Thâm nhập Sài Gòn – Ký của Monika Warnenska

Vanvn- Tôi nhấm nháp tách trà xanh thơm tho… Bỗng tôi phát hiện có một tấm bưu ảnh dán vào tủ kính bị mấy cuốn sách bày bên ngoài che khuất, trên đó có cảnh nom quen quen… Monsieur Nhân, đây là đâu vậy? Sài Gòn làm gì có hồ nào đẹp như thế này!

Nhà văn Monika Warnenska của Ba Lan

Vào một ngày tháng mười năm 1969, tôi có mặt tại Sài Gòn. Chính quyền và cảnh sát ở đây chắc chẳng biết được, trong số ít ỏi những người Ba Lan đang có mặt ở thành phố này, có một người mà cách đây mấy năm từng hiện diện và đi lại trong vùng giải phóng nằm kề bên Sài Gòn, trong thời gian leo thang chiến tranh từng đi ngang dọc khắp nơi tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các khu du kích trên đất Lào. Chúng không thể phát hiện ra tôi trong hộ chiếu hoặc các chi tiết nhân thân. Thế còn qua khuôn mặt? “Sự méo mó nghề nghiệp”, sự tò mò lộ liễu có thể khiến tôi bị phát hiện. Tò mò con người ở đây, cuộc sống ở đây, những khia cạnh và thực tế của cuộc sống này. Kiểm tra giấy tờ thì chẳng thể phát hiện được nghề nghiệp đích thực của tôi và những điều tôi quan tâm. Tuy vậy, những tên mật thám chuyên theo dõi người qua lại có thể suy ra điều gì đó, cho dù không biết tôi là ai, nếu chúng nhìn thấy, tay tôi sẽ tự động thò vào những loại sách báo nào, nếu chúng phát hiện được các đề tài của những tấm hình tôi chụp. Nếu như…

Vậy thì, nếu chúng nghi ngờ, chúng kiểm tra và chúng phát hiện ra thì sao? Hậu quả đầu tiên thì đã rõ, ngay lập tức trục xuất vị khách không mong đợi này khỏi lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Vả lại, tội cũng biết, chúng đã từng nhẫn tâm trục xuất khỏi nơi đây ngay tức thì nhiều phóng viên phương Tây thường trú hoàn toàn hợp pháp, nhưng tin, bài của họ không hợp gu chế độ Sài Gòn. Và tôi chẳng biết chúng đã từng thủ tiêu những phóng viên, nhà báo chúng không ưa như thế nào…

Bởi vậy cho nên tôi đi dạo phố chủ yếu vào ban ngày. Tôi cố gắng về “nhà”, tức khách sạn Catinat, trên đường Tự Do, trước khi trời xẩm tối. Tôi phải cẩm thận, sao cho không một mảnh giấy nào, không một tài liệu nào, không một tư trang nào làm lộ nghề nghiệp và họ tên thật của tôi. Tối đến tôi vùi đầu viết cuốn truyện phiêu lưu cho thanh niên có tiêu đề “Những con đường rừng”. Những cảm xúc trước kia từ mặt trận trong rừng cây đang sống lại, hòa vào những cảm xúc mới từ mặt trận trong rừng người. Sáng sớm hôm sau tôi gặp một chuyện nan giải: Biết giấu vào đâu chiếc máy chữ nom ngồn ngộn thế kia? Và biết chống chế sao đây với người bồi khách sạn khi người này bập bẹ tiếng Pháp: – Ô, madame chịu khó lắm! Đêm qua sao madame đánh máy chữ muộn thế?

Ở từng khách sạn, văn phòng, xưởng máy, công sở, Mặt trận Giải phóng đều có người của mình. Giá mà tôi biết được, tại khách sạn tôi đang ở, ai là „tai, mắt” của Mặt trận! Lúc đó chắc tôi hết nơm nớp lo sợ, khi vừa mới đặt chân lên Sài Gòn được mấy ngày. Tuy nhiên, làm sao mà biết được. Nỗi lo sợ cũng dần dà qua đi. Cần phải đắm mình trong Sài Gòn để hòa nhập, để quen dần với nó. Ai không dám mạo hiểm, kẻ đó chẳng được gì. Tôi đành phải chấp nhận cái thành phố này như nó vốn có. Tôi ý thức rằng, có thể có ối chuyện thú vị, lạ lẫm, giật gân, độc nhất vô nhị, bất ngờ và bất thường, kể cả những chuyện tệ hại nhất, sẽ đến với tôi… Tại Việt Nam, từ lâu tôi đã quen với việc lúc nào mình cũng có những người thân tình, gần gũi, đồng hành. Họ ở bên tôi trong những ngày cực kỳ gian khổ khi chiến trnh leo thang, trong rừng rậm miền Nam, trong hang động ở Điện Biên Phủ và trong hầm trú ẩn ở vĩ tuyến 17. Giờ đây tôi chẳng có họ. Tôi đơn độc một mình. Quanh tôi là phố xá Sài Gòn ồn ào, náo động… Những đường phố ngày mai sẽ là đồng minh của tôi. Tạm thời, thay vì có người phiên dịch, tôi phải sử dụng tai, mắt của mình…

Mỗi tuần vài lần, tôi đi dọc theo một đoạn dài của đại lộ Lê Lợi, nằm giữa ngã tư đại lộ này với đường Pasteur và đường Công Lý. Tại đây có nhiều quán bán sách cũ hoạt động. Tôi được một cậu sinh viên Việt Nam biết nói tiếng Pháp mách cho hay, tại sao các quầy bán sách cũ lại có nhiều loại sách hơn các hiệu sách lớn. Bởi vì bộ máy kiểm duyệt của chính quyền không đụng tới đó, còn các hiệu sách thì ngược lại. Có nhiều cuốn sách được đưa thẳng từ các thư viện của người Mỹ ra chợ trời. Trong số đó có những cuốn cấm bán ở các hiệu sách. Dân bán sách cũ ở Sài Gòn họ lịch sự và chiều khách hàng lắm. Tạm thời tôi chỉ mua vài cuốn. Thế mà tôi đã được họ xem là khách hàng thường xuyên, chí ít là một khách hàng tiềm năng. Bao lần họ vồn vã chào mới tôi:

– Quý bà ưng cuốn sách này phải không ạ? Quý bà cứ cầm về nhà, lúc rảnh rỗi quý bà đọc thử coi, hễ thích thì qúy bà mua, không ưng thì dăm ba bữa nửa tháng quý bà đem trả, có sao đâu.

Người bán hàng không cần lấy một xu tiền cược. Họ tin vào lời nói.

Lại quen thêm một quán sách cũ nữa. Chủ nhân là một chàng trai trẻ măng, tinh khôn. Từ xa cậu chàng đã để ý thấy tôi quăng mấy cuốn sách đề tài chiến tranh xuống quầy, ra bộ không muốn. Đó là những cuốn sách của các nhà xuất bản Mỹ in tại Nhật Bản, giấy trắng toát, với những tấm ảnh màu cực nét, viết về các đơn vị thuộc lực lượng can thiệp Mỹ tại Việt Nam và các vấn đề chiến tranh. Những cuốn sách này viết nhiều về cuộc chiến tranh qua con mắt của đối phương. Đối với tôi, đây là những khám phá vô giá. Có điều tôi đã phạm một sai lầm. Tôi đã không dứt đúng lúc ánh mắt tò mò đầy thèm thuồng của mình. Người bán hàng kịp nhận ra điều đó. Thế là anh ta không chịu bớt một xu nào. Một gã không quen biết lúc này đang lục tìm cái gì đó trong cuốn tiểu thuyết Mỹ, thình lình cất giọng hỏi:

– Bà mua mấy thứ này mà làm gì hả bà? Chẳng phí tiền hay sao?

– Tôi quan tâm những vấn đề về chiến tranh, còn những tấm ảnh chụp ngoài trận mạc này rất lý thú.

– Chắc bà là nhà báo?

Thường thì, những người tình cờ bắt chuyện ngoài phố Sài Gòn họ không đoán quốc tịch của người Âu mà họ gặp. Tuy nhiên, họ nhận ra nghề nghiệp thì hầu như không sai. Cho nên, tốt hơn cả tôi cần phải ngụy trang.

– Đúng vậy, nhưng…

– Vậy thì, tất thảy những cuốn sách này bà có thể lấy không ở JUSPAO(1) , tại các cuộc họp báo ở đó, mà thậm chí không nhất thiết phải có họp báo. Cứ đến đó là có.

Quả tình tôi chưa tới đó! Tôi tìm cách lái sang chuyện khác.

– Ông biết không, tôi không thường trú ở đây. Tôi ở Viên Chăn cơ, – tôi nói dối như cuội, – thảng hoặc tôi mới sang Sài Gòn, nhưng sang ngắn thôi.

– Thế thì đã sao nào? Bà có thể tới đự các cuộc họp báo khi nào bà muốn, cần gì phải thường trú. Bản thân tôi cũng là nhà báo nên tôi am tỏ chuyện này. Xin mời bà ghé qua tòa báo của chúng tôi. Đây, tôi xin gửi bà tấm danh thiếp và địa chỉ tuần báo của chúng tôi. Hẳn bà là phụ nữ Pháp, từ Paris đến? Tôi sẽ rất hân hạnh được trò chuyện với bà. Bà hãy đến JUSPAO đi. Nên đến. Tội gì mà ném tiền ở chỗ này, phải không, thưa bà?

Tôi cất tấm danh thiếp, đoạn lao vào cuộc mặc cả với người bán hàng rắn như đá. Tôi đâu dám bén mảng đến JUSPAO. Còn lúc này ít ra là tôi không từ bỏ định mua cuốn sách về “sứ mạng hòa bình của các lực lượng vũ trang Mỹ ở Việt Nam”. Gã nhà báo nhanh nhẩu nọ đã kịp biến mất, thình lình lúc này lại lao ra từ đám đông như một con yêu tinh chui ra từ trong hộp.

– Madame, tôi chỉ xin bà gọi điện trước, bởi không phải lúc nào tôi cũng ngồi ở văn phòng. Tốt nhất là gặp tôi sau mười giờ. Hẹn hân hạnh được gặp bà…

Ôi, lạy Chúa! Tôi đẫm mồ hôi, không chỉ tại trời nóng bức. Chẳng câu nệ gì nữa, tôi mua cuốn sách, đoạn rút lui. Monsieur Nhân, người bán sách cũ sành nghề, là chủ một quán sách nhỏ, trong đó chủ yếu bày các sách về Đông Dương. Ông ta biết đánh giá, số sách trong quầy cuả ông quý đến mức nào. Ông ta biết trước, thế nào rồi khách hàng muốn mua sách cũng sẽ quay lại quán của ông, kể cả những người lúc đầu phát khiếp vì ông hét giá cao.

Monsieur Nhân sẵn lòng cho tôi mượn sách về xem, có điều về giá cả thì ông ta rắn như đá. Tuy vậy, sau vài lần mua dăm cuốn ở quán này chúng tôi đã thân quen nhau thực sự.

Bonsoir, madame. Bữa nay trời nóng thấy mồ, phải không thưa bà? Bên châu Âu nhà bà bây giờ còn đang lạnh. Xin phép được mời bà một tách trà có được không ạ? Tôi có cuốn sách rất hay, nói về đạo Cao Đài.

– Nhưng mà giá bao nhiêu? Lạy Chúa lòng lành, Monsieur Nhân, sao ông hét giá đắt dữ vậy?

– Đắt hả? Giá này có gì là đắt, madame. Chỉ độ một ngàn thôi mà. Bà biết đó, giá cả tăng hàng ngày. Nhưng, nhưng… còn đây là cuốn album về thành phố quê hương của bà. Dĩ nhiên tôi đâu dám mời bà mua, mọi thứ trong này thì bà còn lạ gì nữa. Tuy vậy, bởi bà xa quê hương cũng đã khá lâu, nên bà sẽ thấy vui bụng khi bà được chiêm ngưỡng quê hương mình trên những tấm ảnh tuyệt đẹp này, chẳng phải vậy hay sao, thưa bà?

Thành phố quê hương của tôi là Myszkow ở Ba Lan, hoàn toàn khác thành Rome tôi đang tận mục sở thị trong album. Hôm lần đầu tiên tôi tôi xuất hiện ở nơi đây, monsieur Nhân nghe giọng phát âm tiếng Pháp của tôi, đoán tôi là ai, đoạn ông ta hỏi: “Bà là người Italia chắc? – Không, tôi phủ nhận, tôi giảng giải là tôi sinh ra ở Rome, nhưng từ nhiều năm nay tôi sinh sống sở Paris. Người đối thoại với tôi chưa bao giờ đến châu Âu. Tôi kể lia lịa cho ông ta nghe về Paris và Rome, về Nixei và Florenxia, cụ thể và chính xác đến nỗi cứ y như hôm qua tôi vừa ở đó. Chỉ ngại là, trong lúc huyên thuyên với ông Nhân, chẳng may mà gặp một khách hàng người Italia nào đó thì gay! Lúc đó tôi sẽ bị lộ tẩy, vì nói quá kém cái thứ tiếng mà dân Italia đích thực nói…

Dịch giả Lê Bá Thự

Tôi nhấm nháp tách trà xanh thơm tho… Bỗng tôi phát hiện có một tấm bưu ảnh dán vào tủ kính bị mấy cuốn sách bày bên ngoài che khuất, trên đó có cảnh nom quen quen… Monsieur Nhân, đây là đâu vậy? Sài Gòn làm gì có hồ nào đẹp như thế này!

Người bán sách cũ thở dài não nuột.

– Đây là Hà Nội, madame. Thành phố quê hương của tôi.

Trên chiếc bưu ảnh đã bạc màu, nhăn nhúm, tôi nhận ra ngay bờ Hồ và ngôi đền trên đảo giữa hồ.

– Ông quê ngoài Bắc?

– Vâng, tôi sinh ở Hà Nội. Bố tôi từng là nhà buôn nhỏ. Tôi từng theo học trường Liceum, những tưởng là sẽ học lên cao. Ai ngờ chiến tranh bùng nổ. Tôi tham gia chống Pháp, tức chống thực dân. Thế đấy, madame – giọng ông ta nhỏ dần – hồi đó tôi tham gia Việt Minh. Bà có biết, như thế có nghĩa là gì không? Sau đó tôi bỏ rừng, quay về thủ đô. Năm 1954 tôi di cư vào Nam. Hồi đó người ta đồn đại đủ thứ, chuyện gì sẽ đến với dân công giáo. Mà tôi thì là con chiên. Bà chưa đến Hà Nội hay sao?

Tôi nghiêm sắc mặt, phủ nhận. Trong ánh mắt của mình tôi không để lộ một cảm xúc nào gắn bó với Hồ Gươm, Hồ Tây, Đền Hai Bà, Văn Miếu…

Trên tấm hình khác tôi thấy Phủ Chủ tịch, ngày xưa là Phủ toàn quyền Pháp. Tôi từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp thân mật tại đây.

– Bà có biết, ai đã từng là thày dạy tôi môn sử, hồi tôi học Liceum? Thầy Võ Nguyên Giáp, hiện là tướng quân, là Tổng trưởng ở ngoài Bắc. Bà có nghe nói như vậy không?

Đúng vậy. Bây giờ là tướng quân, là Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ngày trước từng là giáo sư dạy sử ở trường Trung học Hà Nội. Tôi lắc đầu ngạc nhiên, ra bộ lần đầu trong đời được nghe chuyện này. Lúc này tôi bỗng nhớ cái bắt tay thân tình của tướng Giáp cách đây nửa năm và cuộc trò chuyện với ông về chiến tranh nhân dân bữa đó…

– Vậy ông còn bà con họ hàng ngoài Bắc không?

– Có chứ, anh ruột, – giọng ông ta nhỏ hẳn. Anh tôi có chính kiến hoàn toàn khác, bà hiểu… Còn tôi? Tôi đã từng chống các kẻ thù, xin bà thứ lỗi, madame, chống Pháp, hồi đó là kẻ thù của chúng tôi. Tôi yêu Tổ quốc tôi, đất nước bất hạnh của tôi, nơi không ngớt chiến tranh, vẫn còn bị chia cắt. Thư từ thế nào? – Ồ không, làm sao mà có được. Chẳng biết anh tôi sống chết ra sao. Tôi những mong, mọi chuyện phải khác cơ…

Ngừng chốc lát.

– Bà có định ra Hà Nội?

– Tôi cúng muốn vậy. Ông biết không, tôi rất quan tâm đến đất nước của các ông. Giá mà không có cuộc chiến tranh này… Có thể tôi sẽ xin được thị thực. Tôi sẽ cố gắng để được tới đó, nhưng chưa phải lúc này…

Lại một khách hàng vào quán. Tôi phủi bụi mấy cuốn sách, đoạn xếp vào túi. Giờ đây tôi đang có trong tay cuốn sách của Bộ Ngoại giao Sài Gòn, sách cấm bán ra ngoài, và một số tài liệu in tại đại sứ quán Mỹ “chỉ để sử dụng cho công vụ”…

Chủ nhật tiếp đó quán sách của ông Nhân đóng cửa. Chủ nhân là người theo đạo nên hôm nay chắc đi lễ. Tuy nhiên, phía sau góc đường, thấy mấy khuôn mặt mới. Có hai người đàn ông đứng bên đống sách bày trên tấm vải bạt trải rộng. Một người đứng dưới cái bóng nhỏ nhoi của chiếc ô đen. Người kia trẻ tuổi, có gương mặt trí thức, đeo chiếc kính râm, nhoẻn miệng cười vẻ chào mời:

– Bà cần cuốn nào, madame? Anh ta hỏi bằng tiếng Pháp, nói lưu loát. Tôi có thể khuyên bà được gì chăng?

Tôi cố không để lộ là mình đang để mắt tới các ấn phẩm về chiến tranh và chính trị.

– Tôi tìm thấy cuốn sách viết về lịch sử và folclor Việt Nam…

– Bà mà thích cuốn nào thì xin bà cứ đem về nhà đọc qua. Tiện cho bà mà cũng tốt cho tôi.

Ở đây nóng quá trời, đọc sao nổi.

– Quả thực, nóng quá chừng. Tôi sẵn lòng tận dụng lời đề nghị này.

– Xin đa tạ. Sau hai ngày tôi sẽ trả lại ông, hoặc mua đứt. Được không?

– Dạ không được, thưa bà. Sau một tuần, kể từ hôm nay, tức thị chủ nhật tới.

– Sao lại như vậy? – Tôi ngạc nhiên, hỏi. Chỉ vài hôm là tôi đọc xong thôi mà!

– Tôi đâu có ngại gì, thưa bà. Chỉ có điều tôi và ông bạn tôi đây, chúng tôi chỉ đi bán sách cũ vào chủ nhật thôi, chủ nhật chúng tôi mới có thời gian. Những ngày khác trong tuần chúng tôi phải đi làm. Chúng tôi là những viên chức của Bộ Nội vụ (tôi có phần hơi chột dạ khi nghe họ nói vậy, nhưng tôi không để cho họ nhận ra điều này). Lương của chúng tôi thấp lắm. Hẳn bà biết, giá cả bây giờ tăng hoài. Chúng tôi phải đem bán một số sách của tủ sách gia đình để có tiền nuôi cả nhà. Phải sống mà.

Viên chức Bộ Nội vụ của chế độ Sài Gòn, đi làm người bán sách cũ “chủ nhật”?! Tôi chẳng thể hiểu nổi. Nhỡ đây là cái bẫy thì sao?

Tôi nghĩ dại trong đầu, bọn “cớm” chắc lảng vảng khắp phố phường Sài Gòn để theo dõi những người Âu. Tuy nhiên, cũng khó mà giả định là các nhân viên của cơ quan an ninh ở đây lại đi giăng “bẫy sách cũ” ở góc đường Công Lý để tóm tôi…

MONIKA WARNENSKA

LÊ BÁ THỰ (dịch)

___________________

(1) JUSPAO – tên hãng thông tấn, thực chất là Bộ tham mưu “chiến tranh đặc biệt ở Việt Nam”.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *