Tản văn Lai Châu trong dòng chảy tản văn hiện đại

Vanvn- Những năm đầu thế kỉ XXI được coi là “thời của tản văn” khi số lượng các tác phẩm, đầu sách thể loại tản văn tăng lên nhanh chóng, với nhiều tản văn hay, chất lượng. Đa số báo, tạp chí luôn có chuyên trang dành cho tản văn. Trong dòng chảy đó, tản văn ở Lai Châu có những chuyển động mới mẻ.

Mặc dù thành tựu về tản văn ở Lai Châu chưa dày, nhưng sự phát triển của thể loại đã góp phần làm phong phú hơn nội hàm của văn nghệ địa phương. Đến nay Lai Châu có một số tập tản văn như: Bàng bạc mưa rừng (Hà Mạnh Phong, gồm 32 tản văn Nxb Văn hoá dân tộc, 2010), Quê tôi vùng Tây Bắc (Phùng Hải Yến, Nxb Hội Nhà văn, 2020, gồm 48 tản văn), Lạc giữa mùa bông (Lê Thuỳ Giang, Nxb Sân khấu, 2020, gồm 21 tản văn)… Ngoài ra, còn một số tản văn đăng trên Tạp chí Văn nghệ Lai Châu hàng tháng trong nhiều năm qua của các tác giả trẻ như: Châm Võ, Phạm Đào, Đinh Hồng Nhung, Hồng Nguyễn, Nguyễn Chanh…

Tác giả trẻ Lê Thùy Giang

CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC LAI CHÂU:

>> Văn học Lai Châu: Nhìn từ Pu Ta Leng

>> Đỗ Thị Tấc – trụ cột của văn học Lai Châu

>> Hà Phong viết để yêu thêm đất núi quê mình

>> Huỳnh Nguyên thuộc thế hệ tiên phong văn học Lai Châu

>> Thơ Đinh Hồng Nhung: Nỗi niềm của cô giáo cắm bản

>> Thanh Phương – người đa tài của văn nghệ Lai Châu

>> Thơ Phạm Đào: Gom thương nhớ gửi vào miền xưa cũ

>> Truyện ngắn Đặng Thuỳ Tiên: Lão Gàn & Sa ngã

>> Thơ Châm Võ: Giấc mơ đêm hoa nở tràn trên đá

>> Thơ Phùng Hải Yến: Em sơn cước cái nhìn phóng khoáng

 

Tản văn (dịch từ tiếng Anh là free-style writing), được hiểu là phong cách viết tự do. Chính vì vậy, tản văn không bó buộc hình thức cũng như đề tài đối với người viết. Kết cấu tác phẩm hoàn toàn linh hoạt, tự do, thậm chí không cần logic. Trong tản văn, người viết có thể lồng ghép các phương thức biểu đạt như tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận… Cho nên, có ý kiến cho rằng: tản văn là thể loại vừa có yếu tố trữ tình, vừa tự sự. Ngoài ra, khi có tính thời sự cao thì tản văn lại có thể mang “chất” báo chí… Từ những điều này, cho nên tản văn được cho rằng có tính chất “hỗn hợp”, “phi thể loại”, “vượt qua những ranh giới của thể loại”… (Huỳnh Như Phương)

Nhà nghiên cứu PGS. TS Bùi Thanh Truyền cho rằng tản văn bao gồm nhiều thể loại: ký, tuỳ bút, tiểu phẩm, tạp văn, ngụ ngôn, chân dung văn học. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi lựa chọn hiểu theo Từ điển thuật ngữ văn học: Tản văn là một thể loại văn xuôi ngắn gọn, tự do và rộng rãi về đề tài và phương thức phản ánh, chú trọng bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả. Cho nên, nếu viết ký, tuỳ bút, tiểu phẩm, tạp văn… mà không thể hiện được sâu sắc tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ của người viết thì chưa được gọi là tản văn. Tản văn không chấp nhận hư cấu như thể loại văn xuôi khác như truyện ngắn, tiểu thuyết. Tản văn hay là tản văn xuất phát từ tình cảm thực sự của người viết và gây được rung cảm thẩm mĩ đến tâm hồn người đọc. Nói như Nguyễn Ngọc Tư là “những cảm xúc ngột ngạt bị đẩy đến tận cùng, đến ngộp thở… Chữ bật ra từ những nỗi đau”.

Tản văn không giới hạn đề tài. Người viết tự do lựa chọn đề tài, cùng với cảm xúc của mình. Nhưng cũng như các thể loại khác, tản văn giá trị là phải thể hiện được các yếu tố của mĩ học, có thể thể hiện “cái bi”, “cái hài”, “cái đẹp”, “cái cao cả” và hướng người đọc đến “chân, thiện, mĩ”. Chỉ những tác phẩm giàu tính nhân văn mới có thể tác động sâu sắc vào tâm hồn người đọc, làm nảy nở trong lòng họ những tình cảm, suy nghĩ, hành động tốt đẹp. Cho nên, dù tản văn không cần những kĩ thuật phức tạp như viết tiểu thuyết, truyện ngắn, nhưng để viết được một tản văn hay, không trôi qua trong lòng người đọc thì không dễ. Viết tản văn cũng là sáng tạo nghệ thuật và đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân nói “tản văn không thấp kém hơn các thể loại khác”.

Nếu đọc truyện, độc giả cuốn vào những câu chuyện giàu kịch tính, thì dường như tản văn lại mang đến một cảm giác rất nhẹ nhàng. Cho nên, tản văn khá hợp với thị hiếu của các độc giả hướng nội, thích giao tiếp với những tiếng nói truyền cảm, tự bên trong, yêu thích sự tĩnh lặng, chầm chậm, hoặc đôi khi là để chữa lành tâm hồn…

Nếu chỉ thể hiện những hỉ, nộ, ái, ố thường tình mang tính cá nhân của mỗi người mà ít tính tư tưởng thì có lẽ tản văn khó tồn tại được. Nhưng khi tản văn mang trong mình vẻ đẹp rất riêng của người viết, tương đồng với cảm xúc của số đông thì tản văn dễ dàng lan toả. Như thể, nhà văn thay mình nói những điều mình biết, mình nghĩ mà không thể diễn đạt thành lời.

Tản văn Lai Châu chú trọng khai thác các đề tài về đất và người Lai Châu, bao gồm thiên nhiên, cảnh vật, lịch sử, văn hoá, sản vật, con người…. Với ưu thế thể loại, tản văn đi vào đời sống từ những chi tiết rất nhỏ.

Qua tản văn, người đọc có thể thấy một phần lịch sử của Lai Châu, những biến đổi của theo thời đại, thời gian: Ký ức cầu Hang Tôm (Thuỳ Giang), Ngược dòng Nậm Na (Châm Võ)… Các cây bút thường hoài niệm về quá khứ. Có người hoài niệm một vùng quê cũ, làng bản về những gì tốt đẹp đã mất đi, về thời thơ ấu… Hoài niệm chính là bởi sự bất toàn hoặc là sự mất mát của một giá trị tốt đẹp nào đó ở thời hiện tại…

Qua nhiều tản văn Lai Châu, người đọc có thể hình dung được và bị hấp dẫn bởi quang cảnh, vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ, lãng mạn của miền đất này: Những con đèo, Thanh âm của núi, Hoa trần gian, Mùa xuân mở cửa bướm và hoa, Thu sang rồi đấy (Hà Phong), Quê tôi vùng Tây Bắc, Xuân xứ lạnh (Phùng Hải Yến), Tháng giêng xứ núi, Lao Chải – vùng non cao trong trẻo, Mùa hoa táo mèo, Hương mắc cọp, Đi giữa mùa vàng Sin Suối Hồ (Thuỳ Giang), Mênh mang Tả Phìn (Châm Võ), Những mùa mây Ka Lăng, Mường Than tôi yêu (Đinh Hồng Nhung), Tà Mung mùa xuân đã về (Phạm Đào)…

Ta nhớ những bản làng ngày xưa nằm yên bình giữa thung lũng; bên cạnh một bến suối mát dịu: Bến suối làm mặt gương soi bóng núi nghiêng lả dáng thuyền, soi bóng cây rủ lả dáng cành, dáng ngọn; một bến suối yên ả lững lờ chảy mà tan vỡ nắng (Bến suối – Hà Phong), xa xa kia là những bãi cỏ xanh, xa hơn nữa là những rặng núi: Núi đã muôn năm già mà không cũ, vẫn bồng bềnh mây trôi lưng núi, vẫn áo cỏ non tươi mới như ngày nào. Ở lưng chừng núi là Những chân ruộng bậc thang xinh xắn, những nương ngô thoai thoải sườn non, con trâu nghiêng nghiêng cùng người xiết mũi cày liếm vào chân đá… Có những bản làng như Tả Phìn “gác tay ngủ ở lưng chừng núi nên đường về cũng phải qua đôi ba khúc cua uốn lượn quanh co đèo dốc, gập ghềnh suối xa” (Mênh mang Tả Phìn – Châm Võ). Bản làng đó Có tiếng cối nước giã gạo thậm thịch đều đều êm ả, hội cát chăm ngày xuân rộn rã tiếng cười. Tiếng vó ngựa thanh bình dạo trên đường núi loà xoà mây trắng (Lắng lòng quê thương – Hà Phong); Thu vàng mơ. Có chú sóc nhỏ mang trên mình bộ lông vàng xám, lanh lẹ tách mình trên cành cây sung già ven bản, thập thò qua kẽ lá nhìn thu;… Giữa muôn vàng thu ấy, sắc áo cóm trắng trông thật nổi bật, đấy, thu đang hoá mình vào dáng điệu sơn nữ múa toỏng loỏng (Thu sang rồi đấy – Hà Phong). “Bản mường tôi, sáng sớm đất thở. Sáng sớm suối, khe thở. Hơi thở kết thành mây. Có khi thung lũng đong đầy mây như hồ tuyết” (Tháng Hai mùa hoa – Đỗ Thị Tấc). Một điều thật tự nhiên rằng ai cũng yêu mùa Xuân. Mùa Xuân Tây Bắc lại càng đẹp và đam mê đến nao lòng. Với khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ, hoang sơ mà lãng mạn, mùa xuân xứ núi, tự nó đã vẽ nên một bức tranh tuyệt mĩ về sự sống và đưa ta phiêu du về một vùng đất cội nguồn thấm đượm màu huyền thoại….

Nếu như tản văn của các tác giả đến từ các thành phố lớn thường viết về sự tiếc nuối của những quang cảnh tự nhiên đã bị mất đi, về sự “chấn thương sinh thái” thì dường như ở Lai Châu, cảnh vật tự nhiên, vẻ đẹp thiên nhiên vẫn còn được bảo tồn. Cảm xúc thường thấy ở nhiều tản văn là sự ngợi ca, đắm say tha thiết trước khung cảnh đó. “Phải lang thang ở Mường Than, ngắm đàn cò bay thong thả và bầy trâu gặm cỏ tung tăng mới thấy yêu Mường Than đến nhường nào… Mường Than làm tôi say mê, yêu quý. Nơi này là cội nguồn tâm hồn khi tôi cạn kệt sức lực lại muốn trở về… Mường Than đã chuốc rượu ai chưa, mà sao ta say mãi một đời?” (Mường Than tôi yêu – Đinh Hồng Nhung)

Tản văn bằng cách riêng, cũng chấm phá, phác hoạ được văn hoá, lối sống sinh hoạt của các dân tộc thiểu số Lai Châu: Đặc sắc văn hoá miền sơn cước, Vòng xoè không tuổi, Màu thổ cẩm, Nhớ chợ phiên, Chè xuân Tam Đường, Dìu dặt khèn Mông, Bếp của mẹ, Bánh bò ơi (Phùng Hải Yến), Chợ rừng, Lốc cốc vó ngựa ngàn xanh, Trái còn tháng giêng (Hà Phong); Về nhà mùa lễ xíp xí, Chiếc phươn mây của bà (Thùy Giang)… Những văn hoá, tâm thức tộc người cũng được khắc hoạ: “Dù có đi đâu, làm gì thì trong tâm thức người Thái chúng tôi vẫn mong muốn được trở về nhà nhân dịp lễ Xíp xí” (Về nhà mùa lễ xíp xí- Thuỳ Giang); “Bếp lửa không chỉ mang hơi ấm đến gian nhà, còn là nơi giữ ngọn lửa sự sống qua từng thế hệ và cũng ở nơi này, các thế hệ miệt mài truyền lửa cho nhau” qua những câu chuyện cổ, những câu chuyện đời. (Bếp lửa vùng cao – Phùng Hải Yến)… Xuân đến trên bản mình chầm chậm thôi. Ở xứ sở này chẳng ai vội vã. Tết đến là khi lúa ngô đã ngủ im trong bồ nơi góc nhà, là khi củi khô đã chất đầy hai bên chái bếp. Thế rồi Tết đến thật thảnh thơi, thật yên bình. Như cái cách mà những người đàn ông núi ngồi uống với nhau bát rượu ngô gần đống lửa. Như cái cách những người đàn bà Mông, Dao… kiên nhẫn thêu từng mũi chỉ cho tấm thổ cẩm dài như năm tháng! ” (Khúc xuân – Thuỳ Giang)

Những tản văn về ẩm thực của người Thái Trắng Lai Châu dường như làm sống dậy cả hương, cả vị, khiến nhiều người đọc xong mà mong muốn sẽ có lần được thưởng thức. Hà Phong – một nhà văn chính gốc dân tộc Thái, am hiểu và thấm đẫm ở trong mình văn hoá dân tộc. Anh tự hào về văn hoá ẩm thực Thái. Anh viết về các món ăn dân dã của người Thái trắng với tất cả sự nâng niu, không xô bồ, phàm tục. Món nào anh cũng kể từ sự chuẩn bị kĩ lưỡng; rồi tả tỉ mỉ cách làm món ăn; thành quả món ăn có hương, vị, màu sắc như nào; ăn kèm với gia vị gì, cách thưởng thức ra sao… Mọi cái đều rất đẹp, rất chậm, rất khiến cho người đọc vừa khát thèm vừa trân trọng. Anh xa thương nhớ các món quê rừng: canh cà đắng thoảng hương gừng, măng đắng ăn ghém với lá phắc mạ; rau sắn trộn quả cà dại; ốc thu suối mường xào; hoa bí xào tỏi; xôi đồ lá nếp; bánh chưng đen núc nác; các món rong rêu… Bao nhiêu tên gọi là bấy nhiêu tình yêu của nhà văn. Chúng được tả cùng với tình yêu, cảm xúc háo hức, thương mến do mẹ hay người thân chế biến… Hà Phong phân biệt những nét rất riêng của món ăn dân tộc mình, không lẫn với cái gì na ná: bánh chưng đen thì nhân được trộn gia vị của rừng là thảo quả chứ không phải hạt tiêu, còn hạt gạo thì đã được nhuộm đen nhánh bởi bột than của cây núc nác (chứ không phải bằng gạo cẩm, hay nhuộm gạo bằng tro rơm). Món ăn người Thái có nhiều đồ đắng lắm nhưng vừa mới thấy chút đăng đắng trong miệng thôi đã lại thấy vị ngòn ngọt nơi cổ họng. Chà chà! Cảm giác dễ chịu hẳn. Những hương vị được miêu tả vừa chân thực, vừa trong cái nhìn trìu mến của tác giả: Thanh tao quyến rũ là hương nếp nương; mát dìu dịu là mùi lá dong; nồng nàn chứa chan là mùi thảo quả; phảng phất hương mật ứa của cỏ cây tươi sém lửa vào mùa đốt nương rẫy. Không it lần Hà Phong khẳng định: Chính cảnh sắc và tình người chốn non ngàn mới giúp cho món ăn có ma lực đến vậy. Rõ ràng món ăn ngon còn là ở tình cảm, tinh thần.

Cảm xúc của người thưởng thức luôn đầy trân trọng. Nhìn mọi người ăn, có cảm giác như đang thực hiện một nghi lễ ẩm thực. Những ngón tay trịnh trọng mở lọc phắc mạ ra, cẩn thận đặt vào đó một miếng măng, khéo léo cuốn cho lộc phắc mạ non tím hồng ôm trọn miếng măng tráng bóc, từ từ quệt vào bát đậu phụ nhự (Măng đắng, phắc mạ); Mỗi khi ăn, ta nhai chậm rãi như đang nhấm nháp vào kỉ niệm… Những món ăn dân dã thôn quê luôn là một phần kí ức của Hà Phong cho đến mãi sau này. Cho nên, anh hay nói tới “nỗi nhớ quắt quay”, “nỗi nhớ cồn cào”… Cả một trời kỉ niệm, cả một trầm tích văn hoá ẩn chứa dưới những hương vị đơn sơ – nhưng nguyên liệu đều của mảnh đất ấy, phù sa ấy, núi đồi ấy.

Tản văn Lai Châu còn phác hoạ nhịp sống kinh tế mới ở những nông trường trồng mía, chè, cam: Lao xao mùa mía chín, Hương cam Tam Đường (Thuỳ Giang); của việc hiến đất làm những con đường mới trong vùng nông thôn mới: (Thương nhớ dâu tằm – Thuỳ Giang), phát triển nghề thủ công truyền thồng: Chiếc phươn mây của bà (Thuỳ Giang), Nghề đan ghế mây (Phùng Hải Yến)… “Thấy nó (em trai tôi) được lên báo đài về mô hình dây chuyền sản xuất kinh doanh mía đường ở địa phương, cả nhà cũng vui lây. Em vừa tạo thu nhập cho gia đình, vừa tạo công ăn việc làm cho người dân trong làng, xã. Em cười xoà “em cũng là học từ bố mẹ mình ra cả mà”. Nó còn ấp ủ sản xuất những thương hiệu đường mía ogarnic xuất khẩu sang cả nước ngoài.” (Lao xao mùa mía chín). Hoặc những cảm xúc về sự những dòng sông, về sự ra đời của những thuỷ điện mới: “Tôi lên Lai Châu hơn mười năm nhưng mãi khi thủy điện Lai Châu khánh thành tôi mới có dịp đi thuyền trên sông nước ở vùng nước ngập từ Nậm Tăm đến Nậm Mạ nên chuyến đi này, tôi đã chuẩn bị cả tháng và rất tò mò, cơ hồ như là đi tìm lại kí ức tươi đẹp của tuổi thanh xuân mà mình bỏ quên đâu đó trên đường đời.” (Ngược dòng Nậm Na – Châm Võ)… Những cảm xúc trong cuộc chiến chống giặc covid cũng xuất hiện trong Từ ô cửa sổ (Thuỳ Giang), Trong ánh mắt có nụ cười (Nguyễn Hồng)… Những chuyện rất thời sự của Lai Châu đã có mặt trong tản văn, là cái “hiện tại” trong quá trình phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội của tỉnh nhà.

Và đặc biệt là qua tản văn, người đọc nhận thấy vẻ đẹp của tâm hồn, khí chất người miền núi. Đó là những con người tình cảm, đầy tình yêu thương với những người thân yêu. Họ còn mang trong mình sức sống mãnh liệt trước những khó khăn, biến cố của thiên nhiên, của cuộc đời “như khóm ngải tàn, khóm ngải lại lên xanh”. Hà Phong tự hào khi viết về con người núi qua hình ảnh hoán dụ “bàn chân”: “Bàn chân trần quê tôi bền, dẻo như sợi may rừng bắt đủ qua chín mươi chín ngọn núi đất mường… Bàn chân trần quê tôi cứng cáp như thân cây trai, cây nghiến, chống dựa lên cột, bão không đổ… Bộ rễ biết đi – bàn chân trần chính là minh chứng sinh động cho những huyền thoại về ý chí, nghị lực sống của người dân rẻo cao quê tôi.” (Bàn chân trần với niềm tin: khắc đi, khắc đến); Thuỳ Giang qua tản văn Lao xao mùa mía chín cũng khẳng định Những con người ở quê tôi cũng vậy, cuộc sống dù có khốn khó thế nào cũng âm thầm vượt qua… Những con người chân chất, thiện lành, cả một đời chiu chắt, hi sinh”; “Không phải nhành lan nào cũng đột biến, không phải ai cũng tham lam xấu xa như ai” (Những nhành lan không đột biến – Thuỳ Giang); “Con người bản ta an nhiên tự tại, chan hoà, nhân ái cũng tại bởi cái mùi hương này. Ai muốn nổi nóng chỉ cần hít một hơi thật sâu hoặc nhìn vào một nhành hoa là thấy lòng dịu lại” (Tháng Hai mùa hoa – Đỗ Thị Tấc)

Tất cả những vẻ đẹp của đất và người Lai Châu được miêu tả, biểu cảm một cách chi tiết, chân thực, đầy rung động. Điều đó chỉ có thể toát ra từ những tình cảm gắn bó sâu sắc thật sự, yêu thương, tự hào cùng với tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, và tài năng ngôn ngữ của tác giả. Không có trải nghiệm thực tế, không phải là cảm xúc thật sự tự đáy lòng, rất khó để sáng tạo được tản văn hay.

Sự hấp dẫn của tản văn, ngoài tình cảm sâu sắc của tác giả, còn là vẻ đẹp của ngôn từ, của những liên tưởng, so sánh sinh động, bất ngờ, mang đầy dấu ấn cá nhân. Bên cạnh đó là vẻ đẹp của nhịp điệu trong câu văn của tản văn. Câu văn mà như thơ. Bởi khi đọc lên, người ta thấy có âm điệu, nhịp điệu. Tản văn là thể loại nhẹ nhàng, dễ mang đến cho người đọc cảm giác thư giãn, dễ chịu.

Nhìn chung, tản văn Lai Châu dù đang trên đường phát triển nhưng luôn là thành quả kết tinh từ tình yêu của mỗi cây bút đối với mảnh đất Lai Châu này. Bằng những đóng góp cho diện mạo văn học của tỉnh nhà nói riêng, của nền văn học dân tộc nói chung, tản văn ngày càng khẳng định được giá trị của thể loại. Tản văn không còn là “những chuyện tản mạn”, “những chuyện vụn vặt” mà là một tiếng nói, một thông điệp của nhà văn, là một lao động nghệ thuật nghiêm túc, góp phần làm cho bức tranh văn học thêm đa dạng, hấp dẫn, đáp ứng được thị hiếu của nhiều kiểu độc giả. Tản văn là một thể loại, bên cạnh những thể loại khác như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ… góp phần làm nên diện mạo của văn học nghệ thuật trong thời đại mới. Lai Châu là mảnh đất miền biên viễn luôn đầy ắp những điều bí ẩn và hấp dẫn sẽ là cảm hứng cho những tản văn hay cho các tác giả trong và ngoài tỉnh. Hi vọng trong thời gian tới, tản văn Lai Châu tiếp tục phát triển với những “suy ngẫm rất sâu”, “tình yêu cực độ”, “đầy sáng tạo”, góp phần vào sự phát triển chung của dòng chảy tản văn hiện đại Việt Nam.

THUỲ GIANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *