Sử liệu Trung Quốc minh định chủ quyền Việt Nam

Vanvn- Đó là bộ “Hải ngoại kỷ sự” của một nhà sư Trung Hoa, ghi chép những điều tai nghe mắt thấy trong thời gian lưu lại Việt Nam từ thế kỷ XVII…

“Hải ngoại kỷ sự” gồm 6 quyển, do nhà sư Trung Hoa Thích Đại Sán (1633-1704) ghi lại trong thời gian đến nước Đại Việt theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) để hoằng dương Phật giáo xứ Đàng Trong, giai đoạn cuối thế kỷ thứ XVII. Bộ sách hiện nay được tàng trữ tại Đông Dương Văn khố Nhật Bản và Quốc Lập Trung ương đồ thư quán Trung Hoa (Đài Loan – Trung Quốc), là một sử liệu rất có giá trị, chứng minh 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Bộ sách “Hải ngoại kỷ sự” và chân dung nhà sư Thích Đại Sán

Cách đây gần 60 năm, năm 1963, “Hải ngoại kỷ sự” được giáo sư Trần Kinh Hòa giới thiệu và ông Nguyễn Duy Bột dịch sang tiếng Việt. Sách ghi chép rất nhiều sự kiện trong thời gian từ tháng 8 năm Giáp Tuất (1694), lúc nhà sư Thích Đại Sán tiếp sứ giả xứ Đại Việt tại am Trường Thọ ở Quảng Đông, đến tháng 11 năm Ất Hợi (1695). Những điều tai nghe mắt thấy được nhà sư ghi lại đầy đủ trong hơn một năm cư trú tại hai xứ Thuận Quảng. Trong đó, tác giả đã ghi lại nhiều sự kiện về lịch sử, địa lý, chính trị, phong tục ở xứ Đàng Trong tương đối chi tiết. Đặc biệt, có rất nhiều đoạn tác giả mô tả về quang cảnh biển Đông và 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của nước ta, như đoạn dưới đây:

“… Buông gió một chập vào đến vòng núi, ấy là đảo Tiêm Bích La (Cù lao Chàm). Dần dần thấy gò cao, rừng rậm, dần dần thấy nội phẳng đồng bằng; kìa so le mấy nóc nhà tranh; nọ phất phơ mấy cây cổ thụ; bãi cát trắng xóa bởi nước biển dội sạch, xa trông một vòng bạc sáng ngời, giống như bờ đê khước nguyệt. Nổ mấy phát pháo lớn, ra hiệu cho trong bờ biết có tàu đến nơi. Cửa biển vẫn chưa trông thấy, chỉ thấy trên mặt biển có một làn sóng dợn xa xa. Bỗng chốc, một lá buồm hình lưỡi rìu, từ phía mặt trời lặn chạy lại. Lúc đến nơi, trời đã nhá nhem tối, nhìn thấy một người trần truồng mang khố, đầu bới tóc có giắt lông nhím, răng đen, nói líu lo. Người ấy vì không phải phụng mạng mà lại, nên không dám lên tâu. Trên tàu có người muốn xuống thuyền xem chơi, người ấy cũng không chịu. Hai Phiên tăng, nguyên người nhà vua (tức chúa Nguyễn) sai sang Quảng Đông, ra hỏi chuyện, người ấy bèn thi lễ. Phiên tăng xuống thuyền, chạy đi thông báo với Quốc vương. Kế có một chiếc thuyền lại, có một viên quan cũng bới tóc đi chân không, canh đèn ngồi canh giữ không đi (…).

Rạng sáng, thuyền tứ phía chèo đến đông như kiến cỏ (…). Qua giờ Thìn, có 2 chiến hạm của nhà vua sai Quốc cậu đem ra đón, hai Phiên tăng cũng trở lại, thi lễ xong, lập tức giục xuống thuyền nói với Quốc cậu đang kính chờ trên thuyền. Vài mươi thủy quân võng ta xuống, nổi trống đồng, họ hát chèo đi…” (“Hải ngoại kỷ sự”, trang 129).

Đoạn văn trên cho chúng ta thấy duyên hải dọc theo Đàng Trong và các cửa biển Đại Việt thời ấy được canh phòng rất cẩn mật, cùng với việc tổ chức đi biển của ngư dân thời đó khá chu đáo, quy củ. Điều này chứng tỏ sự duy trì quyền lực trên biển của các chúa Nguyễn cai quản xứ Đàng Trong.

Ở một đoạn khác, tác giả kể rõ lộ trình nguy hiểm của tuyến đường biển quan trọng ngoài khơi biển Đông. Trong đó, xác định rõ khu vực hải phận Đại Việt vì nơi đây có một số đảo lớn nhỏ nằm ngoài khơi vùng biển của xứ Đàng Trong. Các đảo này đã được người Việt xử lý dưới nhiều hình thức. Tác giả viết: “… Có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành. Bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là Vạn Lý Trường Sa mù tịt chẳng thấy cỏ cây, nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước tấp vào, dù không tan nát thì không gạo, không nước cũng trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Thời Quốc vương trước (tức chúa Nguyễn Phúc Thái), hằng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư tấp vào. Mùa thu nước dòng cạn, chảy rút về hướng Đông, bị một ngọn sóng đưa đi, thuyền có thể trôi xa cả trăm dặm. Sức gió chẳng mạnh, sợ có hiểm họa Trường Sa” (trang 125).

Đặc biệt, có những đoạn mà nhà sư cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa là nơi rất nguy hiểm đối với tàu biển, đồng thời cho chúng ta biết được khả năng của thuyền cá Việt Nam thời đó lợi hại như thế nào trong việc ra khơi của họ: “Qua ngày 30, đánh thanh la nhổ neo. Mấy mươi chiếc điền cô (thuyền đánh cá) cột dây dắt thuyền ra cửa (…). Gió Nam thổi dịu dần, thuyền chạy vát tới vát lui, chẳng tiến được bao nhiêu. Bỗng chốc mưa lớn, gió Bắc thổi mạnh, thế không chạy tới được. Cả thuyền đều lo ngại vì quãng đường Trường Sa (bãi cát dài). Hồi lâu, phía Đông Nam, một trận gió bão nổi lên, đêm tối mây mù, ngửa bàn tay chẳng thấy. Mọi người đều sảng hồn, mường tượng trông thấy rồng bay múa hai bên thuyền. Ước chừng một canh, rồng bay đi. Khoảng đường gió Bắc thổi đi nãy giờ, trong giây phút đã thấy thuyền trở lại chỗ cũ. Sau cơn mưa, màu trời sắc biển sáng suốt gần xa (…).

Sáng ngày, mây tạnh trời quang, xa xa trông thấy ngấn núi, cách chừng vài mươi dặm, vẫn thấy đảo Tiêm Bích La. Theo gió xuôi vào sơn cảng, người trong thuyền đánh trống tạ thần, đều giơ tay lên trán mà nói rằng: “Thực là sống sót” (trang 160-161).

Thực tế cho thấy việc “sống sót” và tránh được thảm họa của chiếc thuyền chuyên chở nhà sư chính là do tài nghệ lái thuyền lão luyện và lòng can đảm của những ngư dân nước ta thời đó.

Có thể nói rằng những mô tả, ghi chép rất chi tiết trong “Hải ngoại kỷ sự” của nhà sư Trung Hoa Thích Đại Sán là sử liệu minh định chủ quyền Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả các sự kiện được nhà sư này xâu chuỗi cũng chứng minh rõ nét việc hành xử chủ quyền của người Việt trên 2 quần đảo này, chậm nhất là vào thế kỷ XVII.

6 quyển đều nhắc đến chủ quyền Việt Nam

Mặc dù nhà sư Thích Đại Sán chỉ đi ngang Hoàng Sa, Trường Sa 2 lượt đi và về nhưng phải nói rằng ông đã mô tả rất rõ 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ Đại Việt lúc đó. Đó là bằng chứng hiển nhiên không thế chối cãi được. Cũng cần nói thêm sách “Hải ngoại kỷ sự” gồm có 6 quyển, viết về nhiều vấn đề của 2 xứ Thuận Quảng mà hầu như không có quyển nào tác giả không nhắc đến các hải đảo thuộc 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên lãnh hải Việt Nam…

TÔN THẤT THỌ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *