Seo Sơn – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 3

Vanvn- Anh mải mê ngắm nhìn bầu trời đầy sao, những ngôi sao nhấp nháy, có ngôi thấp, ngôi cao, ngôi thấp thì sáng, ngôi cao thì mờ. Trong các ngôi sao đó, có những ngôi chưa kịp rọi ánh sáng xuống mặt đất đã tàn, có những ngôi lung linh tỏa sáng bất chấp thời gian. Người ta nói mỗi ngôi sao là một linh hồn của một người, không biết có thật thế không?

>> Tiểu thuyết Seo Sơn: Từ thực tế đến trang sách

>> Seo Sơn – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 1

>> Seo Sơn – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 2

40

Nhà Tấn Phong năm nay đón tết trong không khí ảm đạm. Vân Thục lên giao hàng chuyến cuối cùng trong năm đến chiều hai chín mới về, mặt xầm xì, chẳng thiết sắm sanh, làm lụng, tết nhất gì cả.

Lần lên giao hàng lần này Vân Thục không gặp được Sán Lùng. Những người trong công ty nói rằng Sán Lùng bị một căn bệnh gì đó nặng lắm, đang được điều trị ở bệnh viện dưới Hà Nội. Vân Thục muốn đi thăm nhưng tết nhất đến nơi rồi không kịp thời gian. Vân Thục nhủ ra giêng bằng mọi cách sẽ đi thăm Sán Lùng. Có lẽ bây giờ chỉ còn Sán Lùng là người thương yêu Vân Thục nhất và Vân Thục cũng chỉ còn Sán Lùng là niềm mong đợi tin yêu mà thôi

Cửa hàng Vân Thục vẫn đông người chen mua sắm tết. Hoa quả, bánh trái, mứt chè, rượu thuốc vẫn ê hề, bán đi, nhập vào không ngớt. Xuân cùng các nhân viên vẫn líu ríu chen chân trong dòng người buôn bán. Tất cả tưởng chừng đủ đầy sung mãn, nhưng trong lòng Vân Thục vẫn trào lên nỗi tủi hổ khôn cùng.

Từ ngày mất chức chủ tịch xã Tấn Phong như cái bóng vật vờ, tàn lụi. Trong nhà vẫn là phòng khách với sập gụ, tủ chè, sa lông như cũ, nhưng đã thay đổi hết cả. Trước đây, chỉ những người có chức vị mới được long trọng tiếp đón ở đây còn bây giờ nhường lại cho những kẻ leo queo, mặt lúc nào cũng cúi xuống, nhưng mắt thì đảo như rang lạc. Họ thoắt ẩn, thoắt hiện và ra hiệu cho nhau nhiều hơn là nói.

Họ đến với nhau không vì chén rượu, cuộc cờ, không vì ấm chè đàm đạo. Không nói chuyện ăn làm, tình dân nghĩa bản, lúa má, lợn gà, xuân về tết đến. Họ chỉ đến với nhau bằng thuốc, những điếu thuốc Tám Một đầy ma lực và hấp dẫn.

Tấn Phong sau khi nghỉ được Đỗ Pháp giao cho quản lý và bán thuốc Tám Một đỏ cho Đỗ Pháp tại nhà. Theo lý lẽ của Đỗ Pháp nơi chân đèn là nơi tối nhất, ít người  có thể nghi ngờ. Kho thuốc được bố trí ở một nơi bí mật, gần như không ai biết.

Bạn hàng của Tấn Phong ở Seo Sơn cũng đã có đến đôi, ba chục người, đa phần là đám thanh niên từ choai choai đến lưng lửng tuổi, ở khắp các bản trong xã.

Những kẻ đó đầu tiên là đến bán chè cho Vân Thục. Những bao chè tuy bẩn về chất lượng nhưng lại bán được nhiều tiền. Làm ra thì chẳng tốn bao nhiêu, nhưng thu về thì rủng rỉnh, khiến bọn họ đua đòi, nay lon bia, mai bao thuốc. Rồi được cánh bảo vệ cửa hàng của thằng Chi rủ rê, lôi kéo vào động của Tấn Phong, nghiện Tám Một đỏ lúc nào không biết và không dứt ra được. Thế là trở thành những kẻ vật và, vật vờ, lúc có thuốc thì nhanh tay, nhanh mắt, lúc hết tiền thì nhanh mồm, nhanh miệng. Gặp người không nghiện thì huyên thuyên, nhưng gặp bạn bè cùng nghiện thì toàn ra hiệu thay cho lời nói. Người ta bảo nói dẻo như con nghiện là vì thế.

Vân Thục biết điều đó hơn ai hết. Biết đó là tội lỗi và tăm tối mà chưa biết cách gì thoát ra. Nhiều lúc Vân Thục muốn tung hê tất cả để trở về với cuộc sống ngày xưa, dù có thiếu thốn, độn cơm, vá áo nhưng trong sạch, ấm áp nghĩa tình mà đâu có được nữa. Lối về của Vân Thục đã bị bít chặt.

Tấn Phong lắm lúc cũng buồn khi nhớ lại thời hoàng kim của mình, khi ấy nói  người ta phải nghe, đe người ta phải sợ. Chữ nghĩa trong đầu chẳng có bao nhiêu nhưng bằng cấp thì đúc chật túi. Lượm lặt được ba cái lý luận nhì nhằng nhưng hễ đứng trên bục thì thao thao bất tuyệt, “giang tay giảng giải huyên thuyên, những điều mờ mịt nơi miền mung lung” ra chừng thông thái lắm, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu.

Khi bị thất sủng và bị Nguyễn Uyên tiếm quyền vì nghiền Tám Một đỏ, bị bỏ đói thuốc, Tấn Phong đã bán linh hồn cho quỷ dữ, về làm anh bán thuốc. Cái nghề này tuy vụng trộm nhưng nhiều lúc cũng oai ra phết. Nói thì chẳng nói được ai, nhưng đám đệ tử khách hàng lúc đói thuốc sợ một phép, bảo gì làm nấy, cấm có dám cãi lời, miễn là có thuốc hút, giống y như Tấn Phong trước Nguyễn Uyên ngày nào vậy.

Xuân về tết đến, khắp nơi dân bản nô nức chơi xuân, riêng Tấn Phong thẫn thờ ngồi bên bàn thỉnh thoảng mồi điếu thuốc, hít cho hết khói. Sau mỗi lần như thế, tinh thần ra chiều sảng khoái, miên man trong thế giới phù du mộng ảo, quên cả việc đời. Tiền mua thuốc vốn chẳng phải lo. Mua một bán năm, lãi cộng vào bởi chục đệ tử là đủ cho Tân Phong hút đêm hút ngày, dư dả thoải mái, mà ở đây những hai ba chục đàn em, cứ thế này bao giờ Tấn Phong mới hết thuốc hút.

Đời thì thây kệ, giỗ chạp cúng bái, hương khói tổ tiên Tấn Phong mặc kệ Vân Thục lo toan. Người sống còn chẳng ăn ai nữa người đã thành thiên cổ. Cưới xin, mời mọc, hàng xóm láng giềng Tấn Phong cũng chẳng quan tâm đến. Cùng đời ai cũng chỉ hai vuông tha ma nghĩa địa bằng nhau tất cả, có kèn trống hay không thì cũng vậy, vẫn phải đem chôn, chẳng lẽ để đấy mà ngửi à. Ăn mày hay tỷ phú thì cũng cùng là một, nào ai có hơn ai. Nghĩ thế thành ra Tấn Phong cũng chẳng bận tâm gì nhiều cho nặng lòng, miễn sao người đời ngày đỏ lửa ba lần, còn Tấn Phong đủ thuốc hút là được.

Lâu nay vợ con Tấn Phong ai làm gì thì làm, đi sớm về khuya, Tấn Phong cũng mặc, chẳng có nghĩa lý gì đối với Tấn Phong cả. Chưa đến nỗi “của anh anh mang, của nàng nàng xách” nhưng mọi sự cũng đều như là nghĩa vụ, chẳng lẽ thấy nhau không nhìn, gặp nhau không hỏi. Tấn Phong biết giả như Tấn Phong có mệnh hệ gì, nhắm mắt xuôi tay thì tiếng khóc của vợ con cũng chỉ là giả dối, khỏa lấp cho sự thanh thản, mừng rỡ ở trong lòng. Lòng tin trong Tấn Phong đã bị Tám Một đỏ làm cho cạn kiệt.

Căn nhà vượng khí ngày nào giờ chỉ còn lại hình hài trông như sang trọng, chứ thực chất đã mục ruỗng hoàn toàn.

Vân Thục sau bữa cơm sớm mùng một Tết, uể oải lên gường nằm. Nỗi chán chường như tràn ngập trong lòng, âm ỉ gặm nhấm tâm tư khiến Vân Thục không còn hơi sức đâu mà nghĩ đến mùa xuân và tết nhất nữa.

Đám nhân viên cửa hàng chiều ba mươi Tết mỗi người lĩnh một cục tiền lương, kéo nhau về gia đình cả. Hai đứa con Vân Thục được nghỉ Tết, sau khi thờ ơ nhận tập tiền lỳ xì từ tay mẹ, chán cảnh u ám ở nhà, mắt trước mắt sau đã lỉnh đi xem ném còn, đánh đu và chàm đuống ngoài những thửa ruộng bậc thang cùng đám thanh niên và dân bản, mặc kệ bố mẹ muốn tết nhất thế nào thì tết nhất. Thành ra không khí ở nhà Vân Thục cứ như có đám vậy.

Vân Thục càng nghĩ càng u uất. Vừa năm nào thôi, Vân Thục còn là cô giáo dậy văn nhan sắc điệu đà, khéo ăn khéo nói, đám giáo viên đàn em suốt ngày ngưỡng mộ.

Thế rồi cuộc sống phù phiếm nơi thương trường đã quyến rũ Vân Thục từ lúc nào khiến Vân Thục bỏ nghề mê mải về làm chủ cửa hàng.

Có đồng tiền trong tay, chồng lại là người có quyền chức nhất nhì trong xã, Vân Thục đã tưởng mình thăng hoa nơi thị trường buôn bán. Thế nhưng, Nguyễn Uyên đã dụ dỗ đưa Vân Thục vào mê cung của tiền tài và tình ái, đẩy Vân Thục dúi dụi vào vũng bùn nhơ nhớp mà Vân Thục vẫn nghĩ mình đang bay bổng trong xa hoa và nhung lụa.

Rồi tưởng đã thoát khỏi tay Nguyễn Uyên để một mình xây dựng giang san riêng thì Vân Thục lại gặp Đỗ Pháp. Vẫn là một phường mèo mả gà đồng, cùng cánh dối gian lừa lọc, Nguyễn Uyên và Đỗ Pháp đã bỡn cợt với thân phận Vân Thục, đẩy Vân Thục vào con đường vô luân, bạc nghĩa một lần nữa. Không những thế chúng còn đưa Tấn Phong thành kẻ nghiện ngập khiến thân bại danh liệt. Bọn chúng đã lôi kéo Vân Thục làm những việc phi nhân tính, bẩn thỉu và tội lỗi.

Những người dân Seo Sơn vốn hiền lành và chân thật được Vân Thục tiếp tay với danh nghĩa xuất khẩu, tranh nhau sản xuất ra những loại chè bẩn thỉu, cứ nghĩ đến là đã muốn nôn, muốn ọe, mang về đất nước Trung Hoa xa hoa và phù phiếm. Thế rồi họ lại phù phép bán đi đâu đó trên thế giới này cho những người chắc còn mông muội lắm. Họ cho những kẻ bất nhân, bất nghĩa như Đỗ Pháp, Nguyễn Uyên mang về đây loại thuốc lá chết người được đóng bao xanh bao đỏ, phủ đầy những lời hoa mỹ khiến cho bao người ở Seo Sơn sống không ra sống, chết không ra chết.

Thật là tội lỗi.

Đám con nghiện của Tấn Phong kia có nhiều đứa xưa kia là học trò của Vân Thục. Giờ chúng được Vân Thục gián tiếp đưa đường chỉ lối đến chỗ nhơ nhớp này. Mấy chục người, mấy chục đứa ăn phải bả của những kẻ từng làm thầy, từng làm lãnh đạo, để đến nỗi sẵn sàng lừa thầy, phản chủ, dối mẹ, gạt cha, ăn không nói có, miễn là có hơi thuốc Tám Một thế này đây.

Vân Thục thật đáng tội chết, muốn từ bỏ những trò mua bán xuất khẩu bẩn thỉu, muốn trốn chạy tội lỗi mà không sao trốn chạy được.

Bỗng nhiên Vân Thục nhớ tới lời Nguyễn Uyên nói ngày nào: “Tôn Ngộ Không có đi cả đời vẫn chỉ là đi trong lòng bàn tay Đức Phật. Trái đất này tuy to mà nhỏ. Chúng ta cũng chỉ đang đi trong lòng tay của Ngài mà thôi.”

Thì ra chúng đã chủ động tất cả, âm mưu tất cả, lừa đảo tất cả. Vân Thục chỉ là con rối, chỉ là thứ đồ chơi không hơn không kém trong tay chúng.

Trời ơi, đau xót biết chừng nào. Bao nhiêu năm được ăn, được học, bao nhiêu năm mang danh là nghề cao quý. Ấy thế mà chỉ vì những ham muốn nhất thời Vân Thục cuối cùng bị bả đồng tiền làm cho mờ mắt, bị chính những kẻ khoác áo có chữ, những kẻ mang danh tài cao, học rộng lừa gạt để đến nông nỗi này.

Vân Thục muốn khóc mà sao không khóc được. Nước mắt như lặn vào trong, khiến tròng con ngươi bỏng rát.

41

Vân Thục chuẩn bị đi giao chuyến hàng đầu năm, và dự định sẽ bàn với Sán Lùng tuyên bố không thu mua chè bẩn cho thương nhân Trung Quốc nữa. Bao nhiêu người dân vô tội cay đắng, sống dở, chết dở với trò sản xuất mua bán này rồi. Không có lẽ cứ tiếp tục để cho họ mờ mắt vì những đồng tiền nhơ nhớp, để rồi trở thành kẻ thân tàn ma dại, còn mặc sự đời cho Đỗ Pháp và Nguyễn Uyên định đoạt ra sao thì ra?

Cùng lắm Vân Thục tìm đến cái chết để giải thoát đoạn đời nhơ nhớp đã qua chứ không chịu sống trong dày vò day dứt mãi như thế này.

Đến Móng Cái, làm thủ tục giao hàng xong, Vân Thục nằm tại khách sạn công ty để chờ mai làm thủ tục chuyển tiền. Một mình chống chếnh trong căn phòng sang trọng, Vân Thục thấy da diết nhớ tới Sán Lùng.

Vừa hôm nào còn ở bên nhau, trước là chỉ những trò mây mưa trăng gió, nhưng thời gian đã gắn kết họ trở thành đôi người tri kỷ. Ừ thì nồi lành úp vung lành, đôi ta méo mó thì có vung méo mó. Đã tin cậy nhau thì trăm sông ngàn núi cũng là gần, chẳng có gì xa xôi cả.

Nhà văn Vũ Quốc Khánh

Vân Thục đã mất hết tất cả, chỉ còn tình yêu với Sán Lùng thôi. Vân Thục cần thiết sẽ tung hê tất cả để đến bên Sán Lùng, chẳng phải bận tâm, đạo mạo hóa làm gì cả.

Người ta bảo Sán Lùng nằm ở một bệnh viện Hà Nội và nhắn mọi người trong công ty nếu Vân Thục đến giao hàng thì bảo Vân Thục xuống thăm.

Sớm hôm sau, thanh toán chuyển tiền xong, Vân Thục bắt xe về Hà Nội, tìm đến bệnh viện nơi Sán Lùng đang điều trị.

Nhìn thấy Sán Lùng, Vân Thục không tin được vào mắt mình. Trước mặt Vân Thục là một thân hình gầy gò, xanh xao, tiều tụy, mụn nhọt lở loét. Mới chỉ vài bốn tuần mà Sán Lùng đã thay đổi đến không ngờ. Còn đâu vẻ hào hoa phong nhã ngày nào, còn đâu những nét khôi ngô từng trải, lịch lãm và điệu nghệ. Những múi cơ căng, săn chắc được thay bằng sự nhăn nheo già cỗi, vẻ hồng hào của làn da khỏe mạnh đã biến mất nhường chỗ cho vẻ tái tê mệt nhọc.

Nhìn thấy Vân Thục mắt Sán Lùng bớt đi vẻ lờ đờ, thiểu não, ánh lên một chút tươi tỉnh. Sán Lùng cố gắng tựa người vào đầu gường, thều thào hỏi:

– Em xu … uống … rồi đấy ư? Anh tư … ưởng không còn … cơ may gặp … em nữa.

Giọng Sán Lùng tự nhiên trở nên thuần Việt, không còn lơ lớ giọng người Tầu nữa.  Vân Thục khóc nấc lên, đỡ cho Sán Lùng ngồi thẳng dậy:

– Sao lại đến … nông nỗi này hả anh? Anh bị bệnh gì? Bác sỹ khám bảo thế nào? Công ty đâu mà không ai lo lắng đến anh thế vậy?

– Chu … yện dài … lă … ắm … em ơi … Rồi anh sẽ … kể hết … em nghe.

Sán Lùng cố gắng nhấc cánh tay lên, chỉ thằng bé chừng hơn mười tuổi lấm lét ngồi ở đuôi gường bảo:

– Đây là … cháu Tuấn Anh … con … trai anh. Cháu … mới được … công ty đưa … từ trong … Chợ Lớn … ra.

Vân Thục bây giờ mới để ý thấy thằng bé. Nó lý nhí:

– Cháu chào cô ạ.

– Cô chào cháu, cháu có mệt không? Cháu ra một mình hay ai đưa cháu ra?

– Bác cháu đưa ra?

– Thế bác cháu đâu?

– Bác cháu bảo cháu bác cháu về, hai bố con ở đây đã có bệnh viện Nhà nước lo cho rồi, bác cháu không ra nữa.

Vân Thục không hiểu gì, phân vân định hỏi cho ra lẽ nhưng sợ Sán Lùng trả lời mệt nên thôi. Lúc sau, chừng đã khỏe lại, Sán Lùng bảo con:

– Tuấn Anh … ra ngoài chơi … để bố nói chuyện … với cô nhé.

Thằng bé rón rén ra ngoài vẻ mặt cam chịu. Sán Lùng cố gắng gượng sức nói với Vân Thục:

– Anh có tội nhiều với em … mà chẳng biết giãi bầy với em thế nào được. Anh … bị bệnh mà không biết bị bệnh, nên … không giữ được cho em, để em phải khổ. Nỗi đau … đớn này anh chết chắc không nhắm … được mắt.

– Anh cứ bình tĩnh, rồi từ từ kể cho em nghe xem. Ở đời này em chỉ còn anh là chỗ tin cậy yêu thương thôi, có gì anh cứ cho em biết.

– Anh cũng vậy, anh cũng … chỉ còn em là người yêu … thương thôi, cứ tưởng sẽ được cùng … em gắn bó. Ấy thế mà trời … nỡ để mình thế này, Thôi … dương thế chẳng nên đôi, … đành hẹn nhau nơi … tuyền đài vậy … em nhé.

Sán Lùng cố gắng nắm lấy bàn tay Vân Thục, bàn tay Sán Lùng hờ hững và lạnh. Vân Thục để yên tay mình trong tay Sán Lùng như muốn tiếp thêm sức cho bàn tay lạnh lẽo kia. Nghỉ một lúc Sán Lùng mới cố gắng kể nốt câu chuyện bỏ dở:

– Anh chính tên là Trần Văn Cưởi, người Việt mình chính gốc… Bố anh là họ Nguyễn nhưng được nhà họ Trần … cưu mang nhận làm con nuôi nên được mang họ Trần. Nhà anh lên khai hoang … ở Seo Sơn từ những năm sáu mươi. Anh bị coi rẻ … vì mồ côi bố từ sớm. Để có bố, anh đã nhận người Dao … họ Triệu ở Đá Vách làm bố nuôi và được … đổi thành họ Triệu. Anh đã lấy cô Hoàng Thị Dung, con gái ông … Bí thư Huyện ủy Hoàng Văn Hợi làm vợ. Nhưng lấy nhau lâu … mà hai người không có con nên anh … đi lại với cô Triệu Thị Ngát nay đã biệt tăm không rõ … ở đâu trên đất Tầu và có với nhau … thằng Tuấn Anh bây giờ.

Hồi lâu Trần Văn Cưởi mới nói tiếp:

– Anh có tội với dân bản Cọ Sơn… nên phải trốn chạy khỏi Seo Sơn vào Sài Gòn từ… hồi cuối những năm tám mươi. Vào đến đấy, anh bị người… Ba Tầu Chợ Lớn tên là Sán Long lừa hết tài… sản, tiền bạc khiến mẹ anh mang mối hận, uất mà… chết. Bố con anh trắng tay, trở thành… cửu vạn trong tay Sán Long, rồi bị Sán Long lợi dụng… nhận là anh em kết nghĩa, giữ thằng con… ở lại làm tin, đẩy thằng bố ra Móng… Cái làm Giám đốc cho ông ta, thực chất… làm bia đỡ đạn cho những việc làm… táng tận lương tâm của ông ta. Anh đã định quay về Seo Sơn… nhưng về đến nơi hay tin vợ anh vì anh mà bị điên… bố vợ vì anh mà bị chết anh sợ… quá không dám ở lại. Chính anh bầy cho… Đỗ Pháp đến mua chè tại… Seo Sơn mà. Giờ anh bị… trọng bệnh, Sán Long đưa bố con anh vào đây, phó mặc… sự chăm lo cho Nhà nước, còn ông ta… cao chạy xa bay về Chợ Lớn.

Thế là Vân Thục đã rõ. Cô thoáng rùng mình vì đã nghe những chuyện về người có tên là Triệu Văn Cưởi ở Seo Sơn, nhưng bây giờ mới biết người ấy bằng xương bằng thịt.

Sán Lùng cố sức nói tiếp:

– Bây giờ anh gần đất… xa trời rồi. Tội lỗi cũng đã… chất đầy, anh chẳng dám kêu ca gì. Anh chỉ… muốn nhờ em một việc trước… khi chết. Em đưa cháu Tuấn Anh về… cho cô Dung, vợ cũ của anh… nhờ cô ấy nuôi giúp. Dù anh… có vô cùng nhiều tội với… cô ta, nhưng cũng đã có thời gian là vợ… là chồng, mong cô ấy… thương lấy con anh, cho nó có… một mái nhà. Nó cũng đã lớn rồi, có thể… làm được việc đồng áng… trả công cho cô ấy. Em cố gắng giúp… anh nhé.

Vân Thục giàn dụa nước mắt:

– Vâng, em sẽ đưa cháu về cho chị ấy.

– Em… hứa nhé.

– Vâng, em hứa.

– Thế là anh đã mãn… nguyện, chết cũng… được rồi.

– Nhưng anh chưa nói cho em biết, bác sỹ bảo anh bị bệnh gì.

Sán Lùng mệt nhọc trả lời Vân Thục đứt quãng:

– A… anh… bị… S… i… đ… đa… giai… đoạn… cuối.

Nghe Sán Lùng lắp bắp Vân Thục mãi mới định thần hiểu hết. Đất trời như sụp đổ dưới chân, Vân Thục thét lên một tiếng khủng khiếp rồi gục xuống gường ngất lim. Bác sỹ ào đến đưa Vân Thục vào phòng cấp cứu.

Đến chiều, Vân Thục mới tỉnh. Cô hoảng sợ khôn cùng. Cô cũng đã nghe nói đến căn bệnh khủng khiếp này, nhưng nào có hình dung ra nó thế nào, vuông hay tròn méo, cứ nghĩ nó ở đẩu ở đâu, nào ngờ nó ở ngay cạnh mình và bây giờ có khi đang ở trong mình.

Thế là hết, cuộc đời Vân Thục nếu dính căn bệnh này là hết. Chết thì Vân Thục không sợ, cô cũng đã nghĩ đến nó để giải thoát bao tủi nhục của mình rồi cơ mà, Chết là việc đã rồi, ai cũng một lần phải chết, nhưng chết mà tiếng xấu còn lưu lại mai sau như thế này, khiến người đời phỉ nhổ thì Vân Thục không tài nào chịu nổi.

Làm thế nào chết cho thanh thản, chết mà được bảo toàn danh dự được nhỉ? Thế thì đừng để ai biết mình mắc phải căn bệnh quái ác này. Muốn thế chỉ có một cách là chết khi bệnh vừa phát. Đơn giản quá, một liều thuốc ngủ cực mạnh là xong, vừa không đau đớn, vừa ra đi thanh thản như một giấc ngủ dài.

Nghĩ đến thế Vân Thục cảm thấy chẳng có gì phải bận tâm về cái chết nữa. Bỗng nhiên cô sực nghĩ, chắc gì mình đã bị. Ừ nhỉ, sao mình không nghĩ đến khả năng này. Có thể lắm chứ. Bao nhiêu bộ đội ở Trường Sơn nhưng có phải ai ở Trường Sơn là bị phôi nhiễm chất độc da cam cả đâu.

Thế là Vân Thục như được tiếp thêm sức mạnh, cô vùng dậy, chạy sang phòng của Sán Lùng. Vân Thục bảo với Sán Lùng, giọng bình thản không vướng bận lo âu phiền muội gì:

– Thôi, anh cố gắng an tâm điều trị, em phải về lo công việc ở nhà, mấy hôm nữa em lại xuống thăm anh. Anh xem nếu phải đưa cháu Tuấn Anh về cho chị Dung thì anh nói với cháu để em đưa cháu về, xem ý chị ấy thế nào. Nếu chị ấy đồng ý thì tốt, còn nhược bằng không, em sẽ thay anh nuôi nấng cháu nên người.

– Được thế… thì anh mừng quá. Anh vô cùng… cám ơn em. Em cũng nên… đi xét nghiệm xem, nếu cũng bị… thì còn chữa sớm, đừng để đến mức… muộn như anh, khó chữa.

– Em không bị, em đi xét nghiệm từ trong năm rồi.

Vân Thục nói dối để trấn an Sán Lùng và cũng tự trấn an mình.

– Thế thì mừng… cho em quá. Tuấn Anh ơi, con… chuẩn bị các thứ, cô Vân Thục sẽ đưa con… về với mẹ nuôi… con…

Sán Lùng nói chưa hết câu thì bỗng nhiên mồm đờ ra, ngáp một cái, rồi từ từ nhắm mắt. Vân Thục kêu lên thất thanh. Bác sỹ, hộ lý kéo đến, nhưng y học cũng bất lực, Sán Lùng đã trút hơi thở cuối cùng.

Sau khi an táng Sán Lùng – Triệu Văn Cưởi – tại đài hóa thân hoàn vũ, Vân Thục mang lọ tro hài cốt Sán Lùng cùng Tuấn Anh về Seo Sơn, lại dặn Tuấn Anh không được nói với ai về nguyên nhân cái chết của Sán Lùng, chỉ nói là Sán Lùng bị cảm chết, Tuấn Anh ngoan ngoãn vâng lời.

 

42

Sau tết, khắp nơi trong Seo Sơn người ta nói về lòng nghĩa hiệp của Giám đốc Hà Trọng Căn đối với nhân dân và trách cứ Chủ tịch xã Nguyễn Uyên không chấp hành ý kiến của huyện, thiếu trách nhiệm, không lường trước trông sau trước khi ra quyết định liên quan đến cơm ăn áo mặc của dân. Nhiều người còn dự kiến chất vấn cả trong kỳ họp Hội đồng nhân dân xã. Nguyễn Uyên vô cùng tức tối.

Kể ra, làm chủ tịch xã mà để dân dè bỉu chê bôi thì cũng tức thật. Ngược lại nếu bình tĩnh suy xét thì sự phản ảnh của nhân dân chính là thể hiện sự góp ý chân thành để người cán bộ, người đầy tớ của nhân dân rút kinh nghiệm. Rút được kinh nghiệm là tăng thêm uy tín của mình trước nhân dân. Nhưng Nguyễn Uyên không nghĩ thế.

Nguyễn Uyên cho rằng Hà Trọng Căn lợi dụng tình thế để chơi trội, nhằm hạ bệ uy tín của Nguyễn Uyên. Bằng chứng là việc bán lợn cho các bản tết vừa qua, Hà Trọng Căn không bàn bạc, không xin ý kiến chính quyền, mà chỉ cùng với Bí thư Bầu tự làm, tự giải quyết. Thế là dân chủ mà không có tập trung, biểu hiện của sự dân chủ vô chính phủ.

Nguyễn Uyên đưa vấn đề này ra trong cuộc họp Đảng ủy xã. Chẳng ai muốn tham bàn gì về việc này. Nguyễn Uyên tưởng là mọi người đồng tình với ý kiến của mình nên cao giọng, đề nghị kiểm điểm, kỷ luất với đảng viên Hà Trọng Căn. Đến nước này, các Đảng ủy viên mới ồ lên, tranh nhau phát biểu chỉ trích thái độ của chủ tịch xã.

Bí thư Bầu có ý kiến:

– Đồng chí Uyên nhầm lẫn trong việc suy xét và đánh giá Giám đốc Hà Trọng Căn. Phẩm chất đảng viên của đồng chí Căn thực sự xứng đáng để chúng ta học tập. Không có bất cứ động cơ cá nhân nào trong cách ứng xử này. Nếu xét về quyền lợi của doanh nhân được pháp luật bảo hộ thì người ta có quyền bán sản phẩm của người ta cho bất cứ ai người ta muốn. Nếu không trái với luật pháp, không ai có quyền ngăn cản và tuyệt đối không phải báo cáo ai cả.

Mọi người tiếp lời bí thư:

– Việc phải báo cáo mới được bán sản phẩm sức lao động của doanh nhân là tư duy duy ý chí đã bị phê phán và xóa bỏ lâu rồi. Nếu xét về trách nhiệm, người ta không bán cho tư nhân với giá cao để thu lợi cho riêng mình như văn bản của đồng chí yêu cầu, mà người ta chủ động bán giá thấp và chỉ bán để cứu cho dân có thịt lợn ăn tết. Đấy là người có trách nhiệm cao với cộng đồng, mà ở đây chúng ta chưa có ai làm được. Vì vậy ý kiến của đồng chí Uyên là hoàn toàn sai. Ta không nên bàn đến nữa.

Nguyễn Uyên cay cú, mặt đỏ dừ vì ngượng ngập, không nói được lời nào.

Đêm hôm ấy. Nguyễn Uyên không sao ngủ được. Những ý kiến trong cuộc họp sáng nay làm cho Uyên mất mặt, ức muốn nổ con mắt. Phải làm điều gì đó để trả món nợ này, không làm không chịu được.

Sáng hôm sau, Nguyễn Uyên đi xe đến nhà Tấn Phong với thái độ mềm mỏng hiếm có kể từ sau ngày Tấn Phong xin thôi công tác:

– Dạo này anh khỏe ra đấy. Có thuốc có khác nhỉ. Anh Đỗ Pháp gửi tôi lời động viên anh và phần thưởng mấy tút thuốc Tám Một đỏ để anh hút và thưởng cho cánh đã rải thuốc sâu, đất đèn vào ao cá những kẻ chống lệnh chính quyền để lợn lại bán cho Hà Trong Căn năm ngoái đấy.

– Vâng, cám ơn các chú đã quan tâm đến anh em. Bây giờ có chỉ thị gì mới chú cho ý kiến. Anh em sẽ thực hiện ngay, miễn sao có thuốc cho anh em hút là được.

Nguyễn Uyên thầm thì:

– Có đấy. Anh Đỗ Pháp bảo tôi nói với anh, bằng mọi cách phải đầu độc hết đàn lợn của Hà Trọng Căn trong vài ngày tới.

– Làm thế nào được nhỉ? Đầu độc vài con thì được, chứ đầu độc cả đàn e khó quá.

– Không khó đâu. Đàn lợn của Căn ăn xong thức ăn tinh là phải uống nước. Như vậy, nếu bỏ thuốc diệt chuột liều lượng cao vào nguồn nước thì tất lợn uống phải chết.

– Ừ nhỉ! Thế mà mình không nghĩ ra.

Nguyễn Uyên định nói, cái đầu ông đần độn, làm sao mà nghĩ ra được kế này, nhưng kìm lại được vì lúc này Uyên đang cầu cạnh Phong nên cần phải ôn hòa tránh chạm đến lòng tự ái của hắn.

Nguyễn Uyên ghé tai Tấn Phong nói tiếp:

– Anh lựa chọn lấy mấy thằng nghiện nặng, hứa thưởng cho mỗi thằng một tút thuốc, bảo nó tranh thủ mấy ngày cuối tháng không có trăng này, thực hiện luôn đi. Đây, thuốc diệt chuột thứ thiệt của Tầu do anh Đỗ Pháp gửi về đây.

Vừa nói, Uyên vừa lôi ra một túi đen đựng thuốc giao cho Phong.

– Anh cho làm ngay nhé, Thôi tôi về đây, ngồi đây lâu không tiện.

– Ừ chú về đi, tôi sẽ gọi chúng nó đến bàn cụ thể rồi cho tiến hành ngay.

Đêm hôm ấy, trời không trăng, không sao, tối đen như mực. Ba bóng đen sau khi rít những hơi thuốc đầy mê ly và sảng khoái từ nhà Tấn Phong, nhẹ nhàng như những con rắn trườn vào đêm tối, thẳng hướng tới đài nước của Công ty Đá Vách đặt trên đồi cao chuyên cung cấp nước cho trại chăn nuôi của công ty.

Chúng không ngờ một nửa tiểu đội công an đã bí mật phục kích xung quanh khu vực đó theo hai vòng với quyết tâm không để tên nào chạy thoát. Xung quanh nhà của Tấn Phong và Nguyễn Uyên lực lượng công an cũng đã bao vây chặt.

Khi những bóng đen chuẩn bị trèo lên đài nước thì các chiến sỹ công an đã ập đến, nhanh chóng quật ngã chúng, tóm gọn cả người cùng hàng chục gói thuốc chuột.

Cả ba tên nhanh chóng được đưa về văn phòng Công ty Đá Vách để lập biên bản lấy lời khai. Tại đây chúng đã khai nhận toàn bộ âm mưu tội lỗi của chúng và thành khẩn thú nhận chỉ vì nghiện thuốc Tám Một đỏ mà chúng đã nghe theo lời Tấn Phong làm điều độc ác.

Lập tức, Tấn Phong bị hai chiến sỹ công an áp giải cùng với lệnh triệu tập khẩn cấp đến văn phòng Công ty Đá Vách. Trước những nhân chứng và vật chứng rõ ràng không thể chối cãi được, Tấn Phong đành ngoan ngoãn cúi đầu ký vào biên bản hỏi cung.

Tại nhà Nguyễn Uyên, hai chiến sỹ cảnh sát, sắc phục nghiêm trang gọi cổng. Nguyễn Uyên ra mở cổng. Nhìn thấy bóng công an, thấy thái độ của họ có vẻ không vui vẻ, thiện chí như mọi bận, lại nghe lời mời lên văn phòng Công ty Đá Vách làm việc, Nguyễn Uyên chột dạ biết rằng việc làm của mình đã bại lộ nên ngoan ngoãn mặc quần áo để lên đường.

Trong lúc mặc quần áo trong đầu Nguyễn Uyên lóe lên suy nghĩ, thế là hết, thôi thì trong ba mươi sáu chước, chước chuồn là thượng sách.

Nguyễn Uyên giả vờ xin đi vệ sinh. Được đồng ý, hắn mở cửa nhưng lại nhanh nhẹn lách qua khe bóng cửa, trèo qua lan can, lẩn vào đêm tối vượt qua hàng rào sau nhà định tẩu thoát. Thế nhưng, vừa vượt qua được hàng rào, chưa kịp co giò chạy thì một giọng nói sắc lẻm đã vang lên:

– Đồng chí chủ tịch, đồng chi định đi đâu đấy.

Nguyễn Uyên chưa kịp trả lời thì ánh đèn pin đã lóe lên, hai chiến sỹ công an đã áp sát hai bên, dìu Nguyễn Uyên đang lả người lết đi về phía chiếc xe cảnh sát vừa phóng tới.

Tại văn phòng Công ty Đá Vách, không còn cách nào khác hơn, trước lời khai của đồng phạm, trước nhân chứng và vật chứng rõ ràng Nguyễn Uyên đã phải cúi đầu nhận tội chủ mưu trong việc xúi giục đám thanh niên nghiện, bỏ thuốc chuột định đầu độc toàn bộ đàn lợn của Công ty Đá Vách, nhằm trả thù Giám đốc Hà Trọng Căn.

Cũng tại đậy, Tấn Phong khai nhân toàn bộ việc đã bán thuốc Tám Một đỏ cho các con nghiện trong xã. Một bản danh sách hơn hai mươi con nghiện được lực lượng công an lập ra từ lúc nào, được Tấn Phong xác nhận. Rồi địa chỉ kho thuốc tại nhà Tấn Phong ở đâu, mối quan hệ giữa Tấn Phong và Đỗ Pháp và cách thức giao hàng thuốc Tám Một đỏ ra làm sao, vai trò của Nguyễn Uyên trong đường dây mua bán và sử dụng sản phẩm gây nghiện này như thế nào đều được đề cập đến.

Nguyễn Uyên ra sức cãi và chối đây đẩy các tội danh buôn bán và sử dụng thuốc Tám Một đỏ, nhưng không hề gì, lệnh khám nhà vẫn được ban ra.

Trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương, kho thuốc Tám Một đỏ tại nhà Tấn Phong đã bị lôi ra ánh sáng. Gần chục tút thuốc còn nguyên đai, nguyên kiện. Còn tại nhà Nguyễn Uyên, khám xét kỹ càng trong nhà, lực lượng công an cũng không lần ra dấu vết gì. Đang định dừng khám xét thì một chiến sỹ tinh ý thấy có vết vân tay trên bức ốp chân tường bằng gỗ pơ mu cao gần một mét phía khuất đôi lọ lục bình. Lập tức, mọi sự chú ý đều dồn vào đây. Thì ra đó chính là một cánh tủ nhỏ và công an lôi ra từ đây gần trăm tút thuốc Tám Một đỏ.

Lệnh bắt khẩn cấp Nguyễn Uyên và Tấn Phong và lệnh triệu tập hơn hai mươi người đang nghiện thuốc Tám Một đỏ tại Seo Sơn được ký ngay lập tức. Chiếc xe chở phạm nhân được dùng để chở Nguyễn Uyên, Tấn Phong và tang vật vụ án cùng với chiếc xe ca chở con nghiện bị triệu tập, xé màn đêm phóng nhanh về trụ sở công an huyện.

Đồng chí đội trưởng cơ quan điều tra công an huyện nán lại, vào nhà Tấn Phong. Trong gian khách vẫn còn bừa bộn chưa kịp thu dọn, đồng chí chuyển lời cám ơn của cơ quan công án tới công dân Vân Thục vì có công lao giúp cơ quan công an nhanh chóng phá gọn vụ án.

Thì ra Vân Thục sau khi xong đám tang của Sán Lùng ở Hà Nội trở về Seo Sơn đã làm được một việc thiện là mật báo cho cơ quan công ạn toàn bộ đường dây buôn bán thuốc Tám Một đỏ tại Seo Sơn, cũng như danh sách các con nghiện.

Lại nữa, khi Nguyễn Uyên đến tìm Tấn Phong, Vân Thục đã bí mật theo dõi, nắm được kế hoạch đầu độc trại lợn của Nguyễn Uyên, Tấn Phong và đồng bọn. Chị kịp thời báo với Phó Giám đốc Hoàng Thị Dung, nên cơ quan công an huyện đã nhanh chóng giăng lưới tóm gọn những kẻ thực hiện.

Vân Thục vô cùng cảm kich trước sự chiếu cố của cơ quan công an.

Lâu lắm rồi, đêm hôm ấy Vân Thục mới có được giấc ngủ yên lành, thanh thản. Dẫu Tấn Phong có bị bắt giam để điều tra tội lỗi, nhưng điều ấy chỉ mang lại những tốt lành cho dân bản Seo Sơn và cả cho gia đình Vân Thục.

Mấy ngày hôm sau, Đỗ Pháp cũng bị cơ quan công an bắt tại của khẩu Móng Cái và bị di lý về cơ quan công an cùng đồng bọn.

Đến bây giờ người ta mới biết, thực ra Nguyễn Uyên và Đỗ Pháp là một cặp bài trùng, trước cùng công tác ở Công ty Giấy. Khi bị đuổi việc, Đỗ Pháp lặn ra Móng Cái làm cho Công ty Đài Bắc của Ba Tầu, Nguyễn Uyên chui được vào Seo Sơn. Chính Đỗ Pháp là bạn vong niên của Nguyễn Uyên, là kẻ được Nguyễn Uyên gọi mời vào Seo Sơn cộng tác khi Nguyễn Uyên chân ướt chân ráo được bầu làm phó chủ tịch xã.

Nguyễn Uyên bị bắt, xã khuyết Chủ tịch. Thể theo nguyện vọng của nhân dân các bản trong xã, Hội đồng nhân dân xã đã bầu lại Triệu Thị Bầu Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.

Xã Seo Sơn trở lại bình an sau khi Nguyễn Uyên với những mưu mô hiểm độc cùng đồng bọn bị bắt và Vân Thục tuyên bố ngừng thu mua chè bẩn.

Một không khí làm ăn chân chính được khuyến khích dưới sự chỉ đạo của những cánh chim đầu đàn như Triệu Thi Hân, già làng Triệu Văn Nga và những hộ nông dân gương mẫu, có tầm nhìn xa trông rộng, đang ngày đêm miệt mài lao động sản xuất, làm giầu cho quê hương và làm giầu cho chính bản thân mình do Hà Trọng Căn làm nhạc trưởng.

43

Mấy tháng sau, việc điều tra của cơ quan công an đã kết thúc. Người ta đã làm rõ những nghi vấn còn bỏ ngỏ tại Seo Sơn trong thời gian trước.

Chính Nguyễn Uyên chứ không ai khác, là người đã tung tin đồn Bí thư Bầu có quan hệ bất chính với Phó Chủ tịch Hà Trọng Căn khi Uyên còn là Trưởng công an xã. Chính Uyên thực hiện kế hoạch bôi xấu Căn, nhằm loại Căn ra khỏi chiếc ghế Phó Chủ tịch, mặc dù trước đó Căn đã có đơn xin nghỉ công tác, nhưng việc làm của Uyên với mục đích đẩy nhanh quá trình nghỉ của Căn, để giành chiếc ghế đó cho mình.

Khi thấy Đảng ủy xã và Hà Trọng Căn có ý định đưa Triệu Thị Hân đảm nhiệm chức Phó Chủ tịch xã, Uyên đã tiếp tục vu vạ Hân bao che cho việc quan hệ bất chính của Căn và Bầu để bôi nhọ Hân, ngăn chăn Hân tiếp cận đến cái ghế Phó Chủ tịch xã.

Việc vu khống ấy đã giúp cho Uyên bắn một mũi tên trúng ba đích. Không những loại được Căn và Hân khỏi chính trường, mà còn làm cho Bí thư Bầu mất uy tín, lúng túng, thiếu tập trung và quyết đoán trong việc bố trí nhân sự cán bộ của xã, để Uyên dễ bề tác động tới Chủ tịch huyện là chú họ của Uyên trong việc giới thiệu và bầu Uyên vào chức vụ Phó Chủ tịch.

Hà Trọng Căn bắt đầu gây dựng công ty chăn nuôi ở Đá Vách, chính Uyên đã chỉ đạo em họ của mình là Chi bán hàng cho Vân Thục thực hiện kế hoạch đốt chuồng trại chăn nuôi của Căn, nhằm gây tâm lý hoang mang trong dân bản và làm lung lay nhuệ khí của Căn.

Sau đó, Uyên đã móc nối lại quan hệ với Đỗ Pháp là bạn cùng cánh hẩu với nhau từ hồi con làm ở công ty giấy, yêu cầu Pháp vào Seo Sơn làm một công đôi việc, vừa tổ chức thu mua chè bẩn cho công ty Đài Bắc của Ba Tầu, vừa bằng mọi cách gây nghiện cho Chủ tịch xã Tấn Phong. Thế là Uyên đã loại được Phong ra khỏi bộ máy lãnh đạo xã, buộc Bí thư Bầu và Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã phải đưa Uyên ngồi vào chiếc ghế quyền lực chính quyền cao nhất ở Seo Sơn, nhằm thỏa mãn khát khao của Uyên.

Thông qua Đỗ Pháp, Nguyễn Uyên đã điều tra được hoàn cảnh sống của Sán Lùng. Biết Sán Lùng độc thân, cần nhu cầu tình cảm. Lại biết tính đa tình và vẻ bề ngoài dễ thu hút của Vân Thục, Nguyễn Uyên đã cung cấp cho Đỗ Pháp những tấm ảnh quan hệ bất chính của Vân Thục với Tư Phây mà Nguyễn Uyên đã chụp trộm. Những bức ảnh đó vừa giới thiệu với Sán Lùng một người phụ nữ có thân hình bốc lửa, vừa kích thích Sán Lùng đến với Vân Thục khi Vân Thục ra Móng Cái để dễ bề khống chế Vân Thục. Khi Vân Thục đã sa vào vòng xoáy ái tình, thì gia đình Tấn Phong đã tan nát. Điều ấy đã trả thù việc Tấn Phong cản trở con đường công danh của Uyên ngày trước.

Đối với Hà Trọng Căn, Nguyễn Uyên thâm thù Hà Trọng Căn, nên đã bằng mọi cách phá hại công việc của anh. Khi thấy Căn thất bại trong việc trồng chè bầu theo phương pháp giâm cành lần đầu, không những Uyên trên cương vị Phó Chủ tịch xã không động viên, giúp đỡ, mà còn vui mừng, rêu rao nhằm tạo tâm lý mất lòng tin cho mọi người, hạ bệ uy tín của Căn. Khi những hộ chăn nuôi ủng hộ Căn, Uyên đã dùng những con nghiện đói thuốc thả thuốc sâu, đất đèn xuống ao nuôi cá của những hộ đó, đổ tiếng phá hoại cho cánh đến thu mua lợn hơi ở xã, nhằm gây tâm lý sợ hãi trong dân bản, khiến những người tin theo Hà Trọng Căn hoang mang. Còn kế hoạch đầu độc đàn lợn của Hà Trọng Căn, cơ quan công an đã làm rõ vai trò chủ mưu của Uyên, không phải bàn cãi gì nữa.

Riêng việc buôn bán thuốc gây nghiện cũng không ai khác, chính Nguyễn Uyên đã đặt vấn đề với Đỗ Pháp về việc dùng thuốc gây nghiện để gây nghiện cho Tấn Phong.

Đỗ Pháp đã đặt hàng với Công ty Đài Bắc của Sán Long để sản xuất riêng loại thuốc Tám Một đỏ tẩm thuốc phiện gây nghiện cho Phong để khống chế Phong.

Rồi cũng chính Nguyễn Uyên yêu cầu Đỗ Pháp mang Tám Một đỏ về tập kết ở nhà Uyên, bố trí cho Tấn Phong trực tiếp bán hàng cho con nghiện, khống chế họ, buộc họ phải làm theo những mưu ma chước quỷ của Uyên, tạo ra một thế lực khủng bố ngầm ở Seo Sơn. Điều này một mặt dễ qua mặt cơ quan công an, mặt khác nếu bị lộ thì Uyên tránh được tội vì không bao giờ xuất hiện.

Nguyễn Uyên thực sự là kẻ chủ mưu nguy hiểm, bầy đặt tất cả mọi chuyện, thiết lập và tổ chức thực hiện nhiều mưu sâu kế hiểm ở Seo Sơn. Hắn đã gây ra nhiều tội lỗi, làm tan cửa nát nhà cửa nhiều người dân lương thiện, phá hoại niềm tin vào khối đoàn kết của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội, vào sự ổn định chính trị ở Seo Sơn.

Riêng Đỗ Pháp, lẽ ra nếu việc bắt Nguyễn Uyên không xẩy ra bất ngờ và bí mật thì chỉ bằng một cú nháy điện, Đỗ Pháp sẽ nhanh chóng lẩn qua biên giới Trung Quốc và việc luận tội Nguyễn Uyên khó mà suôn sẻ được. Nhưng nhờ có mật báo của Vân Thục mà cơ quan công an đã kín nhẹm được việc bắt Nguyễn Uyên khiến Đỗ Pháp trở tay không kịp.

Với Tấn Phong, một người đã từng giữ cương vị chủ tịch xã, mất cảnh giác để đến mức bị sa vào cạm bẫy nghiện ngập. Khi là nạn nhân của Uyên, bị cơn nghiện hoành hành không làm chủ được bản thân để tự cai nghiện, vẫn sa đà vào khói thuốc đến nỗi bán rẻ cả lương tâm, lao vào kinh doanh tội lỗi.

Còn Chi, em họ Nguyễn Uyên đã theo đóm ăn tàn, theo lệnh của Nguyễn Uyên làm càn làm bậy, rủ rê những thanh niên đua đòi ăn chơi vào xới nghiện.

Tất cả những việc làm vô lương của bọn chúng đều được phơi bầy ra ánh sáng. Song sắt nhà lao rồi có làm cho chúng tỉnh ngộ?

Ngoài kia theo quy luật sinh tồn, Seo Sơn vẫn ngày ngày thay đổi. Rừng Đại Ngàn Khe Cút vẫn ngày một xanh tươi phủ lấp đi những gì một thời nham nhở. Dòng lúa nếp Quà Đen ngày mỗi ngày thơm ngon hơn đem lại niềm tin cho hoạt động sản xuất hàng hóa cho nông nghiệp nông thôn ở một miền quê miền núi. Suối Khe Moong vẫn dạt dào mê mải đưa dòng nước mát xuôi về sông cái.

Bến Tình vẫn đôi bờ cát mịn chứng kiến những tiếng cười khúc khích của lớp trẻ lớn lên, chứng kiến sự thăng trầm của nhân tình thế thái nơi đây, chứng kiến những đổi thay kỳ diệu ở Công ty Đá Vách cùng sự trưởng thành của những người Dao, người Mường, người Mông, người Kinh và các dân tộc ít người khác ở Seo Sơn trên bước đường phát triển kinh tế đưa đời sống nông dân đến ấm no và hạnh phúc.

*

Hơn bốn năm sau, Tấn Phong cải tạo tốt được ân xá ra trại. Phía sau Tấn Phong là cánh cửa công lý, ác giả ác báo, tội lỗi phải đền. Con người Tấn Phong đã được tắm trong triết lý nhân sinh, gội trong đạo đời nhân quả. Cánh cửa đó đã khép lại, trả Tấn Phong về với cuộc sống hoàn lương.

Vân Thục đến tận cổng trại giam đón chồng.

Sau hơn một nghìn ngày mất tự do, Tấn Phong giờ như cánh chim được tung bay giữa muôn trùng trời xanh và mây trắng, được hít thở không khí trong lành đến miên man lồng ngực, được ùa đón mênh mông nắng thơm và gió ngọt, sải những tâm tư trong lồng lộng đất trời, đầy tình người và rạng ngời đạo lý.

Hai người lao đến bên nhau, ngực tìm ngực, môi tìm môi, mặc thanh thiên bạch nhật.

Vân Thục thủ thỉ nói với chồng:

– Mọi việc đã qua rồi, mình làm lại từ đầu, anh nhé.

Tấn Phong rưng rưng nước mắt:

– Anh cám ơn em đã chăm lo cho anh trong những ngày sóng gió. Từ giờ anh sẽ tu tâm, tĩnh trí để khỏi hổ thẹn với gia phong và dân bản.

Họ dắt tay nhau lên đường trở về Seo Sơn giữa buổi nắng mùa thu dãi vàng lối vắng.

Cửa hàng kinh doanh tổng hợp của Vân Thục từ ngày Tấn Phong bị bắt đã được thu gọn lại nhiều so với trước. Những mặt hàng có xuất xứ từ Trung quốc giờ ít người mua vì chỉ hào nhoáng bên ngoài còn chất lượng không được đảm bảo. Thay vào đó là những mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh sản xuất trong nước.

Xuân đã lấy chồng ở ngoài thị trấn, các nhân viên khác cũng lần lượt kẻ đi theo chồng, người về tìm vợ. Giờ chỉ còn Vân Thục lo toan, lúc thì bán hàng, khi thì bán giải khát.

Tấn Phong về, căn nhà như thêm nguồn sinh khí, làng xóm gần xa ai cũng mừng, bỏ qua mọi lời trách cứ. Vân Thục thêm yên lòng. Nhà có đàn ông như rừng có cây lớn, bão gió cũng kiêng dè bởi tán vững, chở che cho bụi nhỏ.

Vân Thục trải qua những ngày hoảng loạn giờ như con thuyền đã có bến bình an. Cô quan tâm tới Tấn Phong từng miếng cơm chén nước như chuộc những lỗi lầm đã qua, như đền bù cho chồng những phút giây tác tao hạnh phúc.

Càng ngày Vân Thục càng thấy giá trị của cuộc sống gia đình ấm êm to lớn đến chừng nào. Đồng tiền làm sao cân bằng được phẩm giá. Nhưng thôi, bây giờ cô như cây khô héo đã được hồi sinh. Quên hết quá khứ đục lầm, cô giờ thanh thản như Bến Tình ngày qua mùa bão tố.

Từ ngày đưa được Tuấn Anh về dưới mái nhà vợ chồng Dung Tấn, Vân Thục năng đến thăm Dung hơn. Ngày trước, dưới con mắt Vân Thục, Dung chỉ là một cô gái yếu đuối, nhỏ bé và đáng thương, nhưng đến khi đưa Tuấn Anh đến cô mới giật mình, bởi trước cô là một con người có nghị lực phi thường và một tâm hồn cao thượng.

Bỏ qua bao nhiêu những đau khổ do Sán Lùng – Triệu Văn Cưởi – gây cho Dung, Dung tiếp nhận nuôi Tuấn Anh không phải vì cần một đứa trẻ có thể làm được việc nhà để trả công nuôi nấng cho mình như bố nó nghĩ trước khi chết. Dung không muốn nó sa vào những cạm bẫy cuộc đời khi nó còn quá trẻ. Dung và Tấn đã nhận nó làm con, xin cho Tuấn Anh được vào học trường dân tộc nội trú của huyện.

Tấn Phong về nhà đã được vài tháng. Sự chăm sóc của Vân Thục khiến Phong có phần đỡ xanh hơn so với những ngày trong trại, nhưng người Tấn Phong vẫn có cảm giác mệt mỏi. Các hạch trong người thỉnh thoảng nổi lên khiến cơ thể đã mệt càng mệt mỏi thêm.

Một hôm Tấn Phong có việc xuống phố huyện. Đang chầm chậm tay ga, mải ngắm những thay đổi hai bên đường phố thì nghe có tiếng gọi:

– Chú Phong, chú về từ bao giờ thế?

Tấn Phong còn đang ngơ ngác thì một thanh niên tóc nhuộm vàng hoe từ một quán nước ven đường ùa ra:

– Cháu Chi đây, cháu được ra trước chú mấy tháng, chú không nhận ra cháu à? Chú vào đây uống chén nước cái đã.

– Ô, Chi à, mày thay đổi đến chóng mặt, nhuộm tóc thế này đến bố mày cũng chẳng nhận ra được nữa là chú.

– Chú vào đây hẵng.

Vừa nói Chi vừa kéo Phong vào quán. Bô lô bô la một hồi, Chi mới ghé sát tai Tấn Phong hỏi nhỏ:

– Lâu rồi chú có được hút thuốc cũ không?

– Vào trong ấy ai cho hút mà hút. Mà bây giờ lấy ở đâu ra.

– Thiếu gì, bây giờ toàn hàng cao cấp thôi, xịn trăm phần trăm, giá lại bèo.

– Không, tao đoạn tuyệt rồi, chẳng dây vào nữa, công an túm được thì chết.

– Ừ, không hít nữa là tốt.

– Sao lại hít?

– Chú chưa biết rồi, bây giờ toàn hít với chích thôi, công nghệ hay lắm. Cháu biểu diễn cho chú xem nhé. Chú vào đây.

Chi nói nhỏ với chủ quán, lấy một gói giấy bé xíu rồi kéo Phong vào trong góc khuất, nhanh nhẹn mở gói giấy, đổ ra giấy bạc thuốc lá một chút bột trắng đưa lên mũi, bật lửa hơ dưới gầm giấy bạc. Một làn khói mỏng bốc lên, thơm dễ chịu và quyến rũ. Phong nhìn, thấy người như đê mê theo. Tự nhiên cái cảm giác bồng bềnh huyền ảo ngày nào như trỗi dậy. Lát sau, Chi như tỉnh táo hơn bảo Phong:

– Chú có muốn thử lại một tý không? Cháu chiêu đãi, rẻ bèo ấy mà.

Phong còn đang đờ người ra, chưa kịp phản ứng gì thì Chi đã mang cái chúng nó gọi là tép vào, dốc thuốc ra giấy bạc, dí vào mũi Phong rồi bật lửa. Phong dùng mũi, dùng mồm hít hết làn khói mong manh ấy vào lồng ngực. Một cảm giác lâng lâng, sảng khoái, rần rật chạy trong cơ thể Phong, đưa Phong vào mê cung huyền ảo. Phong như mộng mỵ, như được bay lên, đắm chìm vào cõi bồng lai, lai láng.

Rồi Phong thấy mình như được tiếp thêm sức mạnh, những mệt mỏi và cựa quậy của hòn hạch, tự nhiên bay đi hết, chân tay như hoạt hẳn ra. Đoạn đường từ phố huyện về Seo Sơn như ngắn lại.

Đêm hôm ấy, Phong như trở về với tuổi thanh niên cường tráng khiến Vân Thục cũng cảm thấy bất ngờ và mãn nguyện.

Hôm sau, Tấn Phong thấy cảm giác buồn buồn chạy khắp cơ thể. Sự khát thèm cái làn khói mong manh ấy đay nghiến Tấn Phong, giục Tấn Phong phải nhanh chóng tìm về với nó. Tấn Phong phóng xe máy ra phố huyện. Đến quán nước hôm qua đã thấy Chi ở đấy có vẻ như đang chờ Phong đến, nó nói nhỏ đủ cho Phong nghe:

– Nhân bảo như thần bảo, cháu biết thế nào chú cũng đến mà. Đời người sống được mấy nả, nhịn thèm làm gì cho nó khổ. Thôi vào đây, cháu bảo cô chủ lấy thuốc cho, rồi nhanh về kẻo người ta nghi ngờ, bất lợi. Mà chú nhớ tìm chỗ kín đáo mà hít, đừng để ai, kể cả cô nhà chú biết đấy.

Phong ừ rồi rút tiền lấy cả một chục tép để đỡ phải đi lại nhiều. Bấy giờ Phong mới biết giá một tép thuốc không hề “bèo” một chút nào.

Sau mấy năm ngồi bóc lịch trong trại giam, kiến thức của Phong về chất gây nghiện vẫn chỉ là nàng tiên nâu trong Tám Một đỏ. Tiếp xúc với Chi, Phong như người đi từ sông ra biển, được mở rộng tầm mắt, mới thấy nền văn minh hiện đại đã tiến xa đến thế nào. Phong đã được biết rằng chất bột trắng đã cho Phong niềm đam mê tuyệt vời đó được coi như là thứ thuốc phiện cao cấp, được nền văn minh hiện đại sản xuất ra để con người được thăng hoa cùng cảm xúc thần tiên. Thứ thuốc ấy có tên là hê-rô-in.

Thế là Phong lại được đê mê, sảng khoái, lại được miên man trong phù du hưởng lạc.

Hết chục tép thuốc ấy, Chi còn hướng dẫn Tấn Phong việc tiêm chích nữa. Cái cảm giác phê thuốc đã kích thích Tấn Phong, Phong cảm thấy mỗi lần được phê thuốc như được sống trong một thế giới khác, đầy ảo vọng mênh mông, được đắm chìm trong mê cung mãn nguyện.

Đối với Tấn Phong giờ đây thứ thuốc thần dược ấy đã là tất cả. Trước đây Tám Một đỏ chỉ được ví như người vợ thôn quê mộc mạc, nâu sồng chân đất, gắn bó với Tấn Phong một thời cám tấm. Còn bây giờ hê-rô-in như tiểu thư thành phố khuê văn, đài các, cổ kiêu ba ngấn, đong đưa, lúng liếng, có sức thu phục làm nghiêng ngả thành trì, đảo khuynh trời đất.

Mỗi lần hít những làn khỏi mỏng manh ấy vào cơ thể mình, Tấn Phong thấy như được tiếp thêm nguồn sinh lực đê mê quằn quại. Cái cảm giác thần dược đó đã đưa Tấn Phong đi vào cõi bồng lai tiên cảnh, rạo rực, mơ hồ, bông bênh, huyền ảo.

Một buổi, Tấn Phong có việc qua bản Cọ Sơn.

Cơn mưa chiều sầm sập kéo dài như trời không muốn dứt. Sẩm tối thì nước suối Khe Moong lên cao đổ từ thượng nguồn Khe Cút về qua Bến Tình, khiến đôi bờ ngập tràn mênh mông nước trắng. Nước lên to thế này thì chịu thật, có tài thánh cũng không sao lội qua suối để về nhà được. Tấn Phong đành mắc kẹt ở bên kia suối.

Cơn thèm thuốc khiến Tấn Phong vật vã trong người, những cái hạch phối hợp với cơn đói thuốc như muốn làm phản Tấn Phong, khiến cơ thể Tấn Phong bứt rứt, cứ như có hàng vạn mũi kim châm chọc vào mọi nơi, mọi chỗ. Tấn Phong vò đầu bứt tai không sao ngủ được. Một đêm mà đối với Tấn Phong dài như thế kỷ.

Sáng hôm sau, Phong ra bờ suối từ sáng sớm, chờ nước rút lội về nhà.

Về đến nhà, không kịp thay quần áo ướt, Tấn Phong chui vào buồng lấy xi lanh bơm thuốc, chích luôn vào cánh tay. Bơm hết cữ thuốc mà cảm giác tỉnh táo, phấn chấn chưa thấy về, Tấn Phong tiếp tục bơm thêm cữ nữa. Thuốc chưa kịp bơm hết, Tấn Phong đã thấy mình như bồn chồn, rạo rực khó tả,  mồm miệng đắng ngắt, choáng váng, chân tay như đờ ra. Phong ngáp một tiếng, lả đi, gục xuống, mê man bất tỉnh.

Lúc Vân Thục vào buồng thì cơ thể Tấn Phong đã lạnh ngắt.

Đám ma Tấn Phong được tổ chức ngay sau đó. Dù gia đình Vân Thục và các con không ai hé nửa lời về nguyên nhân cái chết của Tấn Phong, nhưng mọi người đều biết Tấn Phong chết vì bị sốc thuốc.

Thôi! Thế cũng là xong một kiếp người trầm luân. Được đào tạo với bao nhiêu khóa học, đủ các loại bằng cấp đủ để hơn người, Tấn Phong đã bao lần kinh bang tế thế, diễn thuyết đăng đàn, tưởng chừng cứng vững trước mọi sóng gió cuộc đời. Ấy thế mà cũng không tránh khỏi một lần sa đà, vô tình lạc bước vào nơi phù phiếm, để rồi khói thuốc đốt cả đời người, hủy tan sự nghiệp, lưu lại tiếng xấu bôi danh.

Thế mới biết, cuộc đời con người giữ gìn cho trọn vẹn mọi đường ăn ý ở là một việc thực sự khó khăn, chứ một khi quyền chức có trong tay, chót sao nhãng dù chỉ phút giây ngắn ngủi để tâm không sáng, trí không thiện, gan không bền thì khó lòng giữ gìn cơ nghiệp được.

Việc đời chẳng biết thế nào mà lường, thường thường “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Sự mừng chẳng mấy khi lặp lại, việc tổn thất cứ đua nhau ập đến. Âu đấy cũng là lẽ thường.

Mấy tháng sau ngày Tấn Phong chết, Vân Thục cũng thấy cơ thể mình luôn mỏi mệt, chán không muốn ăn cơm, luôn như ngây ngấy sốt, người gầy rộc hẳn đi, khắp người hạch chạy cứ như quen đường thuộc lối.

Thế là Vân Thục biết mình sắp gần đất xa trời. Căn bệnh của Sán Lùng đã gọi Vân Thục về nơi vân du bách tuế.

Chưa bao giờ Vân Thục tha thiết được sống như thế này.

Từ khi dứt được mối quan hệ làm ăn, buôn bán với Nguyễn Uyên và Đỗ Pháp Vân Thục thấy cuộc đời có biết bao điều đáng để thèm khát.

Dù đồng tiền chẳng có tội tình gì, nhưng đồng tiền trong canh bạc với Uyên và Pháp nhơ nhớp, bẩn thỉu đã trói chặt Vân Thục vào tấn trò đời đầy khốn nạn và bất lương.

Bây giờ đã thoát khỏi những cạm bẫy đó, Vân Thục như thấy thanh thản và da diết muốn được đem sức lực của mình làm được việc gì đóng góp cho dân bản. Vân Thục khát khao được sống như Hoàng Thị Dung những ngày này, dẫu rằng tiền của chẳng có là bao so với Vân Thục, nhưng có đầy Phẩm Hạnh. Phẩm Hạnh đó là Phẩm Hạnh của một người phụ nữ can trường và nhân cách trước muôn vàn gian lao, khổ ải. Cuộc đời của Dung khi bị Triệu Văn Cưởi lừa gạt đã tưởng chừng đi vào ngõ cụt, nhưng chị đã lấy lại bình tâm để lao tâm khổ trí cùng công việc. Chị như cánh hoa quý, vượt lên trên sương gió phong trần giữ mầu hoa càng tươi, càng bền, càng đẹp.

Thế nhưng Vân Thục còn làm được gì nữa. Ngày đã cạn lắm rồi, mệnh đã biết sẽ lụi tàn như ngọn đèn sắp tắt. Vân Thục cũng chẳng có mấy ai là bạn bầu thân thiết, chia sẻ tâm can. Những lúc mạnh khỏe thì lao vào mánh mung, buôn bán kiếm tiền, giao du với bọn người ma giáo, chẳng được sống với những chân thành, tình nghĩa, nên giờ chẳng còn đủ thời gian xây lại cảm xúc bạn bè.

Vân Thục cũng không đủ can đảm để nói ra những lời căn dặn, sám hối trước những việc làm đã qua, nên khéo léo dặn dò con cái, lại ý tứ có lời nhờ họ mạc các bên, nhờ bà con dân bản trông nom, dạy dỗ chúng nên người, biết vì mọi người mà sống.

Vân Thục xem lại liều thuốc ngủ mạnh đã chuẩn bị sẵn sàng và lo toan mọi việc cho ngày vĩnh biệt, không muốn cho ai biết sự thật chuyện ra đi của mình.

Một buổi sáng, mọi người thấy Vân Thục cứng đơ trên gường, nét mặt thanh thản, phảng phất một nụ cười. Ai cũng nghĩ Vân Thục bị cảm mạo.

Thế là Vân Thục đã đi vào cõi vĩnh hằng.

44

Mưa giăng giăng rồi nắng ướt mềm thi nhau tưới khắp đồi chè Đá Vách. Mới có năm năm mà những đồi chè đã vào kỳ giao tán. Búp chè đua nhau ken dầy, tua tủa, non mềm đơm trên mặt tán cong đều mềm mại. Khắp vùng chè Đá Vách như lung linh một sắc xanh óng ả dưới ánh mặt trời. Những chiếc máy hái chè đua nhau làm việc, hối hả đưa về nhà máy những bao chè non mẫm.

Đất Đá Vách trước đây khô cằn sỏi đá, chè vè còn khó sống, nhưng được cái có những vi chất tạo cho chè có hương vị đặc trưng hơn hẳn chè các vùng lân cận. Chả thế mà từ xưa tới nay, những người sành chè đều đến mua chè Đá Vách.

Chính vì tiếng lành đồn xa, công ty San San của Nhật đã tìm đến liên doanh với Công ty Đá Vách được hơn một năm nay. Người Nhật thấy chất lượng chè búp tươi của Đá Vách không thua kém gì chất lượng chè vùng Sa Ka của họ, nên đã tìm đến và đầu tư một nhà máy chế biến chè theo công nghệ đặc biệt của Nhật tại Đá Vách.

Qua năm, sáu năm nay, năm nào vườn chè Đá Vách cũng được đầu tư một lượng đáng kể phân chuồng từ chuồng trại chăn nuôi lợn và phân xanh cốt khí. Lượng phân vừa bón cho gốc chè, vừa bón cho cốt khí nên cốt khí cứ xanh um, nốt sần của rễ đem lại cho đất lượng đạm bổ xung, lá cành của cây đem lại độ tơi xốp và bổ xung mầu mỡ cho đất. Rồi lá chè già, rồi cành ngọn sau đốn. Tất cả đều để lại mầu mỡ trên lớp đất đá ong ngày nào lở loét, khô ráp dưới chân người, khiến bây giờ bước vào vườn chè đất xồm xộp, mát êm.

Năng suất vườn chè bây giờ đã trên mười tấn một héc ta và mỗi năm mỗi tăng. Liên doanh đang áp dụng phương pháp che lưới đen hạn chế tia cực tím trong ánh nắng mặt trời để nâng cao chất lượng chè búp, nhằm chế biến ra những mặt hàng chè đặc biệt cao cấp.

Hơn một trăm héc ta chè của đội chuyên canh chè Đá Vách đã giao cho dân bản  được Giám đốc Hà Trọng Căn đầu tư ứng trước toàn bộ để trồng mới lại theo quy trình chè giâm bầu, thu mua búp chè tươi sau cũng qua thời kỳ kiến thiết cơ bản, bước vào giai đoạn kinh doanh, đàm bảo cung ứng nguyên liệu cho nhà máy chế biến.

Những hồ đập xen kẽ giữa những đồi chè bây giờ lúc nào cũng đầy nước.

Nước được lấy từ thác Kẹm Hem qua một hệ thống cọn nước bằng nhựa cứng mầu vàng óng, thay cho tre nứa, đảm bảo vừa bền vừa nhẹ, được bàn tay vàng Đinh Công Tấn thiết kế và xây dựng trông thật nên thơ, ngày đêm rì rào đưa nước từ Bến Tình lên cao, đổ vào mương nước dẫn về đập.

Một hệ thống ống dẫn bằng nhựa và thép mạ cũng được đầu tư xây dựng, chôn ngầm, chôn nổi, kéo dài từ phai Khe Măng vòng sang Đá Vách, cung cấp nước bổ sung cho hệ thống hồ đập, khiến Đá Vách quanh năm lúc nào cũng sung mãn nước.

Trước kia đồng đất khô cằn, nước có đến đâu, thấm và bốc hơi đến đó nên khô cằn vẫn cứ khô cằn. Giờ Đá Vách mầu mỡ đủ đầy, nước nôi không thiếu, cây cối xanh tươi, khí hậu tiểu vùng mát mẻ nên nước chẳng thấm là bao, bốc hơi cũng bớt, làm cho vườn chè đã xanh tươi lại xanh tươi thêm.

Cả một vùng Đá Vách nay đã óng ả chè, mượt xanh như nhung lụa, dậy lên hương vị dịu thơm, nồng ấm. Những hàng cây muồng hoa vàng bóng mát điểm tô cho những đường bờ lô với viền cao che nắng, chắn gió, khiến không gian không còn sự ngột ngạt ngày nào. Thay vào đó là sự yên bình của trời, của đất. Những đàn chim ríu rít từ mọi nơi về xây tổ, chen nhau cất tiếng hót véo von. Những đàn cò, đàn vạc kéo nhau về đậu kín trên những thảm tre, bãi luồng ven hồ ven đập, mỗi sáng mỗi chiều khỏa vào không gian những âm thanh chiu chít, gợi nên sự trù phú, thanh tao, khiến lòng người như xôn xang, nao nức.

Khói nhà máy chế biến chè mỏng tang, nhẹ bay trong nắng sớm. Hương vị chè ngọt thơm, phả vào không gian khiến đất trời như dịu dàng, mơ hồ, huyền ảo. Nhà máy chế biến thức ăn gia súc nồng nàn mùi đậu đỗ rang xay, ngô nghiền ngon đượm, búng vào không gian niềm ước ao chín mầu hạnh phúc. Khu công nghiệp đông lạnh, chế biến thịt lợn xuất khẩu mới được đầu tư xây dựng râm ran tiếng lanh canh đóng hộp bao bì, miên man tiếng băng chuyền vận chuyển làm cho không gian cứ sôi động như tằm đang vào mùa ăn rỗi.  Từng đoàn xe chở hàng chè xuất khẩu ríu rít bon trên những con đường láng nhựa như những con trăn khổng lồ đen bóng, khiến Đá Vách như miền đất đầy ấn tượng.

Tiếng con trẻ đọc bài riu ran cùng tiếng róc rách suối đàn Khe Moong, Bến Tình, Kẹm Hem, Đá Đụng, tiếng vỗ cánh mơ hồ của đàn ong siêng năng tìm hoa, hút mật, cùng miên man sóng lúa nếp cái Quà Đen từ Cọ Sơn vọng lại, tiếng Rừng Đại Ngàn Khe Cút xôn xao thoang thoảng phổ về dệt lên khúc nhạc nao lòng cùng Đá Vách.

Chiếc cầu treo sênh sang vắt ngang đôi bờ Khe Moong, soi bóng xuống Bến Tình nước đang vào mùa trong vắt. Những cọn nước vàng ươm phô mình đài các, đưa nước dềnh lên, chẩy vào mương tưới cao gần chục mét như vẽ vào nền trời những nét chấm phá điệu đà mơ mộng.

Cả một vùng Khe Cút, Cọ Sơn, Đá Vách của Seo Sơn rộng hàng nghìn héc ta nay đã thành điểm du lịch cộng đồng trong hành lang du lịch của vườn quốc gia Phia Boóc. Những chiếc xe ngựa nhạc cổ binh boong chở khách viễn du trên những con đường đất mịn  thăm quan những danh lam thắng cảnh.

Thôi thì khách ngoại quốc có, khách du lịch nội địa có, cứ nườm nượp vào ra.

Biết bao người ngây ngất trước vẻ tao nhã tuyệt thế của Thác Mơ với dải lụa từ đỉnh cao núi đá, trổ mình xuống lưng chừng Rừng Đại Ngàn Khe Cút. Tắm trong vụng nước mát rượi, ngâm mình dưới làn nước trong vắt giữa mùa hè nóng như đổ lửa, hít thở mùi rừng già đẫy nhựa, ai ai cũng thấy thanh thản. Rồi ngắm nhìn những bọng ong rừng ngọt lịm phấn hoa, những đàn cầy hương thập thò qua kẽ lá như đùa trêu du khách, hít thở không khí đại ngàn của những cây rừng đủ loại đinh lim, sến táu lực lưỡng, cao vút, những giò phong lan đủ mầu sắc vắt vẻo lưng chừng đại thụ và hít thở mùi chuối rừng chín cây thơm lựng khiến du khách tưởng lạc vào chốn phiêu du mộng tưởng.

Đã thế, khách sành chơi được đắm chìm trong những điệu ví, điệu giang, âm vang tiếng lòng chàm đuống của nền văn hóa dân tộc. Từ đây bao người tìm hiểu lễ hội ném còn, đánh đu, tết nhẩy, phong tục cấp sắc, của đồng bào người Mường, người Dao ở Cọ Sơn. Người ta còn được thưởng thức những tiệc rượu cần ngọt lừ, thoang thoảng mùi vị mật ong hoa bồ đề, hoa dẻ rừng thơm ngát, ngả nghiêng trên những ngôi nhà sàn hoặc nửa sàn nửa đất, với những món ăn dân dã của mường, của bản như rau nương đồ trong hông gỗ, cá suối cặp vỉ tre non nướng vàng cườm trên than hoa gố nghiến, những ống thịt chua thơm mùi thính gạo, lại nữa, lợn cắp nách bẩy món ở thâm sơn và những lóng cơm lam thoang thoảng mùi nứa non nướng chín. Họ càng thêm thấu hiểu những nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào vùng cao, thấu hiểu lòng mường trù phú.

Khách viễn du còn được rung rinh trên lòng xe ngựa trải thảm vỏ cây sui già giữa đồng lúa nếp Quà Đen đang vào mùa phơi đòng làm hạt. Hương lúa dịu dàng mơn man khứu giác đưa lữ khách vào chốn mộng mơ căng tràn nhựa sống. Cũng có khi đi trong mùa lúa đang thì con gái mượt mà xanh non, khiến lòng người mát rượi, phơ phất xúc cảm, quên đi bao phiền muội ở đời. Hoặc vào giữa vụ gặt mùa, hương thời gian đậm đà phả trên cánh mũi, mùi lúa mới nồng nàn cứ reo rắt theo nhịp chân các sơn nữ lao xao về bản.

Đi qua cầu treo Bến Tình, ngắm nhìn làn nước trong, in hình nhau dưới suối, ai đó nhớ về thủa đã qua bóng áo cóm căng đầy, bóng chân trần trắng mịn khỏa nước cứ xôn xao, thao thức gọi về với tự nhiên khoang khoải để náo nức trong lòng.

Rồi cọn nước miên man bên bờ suối, như những bánh xe quay tròn đùa nghịch dâng nước lên cao gần bằng ngọn cây, lãng đãng trêu ngươi mây trời, giữa không gian sơn thủy hữu tình, nắng gió xuyến xao.

Du khách được rong chơi bên hồ nước Đá Vách với từng đàn cá lội tung tăng, phô những hàng vây bạc, lấp lánh trong làn nước xanh trong. Những khóm sen xanh mượt lá, những đóa hoa súng đỏ tươi, thoang thoảng hương đưa dìu dịu. Những đàn cò trắng sải cánh trong nắng, chấp chới cùng mầu xanh non tơ của búp chè. Tất cả như đồng điệu với lòng người, dịu dàng như những lời xuân thì của người sơn nữ điệu đàng.

Họ còn được tắm trong không khí lao động hăng say trên đồng chè, trong nhà máy, được ngắm nhìn đàn lợn chuẩn bị xuất chuồng no tròn béo nục, những đàn lợn con tung tăng đùa nghịch, những sản phẩm đông lạnh xuất khẩu, những hộp thịt ánh lên mầu thiếc trắng. Khách gần, khách xa còn được thưởng thức những chén chè nước xanh như mật vịt, được pha với động tác điệu nghệ khiến họ không khỏi buông lời tấm tắc, xuýt xoa.

Khách du ra về, mang theo bao tình yêu mến với Seo Sơn. Quà thì đây, những mặt hàng thổ cẩm đầy ắp tình người, những chai mật ong sánh vàng hương Khe Cút, những túi gạo nếp Quà Đen ăn một lần nhớ mãi, rồi biết bao đặc sản của rừng. Lại nữa, những ấm chè ngọt dịu lời mời, những ống cơm lam thảo thơm tình nghĩa.

Khu du lịch sinh thái cộng đồng Đá Vách Cọ Sơn đã phát triển kéo theo bao nhiêu nghề truyền thống được ươm mầm và phát triển. Công ty lữ hành cũng ra đời bổ xung ngành nghề cho liên doanh Đá Vách.

Một mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp đa ngành, đa nghề, quan tâm đến cả nội tiêu và xuất khẩu, giữ Rừng Đại Ngàn bền vững kết hợp với du lịch sinh thái cộng đồng, hoạt động lữ hành cùng kinh doanh các sản phẩm truyền thống, khai thác đất đai và bồi bổ nâng cao độ phì nhiêu cho đất, giữ gìn môi trường đã làm cho Seo Sơn trở thành hình mẫu nông thôn mới, văn hóa, văn minh thay thế cho vùng đất vốn trước đây là thâm sơn cùng cốc.

*

Đêm nay trắng sáng quá, Giám đốc Hà Trọng Căn mê mải đi trong hương chè giữa một vùng Đá Vách căng tràn nhựa sống. Công sức bao ngày lao tâm khổ tứ của anh, của Triệu Thị Bầu, của Hà Trí Lâm, của Triệu Thị Hân và bao nhiêu bạn bè, đồng chí, anh em, dân bản đã đơm hoa kết nhụy.

Seo Sơn đã ngập tràn niềm vui và hạnh phúc. Mọi điều tội lỗi đã được lịch sử phán xét, những dang dở đã được hồi sinh, những ước mơ khát vọng đã thành hiện thực.

Anh mải mê ngắm nhìn bầu trời đầy sao, những ngôi sao nhấp nháy, có ngôi thấp, ngôi cao, ngôi thấp thì sáng, ngôi cao thì mờ. Trong các ngôi sao đó, có những ngôi chưa kịp rọi ánh sáng xuống mặt đất đã tàn, có những ngôi lung linh tỏa sáng bất chấp thời gian. Người ta nói mỗi ngôi sao là một linh hồn của một người, không biết có thật thế không?

Trước mặt anh là Cầu Treo Bến Tình lung linh trong điện sáng, giờ đã thành điểm vui chơi của thanh niên các bản ven bờ Khe Moong như Đá Vách, Cọ Sơn. Anh nghe giọng đồng dao vang lên từ Bến Tình: Một ngôi sao sáng, hai ông sáng sao…

Lời bài hát cứ như quyện lại, bổi hổi bồi hồi cùng hương chè, hương lúa, hương rừng và như thơm cùng mùi mồ hôi nồng nàn sau những giờ miệt mài lao động.

Anh thấy ấm trong lòng và anh cũng muốn ngân lên: “Một ông sao sáng, hai ông sáng sao …” như lớp trẻ.

VŨ QUỐC KHÁNH

(Hết trích)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *