Sọ đầu mới vỡ lẽ đời

Vanvn- Nhiều người đã viết về Tào Mạt, nhưng để hiện ra cái chân dung vừa văn vừa đời của soạn giả sân khấu lớn Tào Mạt có lẽ chỉ dưới ngọn bút của nhà văn già Võ Bá Cường sinh động và nhiều chi tiết đắt. Ở đây chân dung chính là Tào Mạt được đan xen với những nhân vật khác tạo ra một bức tranh tương đối hoàn chỉnh không chỉ Tào Mạt mà còn ra cả cái không khí của một thời chưa xa – Cuộc sống của một thời mà nhiều văn nhân thời xa xăm ấy trải qua…

Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt (1930 – 1993)

Tào Mạt những năm cuối đời bệnh nặng, luôn phải nằm điều trị ở Quân y viện 108. Ông mắc chứng nan y, thân thể nảy nhiều hạt từ quai hàm bên trái trở xuống tới khe háng. Nhọt mụn nở dần như hoa súp lơ, rỉ nước xanh. Những ngày ấy ông vật vã đau đớn, không rên rỉ… Thuốc men thật hiếm, muốn kiếm mấy ống thuốc giảm đau cũng khó.

Nguyễn Diên là bạn tâm giao, chiều nào cũng đến bên giường bệnh nhìn Tào Mạt ứa lệ. Nguyễn Diên là một nhà điêu khắc có tài làm thơ, ông đã in một tập thơ, thi phẩm này được bạn bè nâng niu thích thú. Nhà Nguyễn Diên ở phố Hàng Bún, cách nơi ở của Tào Mạt (phố Lý Nam Đế) độ vài trăm mét. Thường thì Tào Mạt mỗi lần sang “Long thành lậu ốc” (cái nhà dột ở thành Thăng Long) nơi Nguyễn Diên trú ngụ, lần nào cũng mang theo gói nem mua của cô gái làng Phùng ngồi bán cuối Hàng Bún. Có lần tiền nhẵn túi phải mua chịu, cũng có lần nể vị khách hàng quen lại biết ông là tác giả bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước mà cô thích vai Hề hoạn nên biếu luôn ông. Gói nem bọc lá chuối khô, to bằng quả bưởi còn thơm mùi thính, lại có vị “hương thổ” và tài nghệ của người làng Phùng chế biến nên được cánh “tửu đồ” ưa thích. Nem mềm, ngồi nhấn nhá từng miếng bì, miếng mỡ, tí thịt nạc vừa đảo, tất cả gợi lên mùi vị xa xăm quyến luyến. Nem là một món không thể thưởng thức theo kiểu “hổi lùng” (ăn nhanh) hợp với cánh nhậu túng tiền. Có nắm nem rồi, lúc qua số 4 Lý Nam Đế thế nào ông cũng ghé vào hái lá đinh lăng ăn kèm. Cuộc nâng lên đặt xuống mỗi lần tới hai ba giờ sáng vua chèo mới khụng khiệng trở về, nách không quên cắp chai nút lá chuối.

Căn nhà dột có cái tên rất hay và đẹp là do các vị nghệ sĩ đến uống rượu, lúc ngẫu hứng đặt cho nó, kỳ thực đấy chỉ là cái ga ra ô tô của một bác sĩ thời Pháp bỏ đi Nam, Nguyễn Diên có cơ hội kiếm được, đưa vợ con túm năm tụm ba đến ở. Cách đây vài năm đã chuyển sang Hoàng Cầu, căn nhà đó nhường lại cho người khác. Đằng sau “Long thành lậu ốc” là nhà vệ sinh (nay không còn nữa) thế mà lúc “bốc” lên mấy vị còn cho nó cái tên sang trọng “Vạn đại chi tụ tinh”. Nơi tụ tập nhiều bạn hữu tinh hoa của các thế hệ như Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Lưu Công Nhân, Bùi Quang Ngọc, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Sao Mai và các văn nghệ sĩ tài hoa lớp trẻ thời chống Mỹ, trong đó có thi sĩ Nguyễn Mỹ “Cuộc chia ly màu đỏ”.

Dịch giả Nguyễn Tiến Đoàn, người trong dòng họ Nguyễn Diên, lớp con cháu cụ Nguyễn Mậu Kiên người Động Trung, Kiến Xương, thuộc dòng họ danh sĩ anh hùng thời chống Pháp, kể lại: “Trong cuộc rượu đêm trăng, sau khi nghe Nguyễn Diên đọc bài thơ mới viết ‘Xuân nhật thính cầm’ bằng chữ Hán rồi tác giả tự dịch: Mười năm đứng đợi bên lầu vắng/ Một sớm xuân rơi nửa tiếng đàn/ Gió đến lay tường sương bạc mái/ Tầm Dương nổi sóng giữa Tràng An. Tào Mạt mắt long lanh nhìn Nguyễn Diên, ông với tay lấy miếng gỗ dán viết mấy chữ, treo lên tường ngắm nghía. Chữ viết theo lối cuồng thảo, phóng túng: ‘Vi nhân giả dĩ đại sự tiểu’ (người có nhân nghĩa lấy cái lớn phục vụ cái nhỏ). Mấy hôm sau chẳng biết xuất phát từ hoàn cảnh nào, với sự rung cảm thật sự, ông viết bài ‘Ngẫu đề’ đến tận nhà Nguyễn Diên đọc to:

Bản thị văn chương bất tụng quyền

Đao sơn kiến thụ diệc như nhiên

Châu kiềm kim tưởng tương hà bổ

Chỉ phạ tâm thư tảo thất truyền

Ông coi Nguyễn Diên lấy nghiệp văn chương làm gốc, người không thích nắm quyền lực. Trước núi dao rừng kiếm vẫn thản nhiên không sợ. Tào Mạt chỉ lo quyết tâm của Nguyễn Diên có truyền lại được hậu thế không?”

Nắng vàng đã lụi, chỉ còn tiếng gió thu. Nguyễn Diên lững thững vào viện. Chân ông bước vẻ buồn chán, trễ tràng, ông luôn nhớ đến nhiều điều ở Tào Mạt, không phải chỉ trong nghề nghiệp mà ở thái độ sống… Câu chữ của Tào Mạt trong vở diễn cứ như rút ruột mình ra, cốt sao phản ánh cho được lòng yêu nước, ý thức công dân, tinh thần nhân văn sâu sắc, nhuần nhuyễn giữa hiện thực và yếu tố dân gian. Quanh giường ông, vợ con bè bạn quây quần với bao gương mặt khắc khoải. Trông thấy Nguyễn Diên bước tới, Tào Mạt khẽ đưa tay với Nguyễn Diên lại gần cố nói: “Lần này chín chín phần trăm em không ở lại được với anh, em làm bài thơ tuyệt mệnh, chỉ đọc cho mình anh nghe. Sợ anh không đến kịp. May anh tới, anh lấy giấy chép giùm em bài thơ cuối cùng đời người cầm bút. Bài thơ này chỉ anh mới dịch được. Mà em tin chỉ có anh mới dịch nổi, vì anh là người hiểu em”.

Người Tào Mạt oằn lên, co lại, câu chữ đứt nối trong hơi thở gấp, có chữ Nguyễn Diên phải ghé tai hỏi lại. Chép xong, Nguyễn Diên đọc:

“Văn niên đại tài đại giác

Bách tuế lạc chư kỳ

Thống bệnh thùy năng trợ

Anh như tiếu tự tri

Lục thập nhất bất thụy

Song ngoại thiên câu phi

Thu phong khổ diệp lạc

Tương thưởng diệc tương hi”

Tào Mạt mắt hơi khép lại như để cảm nhận câu chữ viết ra, lặng lẽ mỉm cười. Tấm lòng trong sạch của ông như tự chiết ra những câu thơ lúc sắp mất. Như đã thấu hiểu được nhau. Thơ ông muốn nói chỉ có đến tuổi già mới có “Đại giác”. Biết thế dù có chết cũng vui vẻ về với đất. Đâu có ai giúp được mình? Cuộc chạy đua với cái chết thật vội vã. Bao nhiêu điều cần phải hỏi, phải nói… tóc tơ, tơ tóc cần được giãi bày, bao sự dồn nén cả cuộc đời long đong chìm nổi trong sự biến động xã hội thực hư hay dở diễn biến khôn lường. Vì thế ta thản nhiên cười, giữ vững tinh thần, sáu mươi ngày nay ta không ngủ được. Ngoài kia thời gian đi như nghìn ngựa khỏe. Gió thu rụng lá khô. Ta thưởng ngoạn cảnh đó, cùng than thở với cảnh đó. Chả vậy 1991 ở Hà Nội, ông tự phóng bút đùa mình: “Kẻ ngu này thanh sạch, nghèo nàn, chẳng thể xa xỉ. Đương nhiên chỉ có cơm thô, chè tươi, mũ vải, giày cỏ, áo bông, còn gió mát trăng thanh thì hưởng nhiều nhất”. Nước mắt Nguyễn Diên nhòe nhoẹt, hiểu Tào Mạt cả đời gửi thân cho nghệ thuật. Đấy cũng là một “cuộc chơi”. Thế mà sáu mươi ngày nay không khép nổi mắt, chỉ làm bạn tiếng lá bay và gió thu thổi ngoài cửa. Cùng tiếng hát, tiếng cười giữa thầy trò. Lúc còn sức, Tào Mạt vẫn nhúc nhắc đứng lên nằm xuống. Nhưng rồi anh phải chịu thua, bệnh tật nằm liệt. Đôi mắt sâu, lòng sáng, tiếng nói sang sảng giấu kín nỗi xót xa từ đáy lòng, trong con nguời có lý tưởng, tự do, nhưng cũng hết sức kỷ cương, khuôn phép; không để lại cái tiểu danh, cái phù phiếm làm hại đến ý chí mình. Con người tài hoa minh triết sắp đi rồi. Nguyễn Diên đi lại, lắng từng hơi thở thoi thóp của bạn. Bỗng đầu ông xuất thần hai câu:

“Sọ đầu mới vỡ lẽ trời

Trăm năm tròn một vành chơi thì về”

Hai câu thơ Nguyễn Diên dịch toát lên ý nghĩa sâu xa tinh thần của toàn bài. Còn phải nói thêm gì nữa? Tất cả cũng bằng thừa. Ôi! Chữ “sọ đầu” cho ta thấu lẽ trời. Tuổi trẻ ai sớm phát lộ một chút cứ tưởng mình đã thâm sâu! Đâu phải! Chỉ khi nào rụng hết tóc lông da đầu mới có “Đại giác”.

Cái “vành chơi” tròn một trăm năm ấy, nhưng mấy ai đã sống nổi trăm năm. Cụ Nguyễn Du đã tổng kết bốn chữ “vành” của ngón nghề chơi trong Truyện Kiều, những cung bậc hoàn cảnh khác nhau để ta suy ngẫm.

“Thiếp như hoa đã lìa cành/ Chàng như con bướm lượn vành mà chơi”, hay “Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai…” Chữ “vành” nó như vòng “kim cô” đóng trên đầu con người. Thế thì Tào Mạt đã đủ một vành chơi chưa?

Đủ rồi! Đủ một vành đời trong cuộc thế đầy nước mắt và im lặng… Nhưng nhân dân thấy nó bật lên được tiếng oan khuất của đời trong vai Hề hoạn.

Tào Mạt tên khai sinh là Nguyễn Văn Thục, ông sinh năm Tân Mùi (1931-13/4/1993), quê tại xã Hữu Bằng, Thạch Thất, Sơn Tây. Khi mới nghe tên ông, ai cũng tưởng ông ở bên Tàu. Theo ông Nguyễn Ngọc Trìu, nguyên Phó thủ tướng kể lại cho tôi nghe chính Tào Mạt kể tên mình như sau: “Lúc còn nhỏ đọc nhiều truyện trong Sử ký Tư Mã Thiên, Đông Chu liệt quốc… thấy nhân vật viên tướng nước Lỗ tên là Tào Mạt thời Xuân Thu cầm chùy đe dọa Tề Hoàn công trong cuộc hội thề để đòi lại mảnh đất của nước Lỗ đã bị nước Tề chiếm. Với lòng mến mộ ấy nên ông lấy bút danh là Tào Mạt…”. Ông kể với vị Phó thủ tướng chuyện ấy lúc tên tuổi nghệ sĩ đang nổi như cồn trên sàn diễn. Nhưng ông bị “lườm”. Nhiều lúc buồn, ông ghé vào chỗ ông Trìu uống rượu, xô hết bàn ghế, tự mình diễn vai Hề hoạn. Diễn hát xong, ông ngồi xuống ghế thở, nói với ông Trìu: “Người ta bắn tin hỏi tôi, Lý Thường Kiệt là ai? Lê Văn Thịnh là ai?” Tào cười đau khổ: “Đấy là hai nhân vật trung và nịnh ở thế kỷ XI”. Khi vở diễn đến đoạn chôn anh Hề hoạn, họ lại hỏi: “Sao anh cho chôn Hề hoạn?” Tào Mạt tròn mắt: “Tôi không làm việc ấy. Lê Văn Thịnh chôn đấy chứ. Vì lão ghét Hề hoạn, sợ anh hề nói thẳng”. Khi Hề hoạn hỏi mấy người chôn mình: “Ông chôn tôi vì tội gì?” Họ trả lời: “Tội của ông là quá tin người, không biết uốn lưỡi. Việc như thế mà đi nói với quan thái sư. Chết là phải! Kiếp sau nếu làm người phải tập cho cái lưỡi nó dẻo một tí”. Nỗi đau nhỏ máu còn lưu lại ở cuộc chuyện của “vua chèo” với cụ Ninh. Bên chén trà mạn mấy câu thơ còn lưu lại trên tạp chí Sông Châu:

“Tuổi chín mươi cha hát ca trù,

Bác Tào Mạt, bác Chu Văn ngồi gõ nhịp

Ấm trà sen đầu xuân thơm ngát

Hương đồng dâng ngào ngạt lời ca.”

Nghe đọc lời thoại ấy, lòng hậu thế thấy đau khôn xiết. Thật! Mấy ai đã hiểu được lòng nghệ sĩ. “Người hát cho ai? Hát với ai?/ Mênh mông nắng rộng trải sông dài/ Áo cơm ví nhẹ như thuyền nước/…”

Tào Mạt người cao gầy với bộ quân phục bạc màu, thường đạp xe từ Hà Nội về Nam Định chơi với nhà văn Chu Văn coi cơm áo nhẹ như nước chảy. Có lần qua đấy Tào Mạt đã hỏi mượn cụ mấy đồng để độ đường và hẹn hôm nào Chu Văn qua trả hộ. Ông là khách uống trà thường xuyên của cụ Trưởng 1982, mười năm sau (1992) Tào Mạt về Đồng Văn lần cuối nhắp chén trà cùng cụ Trưởng, ngắm lại bộ chữ mà ông đã phóng bút tặng.

Cảnh chôn Hề hoạn hay đến nhường nào, đau đến tận cùng xương cốt người xem… Hề hoạn bị đất lấp kín nhưng sự thật cũng bật đứng lên từ đó, nó phơi bày bao nỗi oan khiên của cõi người. Ông mất lâu rồi, mất sau khi người ta chôn Hề hoạn. Người dân quê ông thường kể với nhau: “Đêm đêm họ gặp ông ở cánh đồng Thạch Thất với tiếng hát chèo văng vẳng. Họ nghe một lúc biết cảnh Hề hoạn bị chôn. Nhìn lâu giữa cánh đồng, ánh trăng, có người cao lớn đang múa. Đấy chính là Tào Mạt. Ông và Hề hoạn vẫn còn sống với dân tộc mình, với dân xứ Đoài mãi mãi”.

Ông vua chèo đi đến đâu cũng được mọi người tôn vinh. Người ta chào đón ông như đón nhân vật trong Đường về trận địa, trong Nguyễn Viết Xuân, trong vai anh Hề hoạn ngâm thơ trên dòng sông Như Nguyệt “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…” của Lý Thường Kiệt. Vai diễn của ông thật hoạt, bao điều ông nói ra thông qua nhân vật. Những điều ấy, người khác ít ai dám nói. Những câu hát, lời thoại của anh hề rớt nước mắt. Đó là một khó khăn trong “cõi” người là nghệ sĩ phải giải quyết có tình, có lý chứ đâu nói cho “sướng miệng”. Những nhân vật của Tào Mạt đứng giữa “triều chính” thời nào cũng dõng dạc nói lên điều chính nghĩa.

Tôi (VBC) vinh dự được gặp ông đôi ba lần ở Thái Bình, Nam Định, và số 4 Lý Nam Đế vào đầu năm Nhâm Thân tại phòng của nhà văn Nguyễn Khắc Trường. Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thấy vợ chồng tôi lên, tự tay nấu nồi mì tôm thật to lẫn với rau muống lễ mễ sang phòng anh Trường đãi khách với đĩa trứng cá chép kho thật mặn. Sắp đặt xong, tôi muốn gặp nghệ sĩ Tào Mạt và gạ gẫm được xem vai diễn anh Hề hoạn mà tôi thích. Nguyễn Đức Mậu đi ngay. Lúc sau đã thấy người nghệ sĩ đáng kính vai khoác túi vải thô, bên trong là bộ bút lông thoăn thoắt bước vào. Nhấp xong chén rượu, ông nhập hồn nhập cốt vai diễn rồi hát múa cho anh em tôi xem. Lần ấy ông còn rút bút cho tôi bộ chữ, tôi lồng khung kính treo giữa phòng viết mấy chục năm nay, cảm thấy như ngày nào cũng gặp Tào Mạt. Bệnh ông những ngày ấy rất hiểm nghèo. Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ghé tai tôi nói nhỏ: “Hàng ngày vợ ông phải đi bán mấy quả trứng vịt luộc ở chân cột đèn phố Nhà binh lấy tiền thuốc thang cho chồng”. Vợ tôi nhìn ông một cách cung kính, nước mắt rân rấn bỏ chạy xuống đường phố mua biếu ông “vua chèo” mấy gói bánh bích quy. Lúc ấy nó là thế! Khó khăn là thế!

Sau này tôi có tìm hiểu ông “vua chèo” với Bài ca giữ nước được biết. Đầu năm 1979, Tào Mạt đến thăm thầy Đặng Thai Mai, câu chuyện đang vui, thầy Mai chợt nghiêm sắc mặt nói:

– Tôi già yếu lắm rồi. Anh vẫn còn ở bộ đội chứ?

– Thưa thầy, còn ạ.

– Mấy chục năm nay nhân dân ta coi quân đội là trường học lớn. Người ta gửi con em vào đó để rèn cặp nên người, bây giờ có nơi cán bộ đánh chiến sĩ, anh có thấy nhục không?

Tào Mạt cúi đầu:

– Thưa thầy con không làm tướng. Thầy nói con xin nghe. Để con nghĩ cách nói.

Cách nói ấy của ông đã gửi gắm ý tình vào đời những nhân vật trong bộ ba chèo Bài ca giữ nước một cách hợp lý. Ít ai biết rằng lời mắng mỏ đó của thầy Đặng lại nảy mầm, thành bộ ba vở chèo từ hôm ấy… (trong Người khai lưu dẫn lộ của Tào Mạt).

Ông tự nhận mình là người lam lũ thất học, mới hết dự bị (Cours Pre Patatore) bằng lớp hai bây giờ. Đến năm 1957, học “ké” lớp kịch nói ngắn hạn số nhà 50 Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chín tuổi theo bố đi quét nhà cho một nhà quan có bốn cổng tám hướng, mười một nóc nhà lớn nhỏ. Trong dinh cơ bát ngát treo đầy hoành phi câu đối, chạm trổ sơn son thiếp vàng, ngai thờ, đỉnh đồng, chóe sứ đèn hoa… các loại chữ bề thế, đục chìm khắc nổi, đủ kiểu thư, thảo, triện… cả những chữ li ti các lạc khoản rất dài.

Công việc lau rửa đồ quý khiến mắt ông được làm quen với rồng phượng, chim chóc các loại. Thiên nhiên thật và thiên nhiên cách điệu luôn bày ra trước mắt ông. Nói như vậy tuổi thơ ông đã lạc vào con đường văn chương nghệ thuật.

Ông thường kể với mọi người một cách tự nhiên về tuổi thơ, không phô trương khoe mẽ, không che giấu sự thật, cũng không tô điểm cho mình. Trước mắt mọi người, Tào Mạt hiện ra giản dị chân thật cả về bút pháp lẫn lối sống. Những nhân vật của ông hư cấu một cách sáng tạo nhất làm cho người xem khoan khoái, trước điệu hát lời thoại thật sự cuộc sống, sinh mệnh con người ông thường gặp.

Người xem vở diễn của ông bất cứ trình độ thấp đến đâu cũng không chán. Với các vị chính khách, khi màn kịch đóng, đèn bật sáng nhìn Tào Mạt thấy vị nể. Câu chữ ông vẻ hoài cổ, nhưng không lạm dụng vào chữ Hán. Lời văn gọn, dễ hiểu, đậm tính dân tộc. Ông bảo “Diễn cho dân chúng xem, miễn sao cho dân chúng thích”. Tào Mạt sinh ra và trở thành con “ma chèo”. Hề hoạn có thật hay không? Nhưng tôi nghĩ, thời đại nào cũng có hề. Hề hoạn ơi! Người là một tấm gương sáng về nhân cách cho mọi kiếp phận con người phải soi vào. Mong hề sẽ đầu thai vào hậu thế để nhắc nhở đời sau mà Tào Mạt là người minh oan cho hề đấy!

Lúc mất, người bạn tâm giao đã làm đôi câu đối tiễn ông:

HỮU SỞ ĐẮC ĐẠO TÂM, VỆ QUỐC CA TỪ TIÊU HI SỬ

TỐNG QUÂN HOÀN ĐẠI TẠO, ĐOẠN HỒN TRƯỜNG THẦN DIỀU KHỐNG THIÊN.

Đúng, anh có tấm lòng đắc đạo, gửi vào Bài ca giữ nước, nêu cao vai trò lịch sử của hề. Tiễn anh về cõi tự nhiên, hồn tôi như đứt ra chỉ biết thở dài.

Vai hề của Tào Mạt có giá trị rất cao trong đời sống văn hóa, nó nêu cao lịch sử Hề chèo Việt Nam.

Tào Mạt lúc sống trong nỗi đau nhân thế, lúc già yếu trong nỗi đau bệnh tật, nhưng người nghệ sĩ nhân dân ấy là một ngọn lửa, không dễ ai làm tắt được.

VÕ BÁ CƯỜNG

Tác phẩm dự thi Chân dung cuộc sống

Tạp chí Nhà Văn & Cuộc Sống, số 9/2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *