Tản văn tác giả trẻ Trịnh Thị Nga ở Hà Tĩnh

Vanvn- Trịnh Thị Nga còn có bút danh Nga Trịnh, sinh năm 1985, tốt nghiệp Đại học Vinh, hiện là giáo viên Trường THCS Nguyễn Tuấn Thiện, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Từng ước mơ theo nghề làm báo nhưng Trịnh Thị Nga không dứt khỏi nghiệp gõ đầu trẻ, để rồi sau bao năm chị quay trở lại với trang viết mà khởi đầu là những tản văn cá tính. Trải nghiệm sống của một cô giáo đa cảm đã mang lại cho Trịnh Thị Nga góc nhìn tinh tế, nhân văn, tạo nên những trang viết xúc cảm, đằm sâu ký ức, giàu sức liên tưởng.

Tác giả trẻ Trịnh Thị Nga

HUYỀN THOẠI MẸ VÀ RỪNG THÔNG

            Tháng bảy tri ân

 

Ai từ nơi xa đến miền Trung vào mùa nắng cháy giữa cơn gió Lào bỏng rát, thường không khỏi than phiền về cái khắc nghiệt của thời tiết nơi đây. Gió từ  những nơi xa xôi thổi qua xứ sở Triệu Voi, vượt qua dãy Trường Sơn hùng vĩ, hút bao nhiêu cái nắng, cái nóng để phả ra hết vào “đòn gánh hai đầu đất nước”. Nhưng những ai sinh ra bên núi Nầm sông Phố, khi xa quê rồi mà chẳng réo rắt trong tâm trí hàng thông reo bốn mùa bên dãy núi Nầm trầm mặc. Rừng thông xanh kiên cường qua bao nhiêu nắng mưa lửa đạn của quân thù. Rừng thông xanh kiên cường qua những ngày nắng nóng thiêu đốt. Rừng cháy, cháy liền mấy ngày đêm, thân cây trơ trụi khóc đỏ tựa máu… Vậy mà kì lạ thay, loài cây ấy lại vẫn vạch đất khô mà hồi sinh, mà đứng dậy.

Chiều nay bên đồi thông reo nghi ngút, gió Lào thổi nhẹ hơn vì như đã mệt sau mấy ngày liên tục quạt lửa, ánh mắt Mẹ miên man thương nhớ trong làn khói hương phảng phất ở nghĩa trang liệt sĩ Nầm. Nấm mộ khắc tên con mẹ. Nấm mộ này cũng khắc tên con mẹ. Nấm mộ không có tên. Nấm mộ người đồng đội của con. Nấm mộ ai bên cỏ xanh rì, nấm mộ tha hương… Ôi những nấm mộ chiều nay…

Chiều bảng lảng, chiều dần trôi. Dòng sông Phố chảy từ đại ngàn, đến bên Rú Nầm thì quanh co uốn lượn. Nước sông ngày hạ chơi vơi trong nắng và gió Lào. Mẹ ngồi trầm mặc nhìn lên hàng thông reo vi vút. Thông sống thật trường tồn. Những thân cây vươn lên mạnh mẽ đón lấy những tia nắng trong xanh nhất của bầu trời cao rộng. Có ai một chiều ngồi bên cầu Nầm, lắng nghe vi vu tiếng thông rì rào đầy huyễn hoặc trong gió? Thông ca hát tự bao giờ? Tự khi mẹ gánh những gánh chè từ vùng Sơn Thủy, Sơn Mai trĩu trịt, vượt qua làn đạn xối ở Cầu Nầm, xuôi tận chợ Choi, chợ Gôi đổi cho con đọi* bánh đa, bánh đúc? Thông hát ca tự bao giờ? Từ thời các con của mẹ bé nhỏ lon ton, mỗi khi nghe tiếng máy bay Mỹ lại hốt hoảng chui xuống hầm trú nấp? Thông hát ca từ ngày xửa, ngày xưa… Ngày con trai, con gái của Mẹ vừa tròn mười tám, mái tóc xanh bồng bềnh, đôi vai trần vạm vỡ, và nối nghiệp cha từ giã mẹ lên đường. Mẹ ở lại với rừng thông quê hương, ở lại với đồi chè xanh mướt, ngóng trông và chờ đợi.

Mẹ yêu quê hương đất nước mình, yêu những chiều trời còn bảng lảng nắng, môi mẹ cười rung rung trong gió Lào mùa hạ, ngắm những đứa con thơ chơi chắt, chơi chuyền. Nước mát dòng sông và củ sắn, củ khoai nuôi con mẹ khôn lớn. Những đứa con của mẹ đẹp như cây thông giữa Rú Nầm vừa được tắm gội sau trận mưa đêm. Những đứa con xanh non, những đứa con mơn mởn,… rạo rực và khát khao vươn lên đón nắng. Cuộc đời mẹ chắt chiu nên những đứa con. Chuyện kể tự ngày xưa, mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng, nuôi dạy trăm con để chia nhau cai quản giang sơn. Bà mẹ nghèo của Thánh Gióng cũng từ nong cà, nong gạo mà nuôi con trở thành Phù Đổng. Ôi, huyền thoại nối tiếp huyền thoại, tự ngày xưa đến tận ngày nay. Những bà mẹ Việt Nam vĩ đại, những bà mẹ Việt Nam anh hùng!

Rú Nầm có thổ nhưỡng khác những vùng đất khác. Thông nơi đây vì thế cũng có đặc trưng riêng. Không phải loài thông của xứ lạnh xa xôi nơi đất người, cũng không phải loài thông của Đà Lạt mơ huyền, cổ kính mộng mơ, bảng lảng sương mờ. Thông ở Rú Nầm chắt chiu dòng nước sông Ngàn Phố, chắt chiu chút mỡ màu từ sỏi đá, gom góp tằn tiện chút hơi ẩm trong gió và nắng miền Trung bỏng rát, rồi biến hóa thân hình sao cho lá thật nhỏ, thật nhọn. Chao ôi, cây cũng như người nơi đây, chẳng bao giờ dám hoang phí, suốt cả cuộc đời có mặt ở trần gian, là suốt cả một đời chỉ biết chắt chiu, gom góp…

Mẹ cũng vậy. Mẹ cũng như thông. Để rồi những đứa con mang hình hài đẹp đẽ và tâm hồn đầy khát khao, đầy ý chí căm hờn lên đường ra trận. Mái tóc con gái mẹ dài như dòng sông Phố, đôi tay con trai mẹ rắn rỏi như thân cây thông rừng. Cuộc đời mẹ gom góp chắt chiu được gia tài ấy, mẹ dâng cho Tổ quốc của mẹ, mẹ dâng cho Tổ quốc của con.

Con ngõ này, con ngõ nhỏ nơi có hàng chè nghiêng nghiêng trong nắng, ba lần chứng kiến mẹ tiễn chồng, tiễn con trai, con gái lên đường. Rồi cũng con ngõ cô liêu ấy ấp ôm bóng mẹ liêu xiêu ba lần nhận tin dữ. Các con không về, lòng mẹ quặn đau…

Trong đôi mắt đã mờ đục vì bao dòng nước mắt tưởng cạn khô, mẹ bùi ngùi nhớ lại hình ảnh những đứa con của mẹ… Quyết tử cho tổ quốc hồi sinh! Chiều nay mẹ kể tôi nghe… Trận Thành Cổ giữa mùa hè đỏ lửa, tám mốt ngày đêm lòng mẹ như lửa cháy…Dòng Thạch Hãn rì rào sóng vỗ, có nghe lời khắc khoải của mẹ gọi tên con? Dáng các anh trên đường băng Tân Sơn Nhất, đã hi sinh rồi mà nòng súng vẫn thẳng hướng quân thù! Có phải “ tên anh đã hóa thành tên đất nước”, hóa vào từng tấc đất ngọn cây, hóa vào hàng thông reo rì rào trên Rú Nầm chiều nay…Mẹ ngước nhìn hàng thông xanh vẫn rì rào ca hát, nước sông Ngàn Phố vẫn miệt mài chảy trôi, bao giờ các con mẹ quay về?

Chiều nay Rú Nầm vẫn rì rào thông reo. Những cây thông đã tái sinh từ trận cháy dữ dội mùa hè năm ngoái. Lửa cháy liền mấy ngày đêm, chỉ được dập tắt trong một cơn mưa dông bất chợt. Vậy mà loài thông trên Rú Nầm sống lại kì diệu. Một người trồng thông lấy nhựa trên Rú Nầm cho hay, thường sau đợt cháy, thông như càng hồi sinh mạnh mẽ hơn, từ lớp mùn của những thân cây khô héo trơ trụi, mầm non như được tiếp thêm sức sống mãnh liệt, nó lại vươn mình trong gió và bỏng cháy nắng miền Trung. Đời cây cũng thật kì lạ, những thân cây ngã xuống, những chiếc lá lìa cành, lại là nguồn sống cho những mầm non khác nhú lên, sinh sôi, nảy nở. Sống một cuộc đời như cây, như lá, bình dị vậy thôi mà cũng đẹp đẽ vô ngần.

Con của mẹ có thể cũng như chiếc lá, như loài cây. Con ngã xuống để đất nước mình được sống, để nắng lại xanh, khói lam chiều lại dìu dặt trên từng mái ngói, đàn em thơ lại ngụp lặn dưới dòng sông Phố hiền hòa, mênh mang. Và cả những hàng thông reo rì rào huyễn hoặc, rồi mai đây những dòng nhựa thơm lại đi khắp đất nước mình…

Đất nước hòa bình rồi, mà sao dòng lệ mẹ vẫn rơi?

Tháng 7.2021

____________

* Đọi: từ ngữ địa phương Hà Tĩnh, từ phổ thông là bát.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Quang Thiều

THAO THIẾT TRƯỜNG CŨ

 

Ngày đầu nhận công tác ở trường (giờ tôi gọi là trường cũ), cảm giác trống rỗng. Không buồn, không vui, phả vào thoảng hoặc trong tâm trí một chút hẫng hụt và tiếc nuối. Ừ, ra trường rồi được trở thành cô giáo là may mắn, là mơ ước, dù rằng nơi công tác là nơi miền núi quê hương tôi, thưa thớt người và khó nghèo vật chất.

Vậy mà trường cũ lại để lại nhiều yêu thương, nhiều nỗi nhớ mong và khắc khoải da diết cho tôi đến vậy khi chia xa. Tưởng như cả đời này, hình ảnh con đường đến trường nhớp nháp bùn, những học trò mặt còn nhấm nhem, tóc vàng hoe vì nắng tôi sẽ nhớ thương da diết. Còn hơn cả nhớ thương, đó là cả một miền kí ức thân thương, những tháng ngày vất vả cực nhọc nhưng biết bao yêu thương đong đầy của mảnh đất Sơn Thủy.

Đúng như tên gọi, Sơn Thủy có núi non trùng điệp, những ngôi nhà dân cheo leo trên cả một quả đồi, trông xa, chỉ như một tổ chim giữa cành cổ thụ. Và có phải vì tên gọi không, mà nơi đây cũng là rốn lũ. Lũ, nỗi ám ảnh kinh hoàng mà cũng gợi cho ta một nỗi nhớ khắc khoải về tình người trong sự giận giữ của thiên nhiên.

Tháng tám mùa thu, bắt đầu cho những buổi tựu trường, cũng là khi mùa lũ nơi quê tôi về. Mưa dông không ngớt. Những cơn mưa ấy ám ảnh trong giấc ngủ chập chờn của tôi. Tiếng mưa ầm ào mà bình thản, thờ ơ trước bao đôi mắt đang trũng xuống, đang hốc hác vì lo lắng. Mưa dông mãi không ngừng là dấu hiệu của lũ. Tiếng ếch hòa trong tiếng gió, tiếng gió lẫn trong tiếng mưa, tiếng mưa lẫn trong tiếng thở dài của đêm, đêm lẫn trong nét mặt thấp thỏm lo âu của mẹ. Mưa ngớt chút, mẹ tôi lại lấy đèn pin soi ra ngoài đường, xem nước đã lên đến đâu. Mưa lũ thường về đêm, những đêm tối mịt không trăng không sao, đêm thờ ơ, đêm vô tâm, đêm tàn nhẫn. Kí ức tôi nhớ nhất những đêm mưa to báo trước lũ sắp ùa về là tiếng người gọi nhau í ới, ánh đèn pin loang loáng soi ra ngoài xa xa cánh đồng, tiếng lo âu ngai ngái của người đàn bà làm trụ cột gia đình, rồi sẽ xoay xở thế nào khi lũ tràn đến vườn, bò lên ngõ, trườn vô sân. Rồi một bậc tam cấp, bậc thứ hai, …Cảnh dọn lũ mới thật là dồn dập. Chưa bao giờ, người ta cần nhau như thế. Tiếng người lội nước bì bõm vào sân khiến mẹ tôi mừng rỡ. Một bàn tay chìa ra lúc này đối với người đàn bà nheo nhóc lũ con thơ có khác gì đâu người dòng nước mát hiện ra trước đôi môi khô nẻ của người làm đồng giữa chang chang tháng sáu. Lũ, với tuổi thơ tôi là những đêm nước ngấp nghé lên như thế, đêm tối đen như mực, như đồng lõa với sự nhẫn tâm của cơn thịnh nộ từ nước, là nét mặt thấp thỏm âu lo của thân phận những người người đàn bà cô quạnh,…

Năm đầu tiên về trường, trường cũ yêu thương cũng đón tôi bằng cơn lũ. Chưa kịp quen mặt, nhớ tên hết những đồng nghiệp, học trò thì nghỉ học cả tuần vì lũ. Ngôi trường chìm trong lũ, tôi đứng phía bên này của Chợ Đình mà ngó sang trường Thủy Mai, thấy mênh mang là sóng nước, nước đỏ đục, bèo từ đâu trôi về dập dềnh. Những bụi tre ngày nắng rì rào hát ca trong gió, kiêu hãnh giữa bầu trời cao rộng trong xanh, thì nay oằn mình trong lũ, dáng còng lam lũ như dáng mẹ. Cầu Chợ Đình vốn tấp nập với bóng người đi chợ về, bóng trẻ đi học về, chẳng thấy đâu nữa, dưới làn nước cuộn cuộn ấy, chắc nó đang nhớ nhung thao thiết bóng hình người qua kẻ lại, chắc nó đang oằn mình chống đỡ làn nước xiết, mà con nước thì như kẻ vô tâm tàn nhẫn, như một gã trai đa tình đang mải miết tìm bến bờ mới, đâu đoái hoài đến một chân cầu cũ bên đường nó đi. Lũ thường nán lại vùng đất này ít ngày, vì nơi đây thấp trũng. Lũ rút chậm. Nhấn nhá như trâu già gặm cỏ già, uể oải, thong thả. Vì nước hãy còn lớn nên trẻ con, người lớn cất vó hai bên đường đi, có người cất vó ngay trước cổng nhà. Trường xa xa chỉ thấy mái ngói rong rêu xưa cũ, thẫm trong màu nâu của đất. Đứng bên này nhìn sang thấy trường cách xa vời vợi giữa mênh mông nước lũ. Bao giờ nắng ấm mới lại về trên mái ngói thẫm nâu, ríu rít đàn sẻ gọi nhau, bao giờ lá bàng non mới thì thầm hát ca trở lại? Và bao giờ mới gặp lại nụ cười tươi không vương chút nhọc nhằn trên môi em thơ? Khi nước rút, sân trường chẳng khác gì ruộng nhão chưa kịp cấy lúa. Bùn non nhớp nháp, dày ngang nửa bắp chân, trĩu nặng như lưu luyến chân người. Vệt tường vôi trắng loang lổ, in rõ dấu mực nước lũ. Bàn, ghế, sách, vở, …nghiêng ngả, xiêu vẹo, vấy trong bùn, nhấn trong bùn, khóc trong bùn, …Mấy ngày sau lũ, nắng ấm lại rực lên. Chúng tôi lại đến trường cùng lũ trò nhỏ. Chúng nó còn quen với lũ hơn cả chúng tôi. Môi cười hớn hở, mặt nhấm nhem. Đôi chân hãy còn lội bùn non ở đâu đó, lấm láp. Giày dép thầy cô còn trĩu bùn, nói chi các trò nhỏ….

Có một thời như thế, trường cũ của tôi ơi, Sơn Thủy thân thương ơi, cái tên mà giờ thổn thức cất tiếng gọi, tôi đã nghe ào ào những dòng nước lũ chảy về, nhớ con nước to cuồn cuộn hối hả chảy dưới cầu Chợ Đình, nhớ ngôi trường lô xô mái ngói nâu, bùn loang lổ khi cơn lũ đi qua, nhớ dậu nhà ai phơi cặp, phơi sách cho con thơ trong nắng thu rải lung linh mà ngai ngái mùi bùn…

Nhớ về trường cũ, lòng tôi còn còn thổn thức nhớ thương bao gương mặt học trò. Cái tên có thể không còn rõ, nhưng gương mặt thì nhớ, ánh mắt thì nhớ, nụ cười cũng nhớ. Những mắt, những mặt, những nụ cười ấy luôn sống dậy cựa quậy trong tâm trí tôi. Có khi nhìn trò mới ngày hôm nay, trò của vùng thị thành, sà vào hàng quán ven đường, tôi lại nhớ đến bao gương mặt trò cũ. Quyên này, Hoài này, Mến này, …có đứa nhà xa 17 cây số, đến trường lúc trời còn nhá nhem, ánh đèn pin loang loáng thay cho ánh sáng mặt trời. Lại có đứa giấu vội nắm cơm trong cặp sách đến trường, sau khi đã tha nào phên, nào tranh, nào nứa, hộ cha ra chợ. Và một đứa nữa, mắt sáng, miệng cười tươi, nhưng trận lũ lịch sử năm ấy đã cuốn em đi, với cặp, với sách, với chiếc xe đạp cũ thân quen của em, …Đau xót vô cùng! Biết bao những gương mặt cũ chen chúc trong kí ức không tên của tôi, nhưng tôi nhớ nhất là Em. Em là một trong những học sinh đầu tiên tôi dạy. Cô hơn trò chỉ dăm bảy tuổi. Em nhà nghèo lắm. Nhưng hồn nhiên, trong trẻo vô cùng. Em học chưa khá, nhưng luôn cố gắng. Tôi đọc thấy ở em biết bao hi vọng, ước mơ rạo rực, mà cũng rất đỗi hồn nhiên. Đôi mắt em tinh nghịch. Tôi còn nhớ lắm một buổi sáng mờ sương, tôi đến trường sớm, em kéo cánh cổng trường trầm mặc và khô rạc vì đã dãi dầu bao nắng, bao gió, bao mưa lũ miền Trung đón tôi, miệng cười tươi hơn nắng. Em khoe dậy sớm đi chợ giúp mẹ, em khoe đã học thuộc bài. Ôi đôi mắt, tiếng nói cười trong trẻo gợi cho tôi biết bao khấp khởi! Rồi mai đây, em sẽ thoát khỏi cái đói nghèo đeo đẳng, rũ bùn lầy lội dưới chân, để đón nắng mới thật trong trẻo, và rực rỡ nữa…

Bẵng đi khoảng mười năm, khi tôi rời xa trường cũ một thời gian rồi, bất ngờ tôi gặp em ở phiên chợ Tết. Em nhỏ bé sau những chậu hoa lớn, miệng đon đả mời chào khách. Hoa hồng nhung rực rỡ, hoa ly vàng của Đà Lạt nở những bông lớn quá, kiêu sa và diễm lệ, như muốn vươn lên làm hoàng hậu giữa các loại hoa. Lại còn lay ơn đủ màu lung linh trong nắng xuân. Em bán hoa. Mà sao em tôi xanh xao quá! Mà sao em tôi nhọc nhằn quá! Mắt trũng sâu. Gương mặt với nụ cười nhí nhảnh ngày xưa đâu? Em trong trẻo ở đâu, Em hồn nhiên ở đâu, Em rạng rỡ như nắng ấm mùa xuân ở đâu? Em cho tôi tràn trề những hi vọng về bàn tay gieo mầm ở đâu rồi? À, Em đã lấy chồng. Tôi thấy có đứa trẻ níu chân Em. Em đã sớm bước vào cuộc sống mưu sinh vất vả rồi! Tôi không khỏi nghẹn ngào, ngậm ngùi, …Ngày xưa Em cũng vất vả, nhưng tôi còn chứa chan bao hi vọng về tương lai của em. Tôi rời đi mà lòng trĩu nặng vô cùng, nuối tiếc, nhớ và thương cô trò nhỏ nhí nhảnh hồn nhiên năm nào của tôi. Những gì tôi thấy hôm nay liệu có phải là em đang có một cuộc sống vất vả lắm không Em hồn nhiên và trong ngần của tôi? Mong sao cho em có được an yên hạnh phúc trong cuộc đời bon chen hối hả xô đẩy như dòng lũ tháng tám nơi quê nhà này…

Giữa mùa hè tháng sáu chang chang như đổ lửa, tôi đột ngột có dịp trở về trường cũ đầy nhung nhớ và duyên nợ, nhưng trong một hoàn cảnh đặc biệt. Nắng tháng sáu khiến ngôi trường thật đẹp. Màu hoa bằng lăng còn sót lại tím nhạt, thưa thớt, như thì thầm nói lời chia tay mùa cũ. Đứng trong trường tôi đưa mắt nhìn sang bên kia, qua những mái ngói lô xô của Chợ Đình, nơi mà ngày xưa khi cơn lũ chắn ngang, tôi lại ở bên kia mà nhìn sang trường khắc khoải như thế. Giữa đôi bờ nhớ thương bây giờ là những cánh đồng sau mùa gặt, những thân lúa lại bươn lên thưa thớt. Rồi đây, khi chiều chiều im nắng, những con trâu thả đồng nhấm nháp ngọn lúa non còn sót lại, ngọt như chính tuổi thơ trong nỗi nhớ của mỗi người. Ngày xưa, trong mùa lũ, đứng bên này mà nhìn sang trường, tôi ngao ngán biết bao, thấy sao mà xa xôi, sao mà cách trở, cả con đường chỉ toàn là sóng nước với bọt bèo. Giờ đây, đứng từ trường mà nhìn về quê mẹ, tôi cũng thấy xa xôi quá. Đường vắng, hàng cây im mát, gió hát ca rì rào. Chẳng có sóng nước và bọt bèo cách trở. Nhưng tôi không thể đi trên con đường thênh thang ấy. Tôi là F1. Trường cũ tôi thành điểm cách ly cho gần trăm F1. Thật tréo nghoe tôi về trường cũ mơ ước, nhung nhớ và thao thiết trong những giấc mơ như hiện thực này đây. Covid 19 cũng đáng sợ như những con lũ đi qua xóm làng này, cánh đồng này, ngôi trường này, …Nỗi sợ mỗi đêm về không ám ảnh tôi bởi ánh đèn pin loang loáng, tiếng người gọi nhau thảng thốt, tiếng mưa dông sầm sập như núi lở, mà giờ đây, quẩn quanh trong giấc mơ và cả những chiều buồn não nề từ khu cách ly nhìn ra, tôi thấy mình thành F0, đeo trên người đủ kiểu dây rợ và máy thở. Có khi tôi lại hoảng hốt thấy đứa con trai 6 tuổi của tôi mặc đồ bảo hộ kín mít, lẽo đẽo một mình theo các y bác sĩ lên xe y tế đang hú còi ầm ĩ. Nửa đêm tỉnh giấc, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Trăng tròn treo vàng thắm. Trăng quê hương. Trăng nhớ thương. Trăng ru vỗ ôm ấp hồn ta. Trăng dìu dặt ta qua cơn mê. Ta nương theo ánh trăng ảo diệu để đứng dậy. Trong đêm tối mịt mù và bủa vây lo âu sợ hãi, trăng cho tâm hồn ta nương náu.

Ừ, phải rồi, bao lo âu rồi tuyệt vọng có giải quyết được gì đâu! Cơn đại dịch này cũng như biết bao những thử thách mà người dân nơi đây đã từng gánh chịu. Là hạn hán cháy hết ruộng, hết đồng, từ đồng trên đến đồng dưới, từ bãi cỏ nơi đồng xa đến con hói nơi đồng gần, tịnh không có một ngọn cỏ, một tia nước. Là lũ kinh hoàng của năm 2002, nhà cửa, ruộng vườn, xác trâu bò và cả bao sinh linh nữa, vùi theo dòng lũ, theo tiếng gào thét man dại của người đàn bà mất con. Thiên nhiên đắng cay và ngọt bùi để rồi mảnh đất này lại hồi sinh, chè lại ra búp non mơn mởn để cho ta bát nước chè xanh đậm đà ngọt chát giữa chang chang gió Lào, trái cam bù vẫn thanh và mát giữa các đồi chon von gió nắng miền Trung bỏng rát, để mỗi khi xuân về, trên chợ Phố, chợ Đình, dọc sông Ngàn phố lại ngập tràn những gánh cam, đổi thay biết bao những cơ cực của người dân lành. Đâu chỉ có vùng quê Sơn Thủy nặng ân tình, mà miên man trong trí óc tôi mường tượng ra loài người từ thuở khai thiên lập địa, từ thuở hồng hoang cha ông mang gươm đi mở cõi. Biết bao trận đại dịch đã thử thách nhân sinh như thế. Chợt nhớ bữa cơm từ bà con nhân dân gom góp gửi vào cho anh em khu cách ly mấy hôm nay, tươm tất thế, chắc là từ hạt gạo trắng trong của nắng tháng Sáu “chết cả cá cờ”. Lòng tôi lại miên man trên con đường rải đầy rơm vàng quấn bánh xe người mỗi khi mùa gặt đến. Nhớ cơn mưa dông bất ngờ ập xuống khi thóc còn phơi đầy sân. Cả nhà chạy ào ào ra thi nhau với trời để cứu lúa. Chao ôi “bưng bát cơm đầy” … Rồi chợt bắt gặp mảnh trăng tỏa sáng giữa trời đêm cao rộng, rồi chợt nhớ ánh mặt đợi chờ yêu thương của con trai, và văng vẳng đâu đây cả nụ cười nhí nhảnh hồn nhiên của Em, … Tôi thấy mình vin đứng dậy được trong chập choàng cơn mê, trong não nùng nỗi sợ, trong chao đảo của tuyệt vọng. Biết bao Em còn đang chờ đợi tôi trên sân trường ngập nắng, rì rào lá bàng non ca hát, lẫn trong tiếng giảng bài say sưa của cô giáo trẻ. Một tương lai phải tươi sáng hơn Em!

Tôi cầm cọ vẽ trên bức tường loang lổ. Mấy ngày rồi không cầm cọ, thấy chao ôi là nhớ. Nỗi sợ hãi vơi đi nửa phần. Đâu đó có nụ cười của một F1 từ ô cửa phòng bên kia nhìn theo từng nét vẽ của tôi sau chiếc khẩu trang xanh kín mít. Tôi đoán là nụ cười. Vì bức tranh tôi vẽ có nắng ban mai hanh vàng, có cây xanh mượt mà vừa được gội mưa, một mặt trời vừa nhú lên rực rỡ, và gương mặt Em hồn nhiên trong trẻo nụ cười, …Tôi mong lưu lại ngày tháng cách ly nơi đây một bức tranh che đi mảng tường cũ loang lổ. Ấp ôm hi vọng rằng một hạt cát nhỏ cũng có chút lợi ích nhỏ nhoi của nó giữa biển cát trắng mênh mông…

Trường cũ yêu thương ơi, ta lại về đây, không trong cuộn cuộn cơn lũ cuối thu, mà giữa chang chang ngày hè tháng Sáu của những ngày được sống thật chậm, giữa biết bao yêu thương và nhung nhớ mà tôi gọi là “Nhật ký Cách ly của F1”.

Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng

SUY TƯ CÁNH CHUỒN

 

Tuổi thơ ai không từng một lần đuổi theo cánh chuồn chuồn. Chiều vàng ươm nắng, cánh đồng quê nằm phơi mình nghỉ ngơi sau chuỗi mùa mệt nhọc, cánh chuồn ớt đậu bên dậu nhà ai, đỏ chót như lửa. Cánh chuồn rung rung, mắt chuồn lim dim lãng du, bình yên như cánh đồng sau mùa gặt hái. Đôi cánh mỏng manh như sợi nhớ sợi thương vương vấn trong lòng người tha hương ở một nơi phố xá lắc lơ. Ôi cánh chuồn tuổi thơ trong trẻo ngọt ngào như tuổi em tôi vừa chớm trăng tròn… Ai từng rong ruổi theo những cánh chuồn hết quãng đường ngày thơ dại, chắc hẳn khi lớn lên, lòng lại sẽ miên man theo những cánh chuồn trong veo của những ngày xa ngái…

Chang chang nắng gắt, tôi và Nguyên vẫn  thường trốn mẹ đi học sớm để bắt chuồn chuồn. Tuổi thơ ngày ấy khác bây giờ, cánh chuồn chuồn đỏ chót nằm trong tay là cả một niềm vui thích ngất ngây. Chuồn chuồn có sức hấp dẫn kì lạ với bất kỳ đứa trẻ nào, gắn bó với hầu hết trẻ con thời ấy. Chuồn chuồn có đủ loại. Chuồn tương mang màu vàng của nắng hanh, dịu dàng như cô gái vừa độ xuân xanh. Chuồn ngô oai vệ hơn, như chàng trai tuổi mười bảy, nhiều khát khao và dạt dào kiêu hãnh. Chuồn chuồn voi to nhất, dáng như máy bay trực thăng, hai mắt to nom bộ dữ tợn. Chuồn chuồn ngô sọc vằn ngang, hay đậu nhiều ngoài đồng xa chứ chẳng mấy khi quanh quất ở vườn nhà. Chuồn kim bé xíu, e lệ, cánh mỏng tang, đậu thấp lè tè ở mấy ngọn cỏ và vườn lạc, vườn đỗ. Chuồn chuồn ớt ma mị và có sức hấp dẫn nhất. Trước hết vì nó đẹp. Chao ôi, toàn thân nó đỏ chót như quả ớt chín rực rỡ, kiêu sa, và đầy thách thức. “Thằng cu tý” nào trong chúng tôi cũng khát khao chinh phục được nó. Nhưng bắt được chuồn ớt không dễ. Nó tinh lắm. Lò lò, lò dò, nhẹ nhàng tiến lại, rất gần rồi, nó vẫn đậu im, bình thản tưởng như đang chìm trong miên man nghĩ suy thế sự gì. Nhưng chỉ cần tiến đến sát, đưa tay ra, thì nó vụt bay, trong sự tiếc hùi hụi của bọn trẻ. Nhưng cái hấp dẫn đầy thách thức của loài chuồn chuồn là nó không bay đâu xa, nó laị đậu chỗ khác, ngay trước mặt ta, càng ra chiều thách thức. Vậy nên lại khom lưng, lại lò dò,…cả buổi chiều có khi bị quấn vào trò đuổi bắt đầy hào hứng và kích thích với những cánh chuồn chuồn gần gũi mà cao ngạo ấy. Chao ôi tuổi thơ!

Hành trình vòng đời của chuồn chuồn ngẫm ra là cả một bài học nhân sinh muôn đời không cũ. Cái loài thường bay cao, thích không trung ngan ngát gió và nắng ấy lại sinh ra từ đầm lầy, ven các ao, hồ, sông nước. Loài chuồn chuồn thường chọn một cành lá nào đó ven ao nước để đẻ trứng. Trải qua những ngày tháng ấu trùng sống trong ào tù chật hẹp với bao hiểm nguy rình rập, một ngày kia, ấu trùng lột xác để thành chú chuồn chuồn rực rỡ và kiêu hãnh. Để dang cánh bay giữa cao rộng nắng và gió, ấu trùng mong manh yếu ớt ấy phải qua cửa tử của bao loài dòm ngó, thiếu chút may mắn thôi, nó có thể trở thành mồi ngon cho chính đồng loại. Vậy mới thấm thía rằng, có cái gì trong cuộc đời này là không phải trả giá, không phải đánh đổi đâu? Và để có những tháng ngày ngắn ngủi được làm chú chuồn chuồn rực rỡ, nó trải qua tháng ngày đằng đẵng nơi chốn ao tù. Sau này lớn lên tôi mới biết, chuồn chuồn chỉ sống tầm 6 tháng, nhưng quãng thời gian là ấu trùng của nó kéo dài hằng năm! Một ngày kia khi đã “ tu thành chính quả”, chuồn đau đớn sinh thành lần nữa, bóc chiếc vỏ bên ngoài, toàn thân run rẩy yếu ớt, đợi chờ giây phút được sống một cuộc đời khác rực rỡ hơn, với nắng, với gió, với những cánh đồng xanh thẳm, ánh nắng trải vàng lung linh, hay phiêu du khi mùa sang, chập chờn theo cánh đồng cỏ may ở những triền đê vắng, hoặc có khi lại cùng đàn cùng lũ vượt qua cả những cánh rừng dài để về miền đất ước mơ của mình, cũng có khi chấp chới cùng dòng nước ven sông, kết duyên đôi lứa và gửi lại tình yêu bên những chiếc lá xanh non…

Những chiều hoàng hôn buông dần, buông dần trên cánh đồng xa vắng, mặt trời chiếu những tia nắng yếu ớt tiễn biệt ngày cũ, vẳng đâu đây tiếng dế chào mừng màn đêm để cất điệu hoan ca, tôi thường ngồi bên Nguyên thật lâu. Cậu thả cánh chuồn, khẽ tung nó trên bầu trời, mắt nhìn theo đăm chiêu, xa ngái. Cánh chuồn chao đảo rồi chấp chới bay giữa màn đêm dần buông xuống. Rồi nó sẽ tìm được một chỗ trú bình yên khi ngày tắt hẳn và im lặng lại ôm ấp, vỗ về ta qua bao mất mát, hờn tủi của cuộc đời, cậu nhỉ?

Mẹ Nguyên là người đàn bà bất hạnh. Cậu sống cùng mẹ và người dượng ít ỏi tình yêu thương. Chẳng mấy khi Nguyên được hòa mình vào lũ trẻ con trong xóm để có những giây phút vô tư rộn rã nói cười. Hiếm hoi tôi mới cùng Nguyên bắt chuồn trên cánh đồng quê, lặng nhìn hoàng hôn buông xuống ven sông Ngàn Phố, và suy tư nhìn cánh chuồn chập choạng, chuếnh choáng bay lên. Bay đi chuồn ơi. Qua cánh đồng xanh. Qua con đê dài thẳm. Qua lũy tre làng rì rào trong nắng dìu dặt. Bay lên nữa, có bao giờ bay tận được đến trời xanh, gọi nắng, gọi gió, gọi những xôn xao, gọi những yêu thương khấp khởi quay về?

Nhưng cánh chuồn mong manh quá. Tôi nhớ câu chuyện về sự tích chuồn chuồn vì sao báo bão, báo mưa. Chuyện kể, ngày xưa… một chiều mưa tầm tã, chuồn ngủ quên khi mưa dông kéo đến. Mưa xối xả làm đôi cánh nó ướt nhẹp, không cất nổi, nó loạng choạng tìm tổ khi mọi loài khác đã trú mưa rồi. Nhưng đôi cánh yếu ớt làm sao chống đỡ được cơn dông rình rập, vô tâm, xối xả, hả hê… Ngày ấy trong một cơn mưa chiều bất chợt dưới gốc cây đa đầu làng, Nguyên nói với tôi về những bất hạnh của mẹ. Tôi chỉ thương xót Nguyên và có phần trách móc người mẹ khốn khổ kia. Giờ đây, khi đã cách xa cánh chuồn tuổi thơ hàng chục năm trời, đôi khi trong kí ức tôi hiện ra cánh chuồn mỏng tang, yếu ớt, và gương mặt một người đàn bà khắc khổ, chịu đựng. Ừ thì  “phận mỏng cánh chuồn”…cánh chuồn ấy mang thân phận mong manh quá, sao chống đỡ nổi những dông tố ngoài kia…

Chiều nay nghe lòng trống trải giữa Sài Gòn tấp nập, nhìn nắng lên cao, bất chợt gặp một cánh chuồn lạc phố, ngập ngừng bay, đắn đo đậu, dáng vẻ âu lo, lạc lõng. Về đâu hỡi cánh chuồn lạc phố, đồng quê xanh ngát rì rào nơi đâu? Lòng tôi chợt nhớ xôn xao những cánh chuồn ngày thơ dại, những cánh chuồn trong trẻo của tuổi thơ chạy dài nhung nhớ trên những bãi bờ bên dòng sông quê hương . Về đâu rồi cánh chuồn tuổi thơ tôi? Liệu ngày ấy, cánh chuồn có chở được niềm hi vọng của Nguyên vượt qua những hàng chuối, triền đê và lũy tre đầu làng trong hoàng hôn chuếnh choáng, để bay cao, bay nữa trên bầu trời xanh rộng?

Hương Sơn, tháng 7.2021

TRỊNH THỊ NGA

One thought on “Tản văn tác giả trẻ Trịnh Thị Nga ở Hà Tĩnh

  1. Phan Châu says:

    Tôi là người con qh Hương Sơn. Đoc các bài viết của TG trẻ Nga Trịnh tôi thực sự có cảm xúc bởi lối viết. Cảm ơn và ngưỡng mộ TG.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *