Tản văn tác giả trẻ Lê Thị Ngọc Lan ở Đắk Nông

Vanvn- Lê Thị Ngọc Lan sinh ngày 18.3.1986 Vĩnh Phúc, hiện ở xã Đăk R’moan thuộc thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Tác giả trẻ Lê Thị Ngọc Lan

Cây bút trẻ Lê Thị Ngọc Lan đã có tác phẩm đăng trên các báo chí: Đại Biểu Nhân Dân, Hà Tĩnh, Nâm Nung,… và đã được trao Giải C của Tạp Chí Nâm Nung. Chị tâm niệm rằng: “Với tôi được thả hồn vào những trang viết là một niềm hạnh phúc rất lớn. Tôi không có quan niệm viết văn là một nghề phụ, quan trọng là khi làm bất cứ một việc gì tôi đều làm bằng cả trái tim. Viết văn giúp tôi có cái nhìn tích cực về cuộc sống. Cùng với sự trải nghiệm của mình tôi sẽ đem hết tâm trí lực vào trang viết để truyền tải đến bạn đọc một cách chân thực nhất, gần gữi nhất. Hy vọng vào một tương lai mà ở đó nhiều thật nhiều bạn trẻ yêu thích văn học, xây dựng một xã hội đầy hòa ái yêu thương”.

Ký ức quê hương đất Bắc và tình yêu đất mới Tây Nguyên đã mang lại cho Lê Thị Ngọc Lan những trang viết xúc động, giàu hàm lượng văn hóa, nhất là các tản văn tươi tắn thú vị.

 

CHỊ VÀ NHỮNG MÙA KHOAI

 

Đã xa lắm rồi tuổi thơ tôi những tháng ngày gian khó, xa lắm rồi những phút giây cả nhà ngồi quây quần bên rổ khoai lang nghi ngút khói lam chiều. Để rồi một chiều thu vô tình dạo một vòng qua phố nhỏ, mùi khoai nướng thơm phức bay lên khiến lòng tôi bâng khuâng nhớ về quê, về những hoài niệm ngọt ngào miền dĩ vãng, nao nao thương về những vụ khoai.

Xưa quê tôi trồng nhiều khoai lắm. Cây khoai lang đôn hậu hiền lành thương người dân quê tôi bần hàn lam lũ, vụ nào cũng sai củ mặc cho thời tiết thất thường. Giống như chị em tôi vậy đứa nào cũng mạnh khỏe hồng hào mặc dù chỉ ăn cơm sắn cơm khoai.

Nhà tôi vốn không vào hợp tác xã nên sáu chị em đều không có ruộng dù chỉ một sào. Mùa vụ đến, nhìn nhà kéo xe bò, người dùng quang gánh tấp nập gánh khoai về, những củ khoai nần nẫn hồng tía chất đống, có củ tròn vo như nắm tay, củ dài như chú chuột đàn lúc nhúc trên đồng chị em tôi thích lắm. Không có khoai thì mình đi mót sợ gì chẳng có khoai ăn, chị cả tôi hồn nhiên phát biểu .

Mới lên mười tuổi chị tôi đã là chị của năm đứa em lít nhít lầng nhầng. Ngày mẹ sinh em út cũng là ngày cuối cùng chị phải dời ghế nhà trường khi còn chưa học xong tiểu học. Chị oằn vai gánh cả bầu trời tuổi thơ cho các em khôn lớn. Quanh năm làm bạn với quang gánh cái cuốc, với bao tải cái liềm, chiếc áo sờn vai cùng chiếc quần bích kê ô vuông sau mông to bự chị mặc qua bao mùa gian khó. Chân tay chị chát khé đen nhẹm nhựa khoai, ấy vậy mà với tôi chị xinh đẹp hơn bất kỳ bạn bè nào cùng trang lứa. Chị như cô tấm hiền lành thơm thảo chăm sóc đàn em lớn lên khoẻ mạnh, đàn lợn con  nhờ có khoai của chị mà da hồng lông mượt, chú bò quặp sừng nhà tôi cũng nhờ dây khoai chị mót về béo tốt hẳn lên.

Chị em tôi lớn lên lay lắt cùng những mầm khoai nhọc nhằn lên lá, cùng những củ khoai đôn hậu đậm hương trời nắng gió đồng quê. Bao vụ khoai đều in dấu bước chân cần mẫn miệt mài của chị. Tờ mờ sáng khi gà còn chưa gáy chị đã dậy luộc nồi khoai to cho cả nhà , ngày ấy bố đi bán mật đường xa rất ít khi về, mẹ thì chăm em nhỏ mới sinh, chị là chị, là mẹ gồng gánh cả đàn em thơ dại. Củ to chị lựa phần cho mẹ cho các em, còn chị chỉ ăn toàn củ sứt mẻ. Thỉnh thoảng bố về mua được ít gạo chị vui lắm, vội vàng vo gạo nấu cơm và hấp thêm khoai lên trên. Đến bữa chị khéo léo đơm cho các em bé hơn những chỗ ít khoai, còn bát của chị toàn khoai không thỉnh thoảng lắm mới cõng được vài hạt cơm trắng.

Ăn vội bát khoai chị tất tả ra đồng, bóng nắng sắp tròn mà chị vẫn chưa về, chị em tôi bắt đầu lo lắng. Một lát sau có chị bạn thân hốt hoảng cõng chị tôi về, áo quần lấm lem mồ hôi ướt đầm. Chị tôi bị đói lả ngoài ruộng khoai, may mà có bạn chị đi cùng nếu không… tôi không dám tưởng tượng nữa, mấy chị em xúm quanh gọi lay chị dậy ,mẹ lo lắng cuống quýt pha nước mật mía cho chị uống, vài phút sau chị tôi tỉnh lại, chị cười hiền an ủi:” mấy đứa nín đi chị có sao đâu chị chỉ ngủ một tí thôi mà”. Chị em tôi ôm chầm lấy nhau rồi oà lên mừng mừng tủi tủi.

Tôi còn nhớ buổi sáng sương giăng mờ ngập con ngõ nhỏ, chẳng nhìn rõ mặt người. Tôi lũn cũn chạy theo chị ra đồng mót khoai, ruộng vừa thu hoạch chiều qua nên đất còn sốp lắm, chị cuốc lấy cuốc để cũng chỉ được vài củ mẻ củ giun. Lâu lâu vớ được củ to hai chị chuyền tay nhau nhét vào bao mừng rỡ. Tiếng chị cười giòn tan hoà trong nắng thu vàng.

Phía xa xa vang vẳng tiếng bò cày khoai vắt diệt. Từng củ khoai đẫy đà nổi lên mặt ruộng hứng nắng mùa thu ngọt lịm. Vài chú dế con xinh xinh lách tách nhảy đậu trên luống khoai, chú chuồn chuồn ớt chao nghiêng bay lượn chập chờn. Nắng vẫn dải vàng ươm trên cánh đồng trù phú, trắng đồng nón lá nhấp nhô các mẹ các chị thoăn thoắt tay cuốc tay liềm, người cắt dây, người đào củ, người vặt nhanh nhảu xếp vào thúng gánh về. Chú nhà bên làm chỉ có một mình nên nhờ chị em tôi nhặt khoai và gánh lên bờ giúp, xong việc chú cho uống nước mật ngọt lịm còn cho toàn khoai to thích ơi là thích. Hai chị em lếch thếch mang khoai về giữa trời trưa nắng gắt, bên rặng tre hiền lành ngả bóng, dáng chị liêu xiêu xô vạt cả nắng thu.

Những mùa khoai quê tôi giờ chỉ còn trong tiềm thức, nhưng vị ngọt bùi ấy vẫn đằm lại nơi đầu lưỡi tôi, ít có thứ hương vị thanh bần nào đậm đà hương quê đến thế. Khoai lang giúp tôi tìm về với chính mình với những điều thân thương nhất, như một thanh âm trong trẻo vút lên giữa phố thị ồn ào.

Ước gì thời gian quay trở lại để em được lẽo đẽo theo chị những buổi ra đồng. Được chị dúi vội củ khoai nướng thơm phức lẫn tro bếp ấm, em mang tới lớp bẻ ăn chung cùng bè bạn. Mùi khoai nướng vẫn thơm lừng phố nhỏ đâu đây nhưng em chỉ có thể ăn bằng kí ức và hoài niệm, bao  yêu thương nồng ấm hôm nào lắng đọng cả hồn quê vào những củ khoai.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Tân Quảng

CHÈ LAM THƠM VỊ TẾT XƯA

 

Ai đã từng xa mảnh đất quê hương nơi chôn rau cắt rốn, ai đã từng nhiều năm chưa trở lại đón Tết chốn quê nhà. Có lẽ giờ đây tâm trạng cũng bâng khuâng như tôi khi mùa xuân đang rộn ràng gõ cửa. Xuân đang đến thật gần, tiết trời se se lạnh, những chồi biếc đang cần mẫn đơm nụ chuẩn bị bung sắc đón xuân sang. Sợi nắng hiền hòa trong vắt dệt gấm thêu hoa trên những vòm cao, những đám mây bồng bềnh đan trong gió. Giờ này ở quê, xuân cũng đang chạm từng góc xóm làng. Ơi con ngõ nhỏ hiền lành có còn nhớ dấu chân người trí kỉ? Chẳng biết năm nay mẹ có làm mứt dừa, mứt bí? Có làm món chè lam thơm dẻo ngọt bùi như những tết xưa?

Năm nào cũng vậy cứ mỗi dịp tết đến mẹ dù bận đến mấy cũng không quên làm món chè lam mà chị em tôi thích nhất. Món ăn tuy giản đơn nhưng chứa đựng cả tinh hoa đất trời, nó thể hiện sự đảm đang vén khéo của mẹ dành cho gia đình, là biểu tượng ấm no của người dân quê tôi cần cù chăm chỉ và hơn tất cả nó là  món ăn cao sang mà chỉ khi tết đến chúng tôi mới được ăn.

Thời xa xưa nghèo khó ấy, khi mà bánh kẹo chưa tràn lan như bây giờ, cứ mỗi dịp xuân về, được ăn miếng chè lam và nhấp ngụm trà nóng hổi là một điều vô cùng trân quý! Mồng một tết trời vừa tảng sáng bố tôi thường nhắc tôi nấu nước đầy hai phích để pha trà. Khi các cô chú đến chúc tết, đĩa chè lam dẻo quện mềm thơm  bày ra cùng hương trà mạn Thái Nguyên ngạt ngào khói toả, phảng phất khắp ba gian nhà nhỏ. Miếng chè lam dẻo thơm ngọt lành bùi quện trong miệng, hương vị ấy sao mà ấm áp da diết, tựa như hơi thở của quê hương níu gọi bước chân về.

Món chè lam chẳng biết có từ bao giờ, tôi chỉ biết rằng từ nhỏ tôi đã được ăn nó vào những dịp tết đến, món quà quê mộc mạc đơn sơ, nhưng chứa đựng cả một nét văn hóa  ẩm thực của quê hương, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên liệu và gia vị để tạo ra món chè lam đậm đà hấp dẫn khó quên. Để rồi ai đi xa cũng thương cũng nhớ!

Chiều 29 tết nhộn nhịp, cả nhà tôi cùng mẹ chuẩn bị làm chè lam khi mọi công việc gần như đã hoàn thành. Mẹ lấy gạo nếp hương ngon nhất được mẹ chuẩn bị sẵn. Anh trai tôi nhanh nhảu được mẹ phân công đạp xe lên chợ nổ bỏng rồi nghiền thành bột mang về cho mẹ. Chị cả khéo léo được mẹ dặn dò rang lạc  vừa chín vàng rồi xát sạch vỏ, chị hai giã gừng tươi vắt lấy nước. Tôi và hai em út ngồi chờ lệnh sẵn sàng xong việc để vét đáy nồi. Ai cũng vui và háo hức vì được chung tay giúp mẹ.

Nước mật mía bố đã để sẵn từ lâu, mẹ nhấc một nồi to lên bếp cho một lượng nước vừa phải cùng với mật và nước gừng và bắt đầu đun. Những ngón tay gầy mỏng manh của mẹ như đang khoải mái chèo không ngớt. Khi nồi nước chuyển sang màu nâu vàng sóng sánh lục bục sôi mẹ khéo léo búng thêm vài hạt muối khuấy đều tay rồi nhẹ nhàng nhấc xuống. Tôi may mắn được ngồi bên múc bột cho vào nồi nước mật thật đều để không bị vón cục. Mẹ rắc lạc rang vào đảo thật đều. Mùi thơm ngào ngạt từ mật  từ gừng, khiến bụng tôi cồn cào bủn rủn, mấy chị em tôi nuốt nước miếng ừng ực, những cặp mắt trong veo cứ dán chặt vào mẻ bánh đang sắp sửa hoàn thành.

Khi khối bột đã dẻo quánh mẹ đổ ra chiếc mâm thau đã phủ bột nếp chín mịn ,đôi tay thanh mảnh của mẹ lại một lần nữa múa đều thoăn thoắt nhào nặn cán đều .Trời lạnh là thế !mà sao trán mẹ lấm tấm mồ hôi?

Ngoài vườn những trái bưởi đào đung đưa trong gió, từng lộc non đang nhảy múa reo vui với nắng xuân hồng. Đàn én chao nghiêng trên nền trời xanh biếc. Cành đào nhựa mẹ mới mua về cũng hồn nhiên khoe sắc giữa mùa xuân. Khóm nhài lười biếng mọi ngày hôm nay cũng thi nhau nở rộ trắng muốt một góc sân nhà. Không khí Tết đến thật gần vẫn không xua đi nét âu lo hằn trong mắt mẹ .

Món chè lam năm xưa vẫn ngọt ngào nơi xóm mạc an lành, vẫn thơm thảo nơi thôn quê dung dị ấy. Vậy mà! có đứa con mải mê xuôi ngược nơi xa đã lâu chưa trở lại chốn quê nhà! Để bố mẹ cứ vò võ chờ trông mòn mỏi…

Bố mẹ ơi tết này con sẽ về. Về để tìm lại tuổi thơ mình một thuở, để được đón tết đoàn viên sum họp với gia đình, được cùng mẹ nấu những món ngon mẹ thích. Và Tết này con lại cùng mẹ làm món Chè Lam như những tết xưa .

Tranh của họa sĩ Nguyễn Tân Quảng

THƯƠNG MÀU THỔ CẨM NGÀN XƯA

 

Hàng điệp vàng vi vút nắng đưa tôi đến miền đất hoang sơ, nơi có những người con của buôn làng chất phác thật thà bình yên sống bên dòng thác Liêng Nung huyền thoại. Ngày tháng êm trôi theo những vụ mùa, gắn bó với nương cà phê hồ tiêu bát ngát, thương vụ bông trĩu quả nở bung trắng muốt phía chân đồi tạo nên bộ trang phục thổ cẩm muôn màu cùng bà con vượt qua bao khắc nghiệt của thiên nhiên.

Hình ảnh người phụ nữ Mạ dịu dàng bên khung dệt cứ vương vấn trong tôi niềm ngưỡng mộ và trân quý biết bao! Chẳng biết nghề dệt thổ cẩm có tự bao giờ, chỉ biết rằng khi già làng chưa đến tuổi trăng tròn đã biết se bông dệt vải. Thổ cẩm như một món quà thiên nhiên ban tặng cho người con giữa núi rừng Tây Nguyên.

Trong ngôi nhà đơn sơ người phụ nữ đang cần mẫn dệt thổ cẩm, động tác điêu luyện khéo léo dệt nên đường nét hoa văn tinh tế, qua đôi tay cần cù tinh hoa của núi rừng được thổi hồn thành tấm thổ cẩm đa sắc màu thêu dệt ước vọng cuộc sống ấm no của bà con thôn bản .

Để tạo ra một tấm thổ cẩm truyền thống phải trải qua rất nhiều công đoạn, từ khi trồng và chăm sóc cây bông, đến vụ thu hoạch bông về se sợi tạo ra những cuộn chỉ, vượt núi băng rừng tìm vỏ cây chàm nhuộm thành chỉ màu xanh đậm, vỏ cây chút tạo thành màu đỏ, màu vàng được nhuộm từ củ nghệ tươi… Khi dệt cũng vất vả không kém, người thợ dệt ngồi bệt xuống sàn, đôi chân duỗi thẳng giữ căng khung dệt, tay khéo léo găm chỉ, từng động tác uyển chuyển nhịp nhàng đưa lên đẩy xuống , tiếng nhịp đưa khung nhè nhẹ hoà lẫn tiếng suối chảy thông reo. Từng hoa văn nổi lên: màu đen biểu trưng của đất, màu đỏ biểu tượng của tình yêu đôi lứa, khát vọng ước mơ, màu xanh của cỏ cây hoa lá, màu vàng là nét hài hòa của con người gắn bó với thiên nhiên.Thổ cẩm không đơn thuần là trang phục làm đẹp cơ thể ,mà mỗi tấm thổ cẩm còn hàm chứa những câu chuyện lịch sử, phản ánh nếp sinh hoạt văn hóa được lưu truyền qua bao thế hệ ngàn xưa. Là sự kết hợp giữa niềm tin và giá trị thẩm mĩ, là thước đo sự đảm đang chu đáo của người con gái bước vào tuổi xuân thì. Những cô gái Mạ trước Mạ trước khi về nhà chồng thường tự tay dệt quần áo cho mình và cho gia đình nhà chồng. Gửi gắm  bao tình yêu và hi vọng, thêu dệt ước mơ một cuộc sống ấm áp vẹn tròn.

Để dệt được một bộ vải đẹp có màu sắc bắt mắt, người thợ dệt phải mất năm ngày, thêm hai ngày cắt may chăm chỉ mới có thể làm ra một bộ quần áo ưng ý. Họ chẳng quản thời gian bao lâu chỉ biết rằng đó là niềm vui là hạnh phúc theo họ trong những thời khắc trang trọng nhất của cuộc đời.

Những ngày lễ lớn bao quanh lửa trại bập bùng, chàng trai cô gái Mạ nắm tay nhau  múa xòe duyên dáng trong đồng phục rộn ràng sức sống, thổ cẩm hài hòa như trao gửi mối lương duyên. Thấp thoáng dưới nương đồi xa bát ngát, em gái Mạ yêu kiều mặc bộ thổ cẩm đeo chiếc gùi mây đi hái thuốc nụ cười sóng sánh rạng rỡ cả lối mòn… Cứ như thế thổ cẩm trở thành linh hồn của bà con từ bao đời, như một bức tranh tĩnh, lặng lẽ bảo vệ chở che nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ lớn dần lên.Trở thành bản sắc văn hóa không thể thiếu của bà con thôn bản.

Xã hội ngày càng phát triển, những nét hoa văn in giả thổ cẩm ngày càng tinh xảo, nghề dệt thổ cẩm truyền thống đứng trước nguy cơ bị chìm vào quên lãng. Nhưng chính lòng tâm huyết yêu nghề của các nghệ nhân đã thổi hồn vào từng tấm thổ cẩm giúp nghề khởi sắc trở lại, từng đường nét hoa văn đa dạng về mẫu mã đáp ứng được giá trị sử dụng của du khách, giúp phụ nữ Mạ có thêm thu nhập sau những lúc nông nhàn. Thổ cẩm trở thành sản phẩm đặc trưng giữa núi ngàn, trở thành vật phẩm trang trọng biếu tặng khách quý, là món quà lưu niệm độc đáo của du khách khi đến thăm quan miền đất Đăk Nông hiếu khách thân tình .

Khoác lên mình trang phục của dân tộc Mạ, tôi tự hào và thêm yêu biết mấy sản phẩm hoàn mĩ của đất nước mình. Dẫu màu da tiếng nói có khác nhau, nhưng tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc đều giống nhau trong dòng máu lạc hồng trên dải đất hình chữ S. Tấm thổ cẩm mãi là biểu tượng đáng tự hào, là di sản văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc cần được giữ gìn và phát huy.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Tân Quảng

ĐĂK NÔNG MIỀN THƯƠNG NHỚ

 

Đã bao lần ngay cả trong mơ trái tim tôi nghe tiếng quê hương réo rắt gọi về, nhưng tôi vẫn dùng dằng lưu luyến. Bởi với tôi giờ đây Đăk Nông không chỉ là nơi an cư lạc nghiệp mà Đăk Nông đã trở thành quê hương thứ hai của tôi tự bao giờ.

Hơn mười lăm năm tôi đến với Đăk Nông như một nhân duyên trời định, gắn bó cùng bà con nơi đây từ khi vừa thành lập tỉnh. Trong trí nhớ của tôi Đăk nông ngày ấy sao mà khó khăn hoang sơ đến vậy, đường xá quanh co khúc khuỷu gập ghềnh, núi rừng nhấp nhô hiểm trở vô cùng, nhà cửa thưa thớt, cơ sở hạ tầng thiếu thốn chẳng bằng phẳng đông đúc như ở quê tôi. Nhưng thật lạ, khí hậu nơi đây mát mẻ trong lành, bà con chất phác thật thà luôn hết lòng nghĩa tình với làng xóm giống y như ở quê tôi vậy, và rồi tôi thấy thiện cảm với nơi đây hơn.

Mười chín tuổi tôi theo chồng vào làm ăn kinh tế ở một xã vùng xa của Đăk Nông, trong tâm trí của cô gái trẻ cứ ngỡ nơi đó sẽ đẹp xinh thơ mộng lắm, từ nhỏ tôi chưa qua khỏi lũy tre làng, khi đặt chân đến mới biết nơi đây không như tôi tưởng tượng. Tôi muốn về nhà nhưng cũng chẳng còn tiền, thôi đành ở lại, người ta sống được mình cũng sống được, tôi đã trấn an mình như thế.

Màn đêm bao trùm xóm nhỏ, nỗi nhớ nhà thiêu cháy tâm can, tiếng côn trùng réo rắt sương khuya hoà chung những giọt nước mắt xa nhà, tôi lay lắt làm quen với cây điều cây sắn, với những loài hoa dại, hàng ngày làm bạn với cái xạc đi lên rẫy và trở về nhà như đã được lập trình, và rồi khi nhìn thấy những cây tự tay mình vun trồng chăm sóc lớn dần lên cho thu hoạch tôi thấy mình vui và hạnh phúc ngập tràn. Tôi thấy bình yên nghe chim hót líu lo chào đón tôi mỗi buổi đi làm, hoa lá cỏ cây mời gọi, tôi thoả sức chèo hái những quả xoài to chín vàng ươm ăn thỏa thích, những chú thỏ chú sóc con nhỏ nhỏ xinh xinh thỉnh thoảng lại mon men ăn ké cùng tôi, vừa đi làm vừa được nghe suối chảy thông reo mênh mông giữa gió núi mây ngàn, được hoà mình cùng chim muông hoa lá tôi đã yêu mảnh đất này từ lúc nào không hay.

Đêm đêm dưới ánh đèn dầu heo hắt, tôi lấy cuốn nhật ký của mình ra viết để quên đi nỗi nhớ nhà, ngày đó chỗ tôi ở còn chưa có điện lưới. Muốn gọi điện thoại về nhà phải đi bộ rất xa, tôi nhớ lần đầu tiên tôi gọi điện thoại cho bố, đã rằn lòng sẽ không khóc để bố mẹ yên tâm ấy vậy mà bố chưa kịp alo tôi đã oà lên rồi vội vàng cúp máy. Bố liền gọi lại hỏi sao lâu quá mới gọi về nhà, bố hỏi tôi đủ thứ, tôi ngây thơ cứ nghĩ trả lời qua loa và nói dối bố thì bố sẽ chẳng hay biết gì về những thiếu thốn lạc hậu nơi tôi đang sinh sống. Nhưng không, bố đã biết tất cả bố dặn dò tôi cố gắng làm ăn không được bỏ về, rồi bố vội vàng cúp máy, bố biết tôi đang rất tủi thân và bố sợ nghe tiếng tôi oà lên trong nức nở!

Thời gian thoi đưa, bao khó khăn cũng trôi qua như những mùa trăng dịu dàng soi bóng bên dòng suối. Tôi đã quen với cuộc sống không có những người ruột thịt bên cạnh, rồi mua được căn nhà đầu tiên của mình ở thị xã cách nương rẫy vài cây số, hàng xóm nơi đây thân thiết nghĩa tình luôn động viên giúp đỡ tôi khi cần thiết. Ba đứa con xinh xắn dễ thương lần lượt ra đời đều nhập hộ khẩu Đăk nông. Các cháu đều lớn lên trong tình yêu thương của màu Bazan đất đỏ, đứa nào cũng khỏe mạnh tự tin như dân bản địa từ bao đời.

Gia đình tôi đã trải qua bao mùa cà phê thơm hương nở rộ, qua bao mùa nắng mưa, đặt chân đến những vùng đất mới nơi này, thêm quý thêm yêu khung cảnh bình yên nơi đây quá đỗi. Yêu những chiếc cầu bắt ngang qua dòng sông đang chảy vang vọng như âm thanh của núi ngàn, yêu hồ nước trong vắt hiền lành cây in soi bóng nước, những triền cỏ dại xanh mướt ngậm giọt sương long lanh buổi bình minh gọi rừng cao su mùa thay lá đỏ vàng khiến lòng tôi ngẩn ngơ xao xuyến. Nơi đây chẳng phải chốn thiên cảnh bồng lai nhưng lại có nhiều bức hoạ thần tiên cùng những gam màu huyền thoại nhuốm cả không gian làm con người ta cứ trầm luân man mác lạ kì. Tiếng réo rắt ngày đêm như bản hòa ca giữa núi rừng của dòng thác huyễn hoặc như sương khói cứ níu giữ bước chân tôi như khẽ gọi từ xa.

Đăk Nông đang trên đà hội nhập và phát triển, nhiều con đường rộng được san ủi uốn mình như dải lụa, nhà cửa mọc nhiều thêm, cơ sở hạ tầng phát triển như vũ bão, trường học bệnh viện được đầu tư khang trang sạch đẹp không kém gì so với các thành phố lớn, trình độ dân trí được nâng cao, đời sống người dân ngày một tiện nghi đầy đủ, Đăk Nông đang thay da đổi thịt và lớn lên từng ngày.

Dẫu biết rằng nơi vùng xa hẻo lánh vẫn còn đó những điểm trường tạm bợ, những đứa trẻ chân trần áo quần không đủ ấm vẫn hằng ngày rảo bộ vài cây số đến trường, bữa ăn chỉ có cơm cà dưa mắm muối, vẫn còn đó những mảnh đời khó khăn vất vả mưu sinh bữa no bữa đói, nhưng tôi tin sẽ có một phép màu. Tôi tin vào những con người chân chất nghĩa tình, hào sảng và giàu ý chí quật cường vượt qua mọi khó khăn, luôn phấn đấu và không ngừng sáng tạo. Tôi tin vào mảnh đất chan hòa nơi hội tụ nhiều dân tộc hoà trộn các nền văn hóa, tin vào những yêu thương đang chảy giữa đời.

Tôi không được sinh ra trên mảnh đất này nhưng tôi nguyện đem hết tâm trí lực của mình để cống hiến cho nơi tôi đang sinh sống, trân quý nâng niu như đất mẹ thân thương.

LÊ THỊ NGỌC LAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *