóc ta, đã và đang có mặt trên các kệ hàng khắp từ Á sang Âu, từ Phi sang Mỹ. Tâm thế của người nông dân Việt nay đã khác nhiều với thời “cua ngoi lên bờ, mẹ em xuống cấy” của Trần Đăng Khoa, càng khác xa với thời của “chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” trong cái tâm trạng thấp thỏm của “trông trời, trông đất, trông mây” trong ca dao xưa.

Khác vậy, song ngẫm ra lòng như lại thấy nao nao buồn vì những hình ảnh làng quê Việt ngàn đời, cái làm nên sức sống Việt, lưu giữ tâm hồn Việt, cứ ngày một mất dần. Thậm chí, hiện nay có nơi người ta đã quên gieo trồng, cấy gặt, ruộng đồng bỏ không lâu ngày cỏ dại mọc đầy. Con quái vật đô thị hóa với lòng tham không cùng đang hút vào cái dạ dày không đáy của nó mọi hay dở, vui buồn của kiếp người nông dân xứ ta thời nay. Muốn hay không, đô thị hóa, công nghiệp hóa, số hóa vẫn diễn ra theo quy luật của nó. Dù vậy, thơ Trần Đăng Khoa cùng với thơ của các nhà thơ thuộc “trường thơ Quê” vẫn có ý nghĩa như một bảo tàng lưu giữ ký ức đồng quê. Mỗi khi mệt mỏi, chóng mặt giữa vòng xoay cuộc đời, vòng xoáy đô thị, người ta lại tìm đọc lại họ, như một kiểu về nguồn để thanh lọc tâm thân, với tinh thần ý thơ “mượn” của cụ Tố Hữu “gần đất lòng ta trong sáng hơn”.

9(Còn tiếp).

PHẠM CÔNG TRỨ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *