Seo Sơn – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 2

Vanvn- Vân Thục biết đã đi vào con đường hầm không lối thoát. Ê chề nhận ra mình đã phản bội chồng, không phải chỉ phản bội bằng thân xác, mà đã phản bội cả linh hồn. Không những chỉ phản bội chồng mà cô còn phản bội cả dân bản, phản bội làng xã. Bây giờ cô muốn quay đầu lại cũng không được nữa. Lối về đã bị lấp kín. Chắc chắn rằng việc Đỗ Pháp đưa thuốc cho cô đã được ghi hình. Những kẻ đó không phải còn non nớt đối với những việc này…

Nhà văn Vũ Quốc Khánh

>> Tiểu thuyết Seo Sơn: Từ thực tế đến trang sách

>> Seo Sơn – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 1

 

36

Cửa hàng của Vân Thục đúng là trở thành Trung tâm Thương mại không những của Seo Sơn mà còn của các xã vùng cao quanh đấy. Từ sáng sớm cho đến tối đêm lúc nào cửa hàng cũng đông nườm nượp. Các cửa hàng ngoài phố huyện cũng không thể đông đến như vậy. Đúng là con mắt của Đỗ Pháp là con mắt tinh đời.

Ngoài Xuân vừa là người phụ trách, vừa là người thu ngân, Vân Thục đã phải chọn lựa và bố trí tới bốn nhân viên bán hàng trẻ và xinh xắn. Ấy thế mà lắm ngày nhân viên phải thay nhau nháo nhào vừa ăn cơm trưa, vừa bán hàng.

Áp dụng cách bán hàng ở các siêu thị ngoài Móng Cái, hàng hóa ở cửa hàng Vân Thục được xếp trên các giá thấp để tiện cho khách hàng chọn lựa. Khách hàng muốn mua gì cứ tự chọn hoặc gọi nhân viên bán hàng lấy cho. Khi ra về qua cửa chính Xuân mới bao gói và thu tiền, vì thế khách hàng rất thoải mái.

Không những luôn luôn được các nhân viên phục vụ chu đáo, khách hàng còn được những lời cám ơn, những nụ cười thân thiện, thậm chí những ánh mắt chào mời hào phóng, điều mà các cửa hàng Bách hóa Nhà nước hiếm khi có được.

Tất nhiên, các nhân viên này dù có tế nhị với khách nhưng không bao giờ quên nhiệm vụ của mình là giám sát khách hàng, bởi họ hiểu rằng khách hàng là thượng đế, nhưng trong số họ cũng đôi khi có thượng đế rớm, chỉ muốn ăn người.

Cơ chế thị trường là vậy, bên cạnh ánh mắt tình cảm kia là một bàn tay thép, không nhân nhượng, sẵn sàng bóp nát những hành vi trộm cắp, dẫu có được bọc mấy lần nhung lụa.

Việc thu mua chè búp khô chế biến theo dạng nửa sao nửa phơi, trộn bột sắn, bột đá của Vân Thục càng ngày càng tăng số lượng, khuyến khích các lò sao tư nhân mọc lên như nấm. Qua vụ xuân, chè vào chính vụ được mưa búp lên tua tủa. Các lò sao theo phương châm bất cần chất lượng càng có điều kiện hoạt động suốt ngày đêm. Cửa hàng thu mua của Vân Thục cũng ngày đêm mở rộng cửa, đón tiếp khách hàng đem chè đến bán.

Những người có lương tri đem chuyện chế biến chè này phản ánh với Phó Chủ tịch xã kiêm Trưởng công an Nguyễn Uyên, bởi không ai dại gì phản ảnh với Chủ tịch xã Tấn Phong, vì họ thừa biết quan hệ Vân Thục và Tấn Phong như thế nào.

Nguyễn Uyên bảo họ:

– Cơ chế thị trường mà, thuận mua vừa bán thôi, chẳng ảnh hưởng tới ai cả. Ai biết họ mua làm gì, chắc gì mua để uống. Đất nước họ giầu có, dân họ dùng toàn đồ đẹp, người ta lại chẳng biết phân biệt đồ ngon đồ dở à. Việc gì các ông các bà phải bận tâm? Làm gì thì làm, cứ có nhiều tiền là được.

Thế là những ý kiến đó như được ném vào gió thổi. Người ta đành lắc đầu, lè lưỡi, nhắm mắt cho qua.

Đỗ Pháp chẳng mấy khi có mặt tại Đá Vách, mà có xuất hiện thì cũng thoắt ẩn thoắt hiện, đi mây về gió. Theo lời Đỗ Pháp, Sán Lùng còn giao bao nhiêu việc của công ty cho Đỗ Pháp giải quyết. Vì thế mọi công việc mua bán chè ở Seo Sơn và giao hàng đến Móng Cái đều do Vân Thục điều khiển.

Hôm nay, lại đến kỳ Vân Thục đi giao hàng. Ba xe ô tô hai dàn, hai dí của công ty Sán Lùng đã được xếp đầy hàng, phủ bạt kín mít, chuẩn bị đợi giờ là xuất phát. Cánh lái xe và áp tải trong lúc chờ lệnh đang ngồi tụ tập đánh tá lả. Hầu như rỗi rãi họ đều sát phạt nhau thế cả. Thời buổi “người người đi buôn, toàn dân đánh phỏm” mà.

Trước lúc lên xe, Tấn Phong bảo Vân Thục:

– Lên đấy, nhớ bảo Đỗ Pháp mua cho tôi mấy tút Tám Một đỏ nhé. Đã hút cái anh này mà hút các loại khác nhạt phèo, cứ như hút rơm khô vậy.

– Hút gì hút lắm vậy. Vừa hai tút hôm nào mà đã hết rồi à? Loại này nghe Đỗ Pháp nói đắt lắm đấy.

– Đắt cũng phải mua, bao che cho các người làm ăn chụp giật để các người có tiền trăm, bạc vạn còn được mà các người nỡ tiếc mấy đồng bạc lẻ à? Liệu thần hồn đấy, không thì …

Tấn Phong bỏ lửng câu nói, Vân Thục kéo Tấn Phong vào buồng giảng hòa:

– Thôi, làm gì mà cau có thế, đây em đền …

Vừa nói Vân Thục vừa ôm ghì lấy Tấn Phong, những mong ở Tấn Phong một sự đáp trả, nhưng Tấn Phong đẩy ra:

– Thôi đi đi cho kịp giờ, để lúc khác. Nhớ mua thuốc cho tôi đấy.

Nhuệ khí Vân Thục tự nhiên như bị thùng nước lạnh xối vào, xẹp xuống như quả bóng đang căng bị chọc thủng, xì hơi. Vân Thục xách túi giận dỗi chạy ra xe. Dạo này hàng tuần Tấn Phong chẳng ngó ngàng gì đến chuyện vợ chồng. Cơ thể Vân Thục tràn đầy sức lực quyến rũ mà chịu nằm không thì sao chịu nổi. Tức mà không biết dãi bầy thế nào, ngồi trên xe nước mắt Vân Thục cứ ứa ra, hờn tủi.

Xe lên đến Móng Cái tầm nửa buổi chiều. Giao hàng xong là vừa tối. Vân Thục cơm nước, tắm gội xong, đang nghỉ tại khách sạn của công ty, chờ sớm mai làm thủ tục thanh toán và chuyển tiền thì Đỗ Pháp tới bảo:

– Giám đốc Sán Lùng cho mời cô lên làm việc. Cô lên tầng ba, phòng kế bên phải, Giám đốc đang chờ.

– Anh đưa em lên chứ?

– Tôi phải đi có chút việc, cô cứ lên một mình. À mà anh Phong có dặn lấy thuốc lá cho anh ấy không? Nếu có, đây là hai tút tôi mua sẵn dành cho anh ấy, Loại này tôi cũng không mua được nhiều, cô cầm về cho anh ấy nhé.

Vân Thục tự nhiên thấy nóng trong người, bồn chồn lên tầng, run run gõ cửa. Một giọng nói lơ lớ vang lên:

– Mời vào.

Đẩy cửa bước vào. Đấy là một căn phòng rộng, bầy đặt các vật dụng sang trọng, cầu kỳ và bắt mắt, nhưng vắng lặng, không một bóng người, Giám đốc Sán Lùng cũng không thấy đâu cả. Vân Thục nghĩ hay mình nhầm phòng, đang định quay ra thì cánh cửa kính gian kế bên nhẹ nhàng mở và một người đàn ông tầm thước, khuôn mặt nhẹ nhàng, thanh tú, tay cầm chai rượu bước ra.

– Cô là Vân Thục? Cô ở Seo Sơn?

– Vâng ạ, em lên giao hàng cho công ty.

– Tôi đã được Đỗ Pháp cho biết rồi. Tôi muốn gặp cô để hỏi thăm về Seo Sơn thôi.

– Giám đốc biết Seo Sơn ạ?

– Tôi cũng biết chứ. Mua hàng ở đấy mà chẳng lẽ không biết tý gì. Đỗ Pháp có kể sơ qua nhưng tôi muốn biết thêm một số chi tiết nữa.

– Thế ạ. Giám đốc cần hỏi gì, em xin cung cấp ạ.

Giọng nói đúng là của người Tầu nói tiếng Việt, lơ lớ, nhưng không khó nghe lắm, dáng là ở Việt Nam đã lâu. Giám đốc Sán Lùng rót rượu mời Vân Thục và hỏi những câu về cảnh vật, con người ở Seo Sơn từ thời xưa cũ. Nhiều câu hỏi Vân Thục không biết vì Vân Thục mới vào Seo Sơn có mấy năm, những gì của Seo Sơn thời trước làm sao Vân Thục biết được.

Thì ra Giám đốc Sán Lùng biết về Seo Sơn hơn nhiều so với cô. Hỏi lại Vân Thục chỉ nhận được từ Sán Lùng câu trả lời “cái nghề kinh doanh nó phải thế, không biết thế sao làm ăn buôn bán ở Seo Sơn được”.

Uống xong chén rượu, Vân Thục thấy người rạo rực giống ngày nào Tư Phây mời cô uống khi lần đầu gặp gỡ. Thế là Vân Thục hiểu Giám đốc Sán Lùng muốn gì ở cuộc gặp hôm nay. Bị Tấn Phong thờ ơ lâu ngày, chắc chắn Vân Thục chẳng tội gì mà bỏ qua ham muốn của vị Giám đốc giầu có và đa tình này, nhưng Vân Thục hiểu cần phải làm gì để đề cao danh giá của mình. Qua thực tiễn tình trường Vân Thục nghĩ mình có đủ kinh nghiệm để làm điều đó.

Khi Sán Lùng giang tay định ôm Vân Thục thì Vân Thục tìm bằng mọi cách trốn chạy. Sán Lùng càng đến sát thì Vân Thục càng trách xa, nhưng bao giờ cũng dành một khoảng cách vừa đủ để Sán Lùng thấy được hơi thở nồng nàn, đắm đuối của Vân Thục, ngắm được làn da mịn màng quyến rũ của người đàn bà đang độ hồi xuân và ngửi được mùi nước hoa thoang thoảng mà Vân Thục giấu kín đáo giữa đôi gò bông đảo căng tròn náo nức.

Sán Lùng chạy qua chạy lại vẫn chưa tiếp cận được Vân Thục.

Lạ thật, những người đàn bà khác khi đã chịu uống ly rượu Sán Lùng mời thì thì chỉ câu trước câu sau chẳng thể từ chối Sán Lùng được. Hay là Vân Thục là người chính chuyên không thể mua chuộc? Không, bằng chứng ngoại tình của Vân Thục ta còn cầm đây, Vân Thục sao chối từ được.

Nghĩ thế Sán Lùng bảo Vân Thục:

– Chẳng lẽ, Giám đốc Sán Lùng anh không đáng mặt đàn ông bằng người khác, khiến em phải chê anh chăng?

– Không phải, anh ga lăng phong độ lắm, nhưng đời em chưa bao giờ gặp tình huống này nên em không thể …

– Thế à, nếu em đã nói thế anh sẽ cho em xem những bức ảnh này nhé.

Vừa nói Sán Lùng vừa xổ lên bàn bốn năm bức ảnh chụp Vân Thục và Tư Phây ăn nằm với nhau trong khách sạn ở thành phố.

Vân Thục tái mặt. Chuyện của Tư Phây và Vân Thục chỉ có Tư Phây, Nguyễn Uyên là biết, sao người đàn ông này lại có những tấm ảnh này. Hay là Tư Phây phản bội Vân Thục. Không thể. Hay là Nguyễn Uyên bán đứng Vân Thục. Cũng không thể.

Trong lúc Vân Thục còn đang bối rối thì Sán Lùng đã đến bên Vân Thục bảo:

– Ta hiểu nhau rồi nhé. Thôi anh đùa ấy mà, hãy lại đây với anh.

Thế là Vân Thục mềm như con sứa, lả lướt trong vòng tay Sán Lùng bước vào căn phòng bên trong xa hoa và đài các không kém phòng bên ngoài, tự động cởi bỏ váy áo, phô bầy cơ thể hồi xuân tràn căng sức sống bị kìm nén bao ngày lao vào Sán Lùng, hổn hền, ngấu nghiến như tan ra trong dục vọng vô bờ bến của Sán Lùng.

Hôm sau và hôm sau nữa, việc thanh toán vẫn chưa xong, bởi theo Sán Lùng nói người viết phiếu đi vắng, Vân Thục vẫn phải chờ đợi. Sán Lùng thân chinh lái xe đưa Vân Thục ra bãi biển Trà Cổ, đãi Vân Thục sơn hào hải vị, toàn những món ngon, khiến lòng người giậm giật. Vân Thục như ngây, như dại, nghĩ mình sao không gặp Sán Lùng sớm hơn nữa. Hai người quấn quýt bên nhau như đôi sam lâu ngày không gặp. Trời đất liên tục ngả nghiêng, chao đảo, quên đêm quên ngày, quên thời quên khắc.

Vân Thục phó mặc mình cho Sán Lùng bởi nghĩ mình chẳng còn gì để mất nữa. Suy cho cùng, chữ trinh tiết cũng chẳng là gì, đời người không được chồng cho thỏa mãn khát khao thì có người khác, chẳng sao cả. Mọi thứ vẫn nguyên vậy, y như ngày đầu, năm cũ, đâu có đổi thay gì. Tiền là niềm ao ước của Vân Thục ngày còn túng thiếu, chứ bây giờ nhiều ít đối với Vân Thục nào có ý nghĩa gì đâu, miễn sao thỏa mãn được khát vọng.

Đêm ấy, Vân Thục xà vào Sán Lùng, kể cho Sán Lùng về những nỗi uất ức của mình đối với Tấn Phong. Sán Lùng nghe xong tràn đầy thương cảm, hứa hẹn sẽ dành cho Vân Thục mọi sự yêu thương, chở che, đùm bọc sâu sắc nhất. Vân Thục âu yếm hỏi Sán Lùng:

– Anh nơi thế không sợ chị nhà bắt phạt à?

– Anh làm gì có chị nhà nào. Anh một mình gà trống nuôi con đã gần chục năm nay. Đời phiêu bạt ngả đâu là nhà, ngã đâu là gường, bao nhiêu người phụ nữ đến với anh nhưng chẳng có ai chung tình cả và anh cũng chẳng tha thiết với ai cả. Chỉ có em là người khiến lòng anh say mê đắm đuối …

– Thật không? Anh cũng mới gặp em mà?

– Đúng là anh mới gặp em, nhưng như là định mệnh. Em đã mang lại cho anh một tình yêu sét đánh. Dù anh cũng đã biết về em rất nhiều, mọi việc làm ăn, buôn bán, mọi mối quan hệ của em anh đều biết, nhưng hình như chính vì đó mà anh càng yêu em như yêu tự lâu rồi.

Vân Thục ngơ ngác không sao lý giải được con người Sán Lùng. Vì sao mà Sán Lùng rất thông thạo mọi chuyện ở Seo Sơn? Vì sao Sán Lùng lại biết Vân Thục và nhất là vì sao Sán Lùng có được những tấm ảnh chụp cảnh ái ân giữa Tư Phây và Vân Thục? Vân Thục chưa kịp hỏi gì thì Sán Lùng đã hôn như điên như dại lên đôi môi mọng đỏ và đa tình của cô, dìm cô vào sâu trong biển tình nồng ái. Rồi họ thiếp đi trong lai láng đam mê cháy bỏng.

Đúng là Sán Lùng yêu Vân Thục như điên như dại thật. Sau hai người phụ nữ đầu tiên đã nhiều năm tháng sống cùng Sán Lùng thì lâu lắm rồi Sán Lùng mới có Vân Thục là người Sán Lùng yêu đến như vậy. Ôi, người Seo Sơn sao mà đắm đuối, mà đa tình, trói buộc lòng Sán Lùng sâu nặng đến thế nhỉ?

Kể từ khi vào đến đất Sài Gòn, với hàng ngàn cây vàng trong tay và một bộ sưu tập biết bao mưu ma, chước quỷ, Sán Lùng đã tưởng mình có thể ngang ngửa với các anh hai Nam Bộ.

Thế nhưng, cuộc đời không ai học được chữ ngờ. Chỉ trong mấy vụ kinh doanh cùng thương gia Sán Long, một Hoa kiều ở Chợ Lớn, tưởng chừng chắc ăn, chắc thắng nhưng không hiểu sao cuối cùng lại bị thất bại. Rồi mấy vụ bể hụi cũng do Sán Long chỉ đạo mà Sán Lùng khát nước lao vào. Thế là toàn bộ tiền bạc và vốn liếng của Sán Lùng đã tan thành mây khói.

Mẹ Sán Lùng thấy con bị lừa, thất bại thảm hại trong thương trường, uất quá lâm trọng bệnh, rồi mất. Thằng anh em kết nghĩa hàng chục năm trung thành theo Sán Lùng cũng không thể chịu được cảnh đói ăn, thiếu uống, đành xung quân vào đội cửu vạn của Hoa kiều Chợ Lớn làm thuê làm mướn kiếm sống, không biết bây giờ sống chết ra sao?

Còn bố con Sán Lùng lâm vào cảnh khốn cùng, được Sán Long đón về cưu mang, ra ân nhận là em kết nghĩa, đổi tên cho mang họ Ba Tầu thành Sán Lùng và điều ra Móng Cái làm Giám đốc công ty Đài Bắc. Tiếng là Giám đốc nhưng mọi hoạt động chỉ đạo công ty đều do Sán Long trực tiếp điều hành. Hệ thống kế toán tài vụ đều do Sán Long nắm giữ. Con Sán Lùng được Sán Long cho ở lại Chợ Lớn. Sán Lùng hiểu rằng, đó là cách giữ người làm con tin, nhưng cũng phải đành chấp nhận.

Bây giờ có Vân Thục trong tay, Sán Lùng thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng niềm hạnh phúc đó nào kéo được nhiều đâu, chỉ sớm mai Vân Thục lại về rồi. Bất giác Sán Lùng thấy lòng mình thật cô quanh và trống trải.

Sớm hôm sau, Vân Thục làm thủ tục thanh toán và chuyển tiền xong xuôi, lên xe khách về Seo Sơn. Chiều tối Vân Thục về đến nhà, đã thấy Tấn Phong đón từ ngõ.

Điều đầu tiên, Tấn Phong hỏi Vân Thục:

– Cô có mua được thuốc lá cho tôi không? Từ trưa đến giờ chẳng còn điếu nào hút, phải nhặt sái hút rồi đây này.

– Đây! Vợ đi về mệt nhọc chưa hỏi han được câu nào đã hỏi thuốc.

Vân Thục chìa ra hai tút thuốc Đỗ Pháp gửi. Vừa nhìn thấy Tấn Phong đã vồ lấy, bóc vội một bao, hút ngấu hút nghiến, nuốt hết cả khói. Nguyễn Uyên đi qua, cười đắc thắng bảo Tấn Phong xem chừng chẳng cần ý tứ gì nữa:

– Anh Tấn Phong hút thuốc kiểu gì như con nghiện thuốc phiện vậy?

– Chú ăn nói kiểu gì thế? Coi chừng đấy nhé!

– Thì em thấy thế nào em nói thế vậy, có gì đâu?

Tấn Phong gườm gườm nhìn Nguyễn Uyên, mắt đỏ đòng đọc. Nguyễn Uyên cũng ném cái nhìn sắc lẻm về phía Tấn Phong không một chút sợ hãi.

Vân Thục ái ngại lo cho Tấn Phong.

Bất giác trong đầu cô thoáng qua ý nghĩ hay Tấn Phong nghiện ma túy thật. Thằng cha Nguyễn Uyên như con ma xó, dạo này nó không còn biết sợ hãi là gì. Tự nhiên Vân Thục đỏ mặt khi nghĩ đến những tấm ảnh Sán Lùng có trong tay. Lạ thật.

Đêm hôm ấy, Tấn Phong vào ngủ với vợ, âu yếm như để đền bù cho công lao của vợ đã quan tâm săn sóc đến chồng. Vân Thục mặc cho Tấn Phong làm gì thì làm, trong đầu cô chỉ hiện lên hình ảnh Sán Lùng với những cuộc mây mưa vừa đắm đuối, nồng nàn vừa khát thèm, ma quái.

 

37

Vân Thục từ Móng Cái về Seo Sơn được ít ngày thì Đỗ Pháp cũng đến để đốc thúc việc thu gom chè búp khô cho kịp chuyến hàng sắp tới.

Chè khô công ty thu mua càng nhiều, dân tình Seo Sơn càng rủng rỉnh tiền, cửa hàng thương mại tổng hợp của Vân Thục càng đông khách. Quầy giải khát của Vân Thục theo đà phát triển chung cũng nhộn nhịp người ra kẻ vào.

Từ ngày Đỗ Pháp đưa loại thuốc lá Tám Một về cửa hàng đến nay đám thanh niên đua nhau hút, bỏ hết các loại thuốc khác.

Đầu tiên là Tám Một bao xanh xuất hiện. Chỉ trong một thời gian ngắn, Tám Một xanh đã chiếm trọn cảm tình của khách hàng không những vì mùi vị thơm ngon, hút xong điếu thuốc người hút cảm thấy phấn chấn, sảng khoái mà giá cả lại rẻ, cực kỳ hấp dẫn.

Sau đó là Tám Một đỏ bắt đầu có, nhưng rất hạn chế vì khan hiếm. Nghe đâu loại này công ty nhà nước Trung Quốc không sản xuất mà do công ty Đài Bắc sản xuất riêng theo đơn đặt hàng. Đỗ Pháp là người của công ty mới có tiêu chuẩn mua, vì đắt không dám hút, mang về giới thiệu sản phẩm. Khách hàng thân quen, có công lao với cánh bảo vệ mới được đặc cách mua hút, nhưng cũng chỉ được mua nhỏ giọt ngày vài ba điếu lẻ mà giá lại rất đắt, đắt gấp hàng mấy bao thuốc thường. Những người khi đã hút loại này, khi không có cảm thấy bứt rứt khó chịu, phải tìm cho bằng được để hút.

Vân Thục gặp Đỗ Pháp và nghĩ đến lời Nguyễn Uyên nói bèn hỏi:

– Nhà em từ ngày hút thuốc của anh mua cho nghiện quá, không có không chịu nổi, cứ như người nghiện thuốc phiện ấy.

– Ừ thì loại thuốc ấy người ta tẩm thuốc phiện, sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng quyền quý mà lại.

Đến lúc này Đỗ Pháp không úp mở nữa, trả lời thẳng thắn.

– Thôi chết, anh biết thế sao lại mua cho nhà em hút.

– Tôi bận trăm công nghìn việc, có rỗi hơi đâu, đấy là ông ấy bắt phải mua cho ông ấy chứ. Mà hút thì có làm sao, chỉ khỏe người ra thôi. Đắt thì đắt thật nhưng có phải mất mấy tiền đâu mà lo.

– Ôi anh ơi, người ta nói người đã vướng vào nghiện thuốc phiện thì bao nhiêu của nả chui qua lỗ xe điếu hết thôi. Thế này thì anh giết em thật rồi.

– Làm gì mà ghê thế. Vài bao thuốc có thấm tháp gì so với tiền của của vợ chồng cô. Cô cứ lo bò trắng răng cho nó sầu đời đi. Kệ nó, trời sinh voi ắt sinh cỏ. Dịp tới cô lên công ty, nói với giám đốc Sán Lùng cho tiêu chuẩn mua về phục vụ cho đám thanh niên ở đây, bây giờ chúng nó đang thèm khát lắm. Này, tôi bảo, được mua loại thuốc ấy về bán có mà hái ra tiền đấy.

Vân Thục đau đớn như xát muối vào lòng mà không biết nói năng gì. Cô cảm thấy như có thòng lọng siết vào cổ mình, không biết làm thế nào thoát ra được. Cô đã cố gắng thoát ra khỏi cái vòng kim cô Nguyễn Uyên siết lên đầu thì giờ lại mắc vào vòng thòng lọng của Đỗ Pháp. Bất giác Vân Thục nghĩ đến tập ảnh Sán Lùng có trong tay. Chỉ có thể là Nguyễn Uyên cung cấp qua Đỗ Pháp cho Sán Lùng. Cô lờ mờ nhận ra một sợi dây liên kết giữa Nguyễn Uyên, Đỗ Pháp và Sán Lùng. Mối liên kết đó chắc chắn không phải tốt lành gì. Giờ đây chính Vân Thục tay đã nhúng chàm, đã liên quan mật thiết, cùng hội cùng thuyền với họ.

Bây giờ biết làm thế nào? Sao số cô lại khổ đến thế này nhỉ?

Đêm hôm ấy, Vân Thục không sao ngủ được, cứ chong chong nhìn lên đình màn. Cô như bị vây trong vòng vây tuyệt vọng mà Nguyễn Uyên và Đỗ Pháp đã dựng nên. Muốn thoát khỏi vòng vây đó, chắc chắn không thể trông chờ gì vào bọn họ. Chỉ có thể trông cậy vào một người. Người đó là Sán Lùng. Vân Thục nghĩ vậy.

Tìm được giải pháp khả dĩ tối ưu, Vân Thục tạm an tâm thiếp đi, cũng là lúc gà gáy đã râm ran báo hiệu trời sắp rạng.

*

Chuyến hàng lên Móng Cái đã chuẩn bị xong. Hôm nay Vân Thục sắp sỏn công việc đi giao hàng theo kế hoạch.

Ngồi trên xe Vân Thục lung bung với bao suy nghĩ. Một thân một mình, thân gái dặm trường, đi vào nơi hang hùm, miệng rắn, lo đối phó với những kẻ mưu mô hiểm độc không phải chuyện đùa. Cơ chế thị trường đã dậy cho Vân Thục cái chân lý hiển nhiên rằng “ông có mất chân giò, bà mới thò chai rượu”. Điều đó là thực tế.

Ở đời chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ. Người ta cuốc đều giật vào lòng cả. Thế nhưng, có một hạng người chuyên đi lợi dụng người khác để kiếm lời, thậm chí còn nhẫn tâm hơn theo kiểu “ngư ông đắc lợi”. Vân Thục đã bị Nguyễn Uyên đẩy vào tình thế dở khóc, dở cười này. Hắn đã lợi dụng cả thân xác và công sức của Vân Thục để kiếm ăn. Nhưng cái khốn nạn hơn cả là hắn đã dùng ngay những việc làm ê chề và bẩn thỉu đó để khống chế Vân Thục, coi Vân Thục như món đồ chơi, đẩy qua, đẩy lại để mưu cầu hưởng thụ.

Vì vậy, một mình Vân Thục không đối chọi được với chúng. Vân Thục cần tìm một chỗ dựa, kiến tạo một liên minh, ít nhất không cho những kẻ đục nước béo cò ấy tác oai, tác quái.

Vân Thục biết Sán Lùng yêu mình thật. Linh cảm người phụ nữ dầy dạn tình trường cho Vân Thục biết được điều đó. Trong cái đam mê của Sán Lùng có ngọn lửa của lòng trân trọng, có khát khao của tình yêu và lòng quý mến.

Khác với Tư Phây, tình cảm của Tư Phây với Vân Thục là tình cảm hưởng thụ, tình cảm của sự ban ơn, tình cảm của sự cò kè, có đi có lại. Còn tình cảm của Sán Lùng là tình cảm của con thuyền đang cô đơn trên hoang biển tìm được một nơi bến đỗ. Cái khát khao của Sán Lùng mang dáng dấp của sự hàm ơn.

Vì vậy, Vân Thục quyết định lần này đánh bài ngửa hỏi hết Sán Lùng để hiểu hết tường tận mọi điều cho ra ngô, ra sắn.

Nếu Sán Lùng không cho Vân Thục biết rõ sự tình, Vân Thục coi như dùng thân xác mình làm món quà biếu để công việc mua bán thêm thuận lợi giống như đối với Tư Phây. Tấn Phong có biết, thì cũng coi như sự đã rồi, chắc chẳng dám làm to chuyện vì những tút Tám Một đỏ đối với Tấn Phong giờ đây còn quý hơn sự trinh tiết của vợ. Còn như Sán Lùng mở lòng với Vân Thục, Vân Thục sẽ có một đồng minh đủ sức và lực để bóp chết những âm mưu hèn hạ và bẩn thỉu của Nguyễn Uyên và Đỗ Pháp.

Đúng như Vân Thục đánh giá, Sán Lùng thấy Vân Thục lên giao hàng mừng như mẹ về chợ. Sán Lùng bồn chồn mong ngóng ra mặt, quanh quẩn ở chỗ giao hàng, giục kẻ bốc xếp, giục người tịnh cân như chỉ mong sớm giao xong hàng để được gặp Vân Thục.

Kể ra cũng lạ. Một kẻ như Sán Lùng mà lại có lúc mê mệt người phụ nữ hai con là điều hiếm gặp. Nhưng thực tế là vậy. Vân Thục như cục nam châm có sức hút mãnh liệt khiến Sán Lùng không thể cưỡng lại lòng mình. Người đàn bà đó có khả năng buộc những người như Sán Lùng trở nên hướng thiện.

Kể từ khi được ôm Vân Thục trong lòng, được ánh mắt đa tình của Vân Thục mơn trớn, nhiều lúc Sán Lùng muốn bỏ hết để được cùng Vân Thục đi tìm một cuộc sống bình an thanh thản, lương thiện, không vướng bận vào những mưu mô, chụp giật. Hiềm một nỗi đứa con của Sán Lùng còn đang ở trong tay Sán Long, ông ta đã dùng nó xích chân Sán Lùng, khiến Sán Lùng cam chịu thân phận tôi tớ.

Gặp Vân Thục, Sán Lùng như con thú hoang đã yên bề thuần hóa, thổn thức, nói trong mắt lệ:

– Anh nhớ em quá thể. Em về nhà có chồng, nhớ đến anh không?

– Em có! Lúc nào cũng nhớ đến anh.

– Hay là bỏ quách hắn lên đây với anh, mình sẽ cùng nhau sống một cuộc sống không vướng víu bụi trần.

– Không được đâu anh ơi! Em còn hai đứa con nữa.

– Sao chúng mình khổ thế nhỉ? Đã gặp nhau rồi mà trời nỡ bắt mình xa nhau là sao hở em?

Vân Thục nghẹn ngào vùi đầu vào ngực Sán Lùng như muốn tìm một niềm tin, một bến đỗ.

Sau những giây phút đê mê man dại, Vân Thục mới nhẹ nhàng hỏi Sán Lùng:

– Đỗ Pháp có quan hệ thế nào với anh?

– Chẳng có gì sâu nặng cả. Hắn trước là cán bộ Công ty Giấy, bị sa thải nên lang thang lên đây đã bốn, năm năm nay. Đầu tiên làm cửu vạn cho anh, sau thấy hắn nhanh nhẹn, học hành tử tế, có bằng cấp, làm được việc, lại là người am hiểu thể chế chính trị ở Việt Nam. Anh cần hắn bền bố trí cho làm nhân viên chuyên mua chuộc, moi tin kinh tế từ các cán bộ chính quyền, phục vụ cho mục đích của công ty.

– Ô, Công ty Giấy thì ở trên em, em bán hàng ở đấy mãi.

– Đúng thế, hắn trước làm ở đấy đấy.

– Vì thế hắn mới có ảnh em và Tư Phây đưa cho anh?

– Không phải, ảnh ấy là của người khác đưa cho hắn?

– Tư Phây à?

– Không phải, anh chưa biết người này.

Thế là đã rõ. Nguyễn Uyên đã chụp lén và bán đứng Vân Thục, sau khi đã no xôi chán chè tiền bạc nhờ Tư Phây và làm cho Tư Phây thất sủng. Đối với Nguyễn Uyên không có anh em, bạn bè gì cả. Tất cả chỉ là màn kịch mà hắn là kẻ vừa tung, vừa hứng để kiếm lợi.

Vân Thục đã đoán đúng. Giữa Nguyễn Uyên và Đỗ Pháp còn là một cặp bài trùng nhưng lại tỏ ra không hề quen biết. Thế thì hẳn hai người này còn có âm mưu gì ở Seo Sơn đây.

Nghĩ thế Vân Thục giả vờ âu yếm Sán Lùng và hỏi tiếp:

– Thế thuốc Tám Một đỏ là công ty anh sản xuất à? Có phải nó được tẩm thuốc phiện không?

– Đúng vậy, Tám Một đỏ tẩm thuốc phiện chỉ dùng để gây nghiện cho các cán bộ cần được mua chuộc, lôi kéo và đám thanh niên để khống chế chúng làm những việc theo kiểu Hồng vệ binh ngày trước. Ai đã hút thứ thuốc này coi như phải mãi mãi phụ thuộc vào người có nó.

– Thế thì anh đã hại em rồi, chồng em đã nghiện nó.

– Ai cho chồng em hút?

– Đỗ Pháp.

– Thảo nào. Nhưng mà thôi, bây giờ cũng chẳng gỡ được nữa đâu, kệ hắn, như thế mình càng có cơ hội gần nhau nhiều hơn. Những người đã nghiện sẵn sàng bán vợ đợ con để có thuốc hút. Em phải cảnh giác đấy.

– Đỗ Pháp còn bảo em lên nói với anh cho nhận mang về Seo Sơn bán, lãi lắm.

– Đừng, việc ấy nguy hiểm lắm em ạ, lộ ra là tù tội như chơi. Em coi như không biết, cứ để Đỗ Pháp làm thôi, nếu lộ ra chỉ mình hắn chịu.

Vân Thục biết đã đi vào con đường hầm không lối thoát. Ê chề nhận ra mình đã phản bội chồng, không phải chỉ phản bội bằng thân xác, mà đã phản bội cả linh hồn. Không những chỉ phản bội chồng mà cô còn phản bội cả dân bản, phản bội làng xã. Bây giờ cô muốn quay đầu lại cũng không được nữa. Lối về đã bị lấp kín. Chắc chắn rằng việc Đỗ Pháp đưa thuốc cho cô đã được ghi hình. Những kẻ đó không phải còn non nớt đối với những việc này.

Bất giác Vân Thục nấc lên, đau đớn.

Sán Lùng như thấu hiểu tâm trạng của Vân Thục bèn cất tiếng động viên:

– Thôi mà em, đời người sống được mấy chốc. Cứ vui lên mà sống, suy nghĩ dằn vặt mà làm gì. Cái công ty Đài Bắc đó cũng đâu phải do anh điều hành. Nó là của ông trùm Ba Tầu Chợ Lớn Sán Long đấy chứ, anh chỉ là người đứng tên thôi. Được thì họ ăn, bị lộ là mình anh lãnh đủ, dựa cột có đến hàng trăm lần cũng không hết tội.

Vân Thục như chợt nhớ ra, vội nói:

– Anh không phải động viên em nữa, tay em đã chót nhúng chàm rồi, có rửa cũng chẳng sạch được. Nhưng anh cho em hỏi nốt câu này, sao anh biết Seo Sơn tỷ mỷ đến thế?

– Đấy là bí mật của anh, không ai được biết đến. Nhưng với em, anh không nỡ giấu. Anh đã có thời gian dài sống ở đó.

– Thế à, anh kể nữa đi.

– Thôi, em chỉ nên biết đến đấy thôi, nhưng tuyệt đối không được cho ai biết điều này, sống để bụng, chết mang theo. Em hứa với anh nhé.

– Vâng, em hứa.

Tranh của họa sĩ Lê Trần Thanh Thúy

38

Tấn Phong hút hết hai tút thuốc Tám Một đỏ Đỗ Pháp gửi Vân Thục mang về mà vẫn không thấy bóng dáng Đỗ Pháp đâu. Ruột gan Tấn Phong nóng như lửa đốt.

Hết thuốc, mồm miệng Tấn Phong nhạt hơn nước ốc, chân tay buồn bực như có nghìn vết kim châm, không nghĩ ra được cái gì cả. Nhiều lúc Tấn Phong muốn gồng người lên, muốn bứt phá, la hét cho hả lòng, hả dạ nhưng không sao làm nổi. Bây giờ, tâm can tỳ phế của Tấn Phong chỗ nào cũng như có kiến cắn. Giá như có ai có thuốc cho Tấn Phong hút, chắc bảo gì Tấn Phong cũng làm, chẳng quản từ nan.

Tấn Phong không đến Ủy ban đã hai ngày, ai đến hỏi Nguyễn Uyên đều nói Tấn Phong bận việc riêng, chắc ngày mai mới đi làm được.

Nằm trong buồng chán chê, Tấn Phong lại lơ ngơ ra quán chờ Đỗ Pháp. Vân Thục biết Tấn Phong đang đói thuốc nhưng cũng chẳng biết tìm đâu ra, đành chịu nhìn chồng rã rượi, miệng sùi bọt trắng xóa.

Sẩm tối, có tiếng xe phanh kít trước cửa nhà, Tấn Phong như con mãnh thú vội lao ra, tưởng Đỗ Pháp đến. Nhưng trước mắt Tấn Phong không phải người Tấn Phong mong đợi mà là Nguyễn Uyên. Tấn Phong gầm gừ trong cổ họng:

– Có việc gì?

– Tất nhiên là có việc chứ. Anh có mời tôi vào nhà hay để tôi tự vào?

– Tôi … mệt.

– Mệt hay đói, có cần cái này không?

Nguyễn Uyên chìa ra bao thuốc Tám Một đỏ dở dang, còn đôi ba điếu. Mắt Tân Phong sáng lên, mặt mũi ra dáng quỵ lụy, chân tay xun xoe, miệng lắp ba, lắp bắp:

– Chú … chú Uyên … chú có thuốc à? … cho anh xin … một hơi …

– Đây, cầm lấy, nhớ là từ nay gặp tôi phải chủ động chào trước nhé. Đừng để đây phải nhắc đấy.

Quẳng bao thuốc dở xuống trước mặt Tấn Phong Nguyễn Uyên lên xe rồ ga phóng đi, để lại sau lưng đám bụi mù mịt, phả vào mặt Tấn Phong trong ánh hoàng hôn xám ngoét. Tấn Phong cúi gập người vồ lấy bao thuốc rút một điếu, không kịp tìm bật lửa, bỏ vào mồm nhai ngấu nhai nghiến.

Vân Thục chứng kiến cảnh ấy từ đầu, đau đớn, úp hay bàn tay vào mặt, khóc nấc lên.

Nhờ có mấy điếu thuốc Nguyễn Uyên cho, sáng nay Tấn Phong tỉnh táo hẳn, lên Ủy ban làm việc. Vừa nhìn thấy Nguyễn Uyên, Tấn Phong đã đon đả:

– Chào chú Uyên, cám ơn chú nhé.

Nguyễn Uyên không nói gì, chỉ nhếch mép, ra vẻ khinh khi, cao đạo.

Cả ngày hôm ấy, Tấn Phong đi ra, đi vào, ruột lại nóng như lửa đốt, mong Đỗ Pháp đến đỏ cả mắt mà vẫn bặt vô âm tín. Tấn Phong không có thuốc lại bải hoải, bài hoài. Tối hôm ấy, không chịu được cơn đói thuốc, Tấn Phong lôi thôi lếch thếch đi bộ đến nhà Nguyễn Uyên gọi cổng. Đàn chó dữ thấy người lạ chồm ra sủa ông ổng. Từ trước đến giờ chẳng bao giờ Tấn Phong hạ cố đến nhà Nguyễn Uyên, nhưng nay thì khác. Nếu Nguyễn Uyên bắt Tấn Phong quỳ rạp dưới chân để cầu xin lấy điếu thuốc Tấn Phong cũng sẵn sàng.

Nỉ non gọi cổng mãi đến gần nửa tiếng, Nguyễn Uyên mới ra mở cổng và sẵng giọng:

– Có việc gì không?

Thái độ Nguyễn Uyên bây giờ là thái độ của kẻ chủ động giữ nhịp cuộc chơi, thái độ của tầng kẻ cả. Tấn Phong như danh tướng bại trận, đã thua lại không còn khí tiết, tham ăn tham hút, khác hẳn thế thượng phong của một vị chủ tịch, bạc nhược và hèn hạ xun xoe:

– Xin chú cho anh điếu thuốc.

– Lấy đâu thuốc mà cho ông mãi được. Ông phải tự kiếm lấy mà hút chứ?

– Ở đây không chỗ nào có. Nếu có bao nhiêu anh cũng mua. Từ trước anh chỉ biết trông mong vào Đỗ Pháp, nhưng ông ta chưa thấy đến.

– Tôi cũng làm gì có.

– Anh biết chú có. Chú ra ân cho anh, bao nhiêu tiền anh xin trả đủ.

Nguyễn Uyên lẳng lặng đi vào nhà. Tấn Phong rón rén, cung cúc đi vào theo. Không rót nước mời, Nguyễn Uyên nói luôn:

– Ông nghiện nặng quá rồi. Bây giờ không có thuốc cho ông hút thì chẳng mấy ngày nữa ông thành kẻ thân tàn ma dại. Ngồi ở ghế chủ tịch mà thế thì dân người ta phế truất sớm. Nhiệm kỳ của ông cũng chỉ còn vài tháng nữa là hết. Quan dẫu không phế truất ông, thì dân họ cũng chẳng bầu. Đằng nào ông cũng mất chức, bị ê mặt, mang tiếng suốt đời, bây giờ lại không có thuốc hút, vật vờ khổ cực.

Ngừng một lát như để câu nói thấm sâu vào lòng Tấn Phong. Sau đó Nguyễn Uyên mới thủng thẳng nói tiếp:

– Chi bằng bây giờ, ông nghe tôi, xin từ chức chủ tịch và giao cho tôi để tôi điều hành, vài tháng nữa bầu cử lại, tôi trả cho dân là xong. Đổi lại, mỗi ngày tôi cho ông mươi điếu thuốc, một tháng mươi, mười lăm bao, không để ông thiếu. Tôi sẽ giữ kín việc này, thế là ông giữ được vẹn toàn danh tiếng mà không bị cơn vật nó hoành hành. Nghĩ kỹ đi, đồng ý làm đơn từ chức, tôi sẽ cung cấp thuốc cho ông hút ngay.

– Đầu óc anh bây giờ chẳng nghĩ được gì cả, chú cho anh xin hơi thuốc cho đầu óc tỉnh táo rồi anh quyết định.

Nguyễn Uyên mở tủ rút ra một tút Tám Một bao đỏ. Tấn Phong mừng qua xô đến, nhưng Nguyễn Uyên nhanh tay cất ngay vào tủ. Tấn Phong vồ hụt, ngã vập mặt xuống đất, chới với, hộc lên một tiếng. Chờ cho Tấn Phong ngấm đòn Nguyễn Uyên dằn giọng:

– Ông đồng ý sẽ có thuốc hút ngay. Còn nếu không thì không bao giờ có cả. Ông nên nhớ rằng, ông không đồng ý thì nhiệm kỳ của ông cũng chẳng còn bao lâu nữa. Ông sẽ bị hạ bệ trong nhục nhã, ê chề.

Bị đẩy đến thế đường cùng, Tấn Phong đành chấp nhận viết đơn xin từ chức vì lý do sức khỏe, giao lại quyền Chủ tịch cho Nguyễn Uyên. Nguyễn Uyên rút cho Tấn Phong mười điếu thuốc và căn dặn:

– Ngày mai, ông và tôi sẽ cùng lên Đảng ủy xã. Có thuốc hút ông sẽ tỉnh táo và trình bầy cặn kẽ với Bí thư Bầu. Cứ nói sức khỏe kém, có bệnh đau tim, không đảm nhiệm công tác được nữa, nay xin nghỉ, bàn giao công tác cho Nguyễn Uyên làm Chủ tịch để đi chữa bệnh, xin Đảng ủy phê duyệt vào đơn. Bí thư Bầu ký xong, phần còn lại tôi sẽ lo, đáp lại ông sẽ có đầy đủ thuốc hút. Nếu ông trở mặt, đừng trách tôi ác. Thế nhé, giờ ông về đi.

Thế là Nguyễn Uyên hoàn thành việc giành ghế Chủ tịch xã trong chớp nhoáng. Không như lần trước lật đổ tranh quyền không thành, bị đánh tơi tả phải chấp nhận án kỷ luật đuổi khỏi Công ty Giấy, lần nay việc tiếm ngôi của Nguyễn Uyên thành công trên thế thượng phong mỹ mãn.

Vài ngày sau, Nguyễn Uyên có quyết định trở thành Chủ tịch xã Seo Sơn, chính thức ngồi vào ghế lãnh đạo chính quyền cao nhất của xã.

 

39

 

Thấm thoắt lại một mùa xuân mới lại về trên đất Seo Sơn.

Mưa xuân mơ hồ bay bay trên nền trời Đá Vách, giăng mờ che kín rừng Khe Cút, khiến không gian nửa thực, nửa mơ. Đào mai cũng lưu luyến như lòng người nên dùng dằng còn vương trên cành sắc hoa đỏ trắng. Hơi ấm mùa xuân bừng trên má những cô gái Mường Dao, trên đôi môi mọng đỏ các thiếu nữ người Kinh đang tập hát những bài giang, bài ví. Tiếng chàm đuống rộn ràng bản trên, bản dưới khiến lòng người xao xuyến, bồi hồi buông câu tìm bạn.

Dòng suối Khe Moong mùa xuân nước chẩy như êm hơn, thanh thản hơn. Lối đi qua Bến Tình những viên cuội trắng như tinh nghịch hơn trêu những bàn chân trắng muốt của những sơn nữ. Hinh như mùi hương của những nam thanh nữ tú qua đây khiến nước cũng bắt mùi xao xuyến. Bến Tình đã qua những ngày đau thương sau cơn lũ bùn khủng khiếp. Giờ đây, Rừng Đại Ngàn đã mỉm cười, thả xuống lòng suối những cánh hoa rừng để tỏ lòng tri ân của rừng với con người Seo Sơn tình nghĩa.

Tết năm nay Seo Sơn như bồng lên bởi bao nhiêu đổi thay nhanh chóng. Cơ chế thị trường đã xóa đi những thiếu thốn hàng hóa, lương thực và thực phẩm. Nhà nhà thấy mình mới hơn, bản bản cũng thấy mình thay da đổi thịt.

Vùng đất Đá Vách cũng vậy. Xưa kia sỏi đá khô cằn, bong bong tế guột còn không buồn sống. Giờ đá chìm, đá nổi đã được thu gom thành bờ, thành đống, đất được cầy tơi, đào xốp, thành rãnh thành hàng, phân gio đầy đủ, chè đã nên vùng dẫu chưa ken hàng, giao tán nhưng đã mướt tay, mát mắt. Những đồi chè hai ba năm tuổi ngồn ngộn búp đã đành, những đồi chè một năm tuổi cũng được hái tạo tán, mỗi cây giờ đã đơm cành, tỏa búp ngang bằng miệng nồi đồng bẩy.

Đập Đá Vách mới năm ngoái còn toàn gai móc mèo, xấu hổ, nay đã thành ruộng lúa, cấy để tạo bùn, tạo thức ăn phù du cho sang năm tích nước thả cá. Những hụi tre luồng, những búi nứa ngộ cũng đã được trồng xung quanh vùng hồ nước. Không ai nghĩ rằng nơi chó chê, gà sợ này lại có thể có mầu xanh của chè, của lúa, của nứa, của tre. Ấy thế mà giờ điều đó đã là hiện thực.

Năm nay, mọi công việc chuẩn bị cho mùa trồng mới cũng đã xong. Những quả đồi còn lại chưa trồng gần xa đã được Công và Tấn ra công khai hoang móc đá, đào rãnh, được bố trí cuốc hố, bỏ phân từ đầu mùa đông đang chờ sang xuân là hạ bầu, lấp hố.

Với diện tích phải trồng năm nay nhiều gần gấp đôi năm ngoái, Giám đốc Căn đã hợp đồng với công ty Phú Long, với dân bản Đá Vách, Sa Lỳ, Cọ Sơn, Thắng Lợi, với đoàn thanh niên Seo Sơn quyết tâm trồng xong trước tuần cuối tháng giêng.

Không phải là vận động lao động công ích, cũng không phải là đóng góp không công mà đó là hợp đồng kinh tế, tiền nong sòng phẳng, công sức phân minh nên ai cũng hăng hái, tranh thủ hết mình.

Sức con người khi đã hợp tác với nhau, thuận lòng, đồng chí thì có thể dời non lấp bể, cho nên chưa đầy một mùa trăng, diện tích hơn năm chục héc ta chè trồng mới của Giám đốc Căn đã xuôi chèo mát mái, gọn gàng đâu đấy. Bầu chè hớn hở đón mưa xuân và nắng lụa.

Tấn và Dung thanh thản, ríu rít bên nhau đi trên con đường bờ lô, uốn lượn theo những vạt đồi đã hết thời trống vắng. Họ ngửa mặt đón những bụi mưa mát lạnh, khúc khích vui đùa như những chàng trai, cô gái đương thì “dậy rồi những lứa tuổi biết yêu” vậy. Tấn cũng bớt đi vẻ nghiêm nghị, ít cười, kém nói của mình, đã không còn bối rối trước sự hồn nhiên tinh nghịch của Dung nữa.

Họ đang chuẩn bị cho lễ cưới.

Được sự giúp đỡ của công ty, Tấn được cấp một mảnh đất thổ cư trong quy hoạch khu dân cư. Anh đã xây được một căn nhà từ trong năm và đón hai bà cháu ở quê lên, chuẩn bị cho tổ ấm gia đình mới. Những gốc cây ăn quả được hạ thổ từ cuối thu năm ngoái sang xuân đã trăng trắng đầu cành, dáng chừng muốn gọi mầm, phát búp. Vài khóm hoa Dung trồng hôm nào cũng hớn hở đua với tiết xuân, khoe tươi, dục thắm. Những đôi chim vành khuyên xây tổ ở hàng cây ven đường, nhân xuân ấm, đã ríu rít bay về, cất lên những tiếng tươi vui lích tích. Những cánh ong đã dập dìu kéo nhau đi tìm mật. Đôi lúc trời đã hé ra, những tia nắng ấm đã lao xao đây đó.

Họ đã nên vợ nên chồng sau vụ trồng chè xuân. Nhìn họ âu yếm bên nhau, ai cũng mừng cho họ.

Trên mảnh đất này, đâu phải chỉ cây cối mới được hồi sinh mà những mảnh đời cô quạnh cũng đã được hợp lại, tươi vui, tràn đầy hạnh phúc.

Bất giác Giám đốc Căn thấy trong lòng ấm áp. Sau bao thăng trầm trên vùng đất hoang cằn Đá Vách, bây giờ người và đất đã bắt đầu được tươi vui. Công việc còn ngổn ngang trăm mối, anh còn bao việc phải làm, nhưng phía trước trời như đã rạng.

Anh bỗng nghe đài nhà ai vang lên khúc hát “Em ơi mùa xuân đến rồi đó, dang rộng vòng tay đón cuộc đời…” như một lời động viên, nhắc nhở và thúc dục anh tiếp tục mạnh bước hơn nữa trên con đường đã chọn.

*

Sau khi đoàn công tác nước ngoài về, Phạm Bá Long quyết định đầu tư liên doanh với Hà Trọng Căn xây dựng phân xưởng chế biến thức ăn gia súc, cung cấp cho trại chăn nuôi của Công ty Đá Vách.

Với lợi thế các nguyên liệu đầu vào cho việc chế biến thức ăn gia súc được mua tại địa phương hoặc vùng lân cận nên giá thành sản phẩm hàng hóa thức ăn gia súc xuất xưởng thấp, giúp cho liên doanh có một khoảng chênh lệch không nhỏ.

Tất cả các khoản lợi nhuận đó cùng với tiền thưởng xuất khẩu hàng năm của Nhà nước cho số sản phẩm của Giám đốc Hà Trọng Căn được liên doanh đưa vào quỹ dự phòng cho Công ty Đá Vách. Chính điều này đã giúp cho công ty và các hộ chăn nuôi thêm vững lòng đầu tư cho chương trình chăn nuôi lợn theo phương pháp sử dụng thức ăn công nghiệp.

Cuối năm ấy, thị trường thịt lợn thành phố chao đảo vì cơn sốt giá. Thôi thì giá thịt lợn hơi cứ tăng tính theo ngày, theo buổi, sớm một giá, chiều một giá, chẳng biết thế nào mà lường cả. Càng gần tết nguyên đán, thị trường thịt lợn càng canh tranh sôi động.

Các thương nhân thành phố lần mò lên các vùng xa để mua lợn hơi. Ở Seo Sơn hàng ngày không thiếu người buôn đến săn lùng mua lợn. Chưa đến tháng xuất họ cũng gạ mua. Những hộ nuôi lợn tự do không nói làm gì. Nhưng các hộ nuôi được đầu tư ứng trước, có cam kết bán cho Công ty Đá Vách, nay thấy giá bên ngoài cao hơn giá bán cho công ty cũng lục xục đòi bán cho bên ngoài để hưởng chênh lệch giá. Trong khi Công ty Đá Vách gần đến ngày phải giao lợn cho Giám đốc Phạm Bá Long thì sự tranh chấp này quả là bài toán nan giải.

Mặc dù có công văn của huyện yêu cầu các xã cân đối nguồn cung cầu ở địa phương, có kế hoạch chuẩn bị thịt lợn tết cho nhân dân trong xã, không được cho cánh lái lợn tự do thu mua của dân, nhằm bình ổn giá thị trường trong dịp tết nguyên đán, nhưng chủ tịch xã Nguyễn Uyên giả như không biết.

Nguyễn Uyên cho triệu tập cuộc họp với các trưởng bản và đưa ra đề nghị:

– Hiện nay theo phản ảnh của nhân dân, Công ty Đá Vách của Giám đốc Hà Trọng Căn lợi dụng lòng tin của nhân dân, ép giá thu mua lợn để ăn chênh lệch giá, nhằm tư lợi cá nhân. Đề nghị các trưởng bản bảo vệ lợi ích của nhân dân, kiên quyết không cho công ty mua theo giá thấp. Nếu công ty không nghe, Ủy ban xã chỉ đạo đồng ý để dân bản bán cho tư thương bên ngoài.nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân.

Một số ý kiến đồng tình với chỉ đạo của chủ tịch Nguyễn Uyên:

– Phải đấy, cơ chế thị trường đâu giá cao thì ta bán. Thế là đúng rồi.

Trưởng bản Triệu Thị Hân bật dậy:

– Chúng ta nên xem xét lại. Giám đốc Căn không tiếc công sức và tiền của, đã đầu tư ứng trước cho dân bản từ con giống, thức ăn, lại còn hướng dẫn chi tiết làm chuồng trại, ao chuôm, ký hợp đồng với bên xuất khẩu thu mua cho chúng ta. Lúc khó có người ta, bây giờ giá cao, không bán cho người ta, thế là bội tín, không đúng cái đầu dân mình nghĩ đâu.

Nguyễn Uyên vặc lại:

– Đồng chí Hân nói không đúng nghị quyết của Đảng bộ rồi, nghị quyết của Đảng bộ là Đảng phải lãnh đạo nhân dân làm kinh tế, mang lại lợi ích cho nhân dân. Đấy mới là phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu bắt dân bán sản phẩm mình làm ra với giá thấp có nghĩa là bắt dân bỏ tiền, bỏ của đem lại lợi ích cho Giám đốc Công ty Đá Vách à? Thế sao gọi là Đảng lãnh đạo được?

Mọi người còn đang phân vân chưa kịp có ý kiến, Nguyễn Uyên đã kết luận:

– Thôi! Ủy ban còn nhiều việc phải lo, Chủ tịch Ủy ban ra quyết định: vì lợi ích nhân dân, theo đề nghị của nhân dân và bảo vệ lợi ích của nhân dân, đồng ý cho nhân dân được bán lợn cho nơi nào có giá cao hơn đúng theo kinh tế thị trường. Ai chống lại quyết định này là chống lại chính quyền, vi phạm lợi ích của dân bản, vào hùa với những người lợi dụng việc làm kinh tế để bóp chẹt nhân dân.

Thế là lợi dụng quyết định của Nguyễn Uyên, cánh lái lợn đổ xô đến chèo kéo mua vét từng con, bất chấp lệnh của Chủ tịch huyện cân đối ưu tiên để lợn cho nhân dân mổ tết.

Triệu Thị Hân mở cuộc họp với những người ở Cọ Sơn nuôi lợn theo phương thức ứng trước, bán cho Hà Trọng Căn và mời già làng Triệu Văn Nga tới dự, thông báo kết luận của Chủ tịch Ủy ban thả lỏng việc bán lợn theo giá ai cao thì bán. Một vài ý kiến đồng tình nhưng nhiều ý kiến chưa thống nhất:

– Người Dao mình xưa nay nói một lời hợp cái bụng là mình ưng, ưng thì mình theo. Giám đốc Căn làm là vì mình, mình đã hứa bán cho Giám đốc Căn là mình bán thôi, còn ai bán đâu mặc kệ họ. Lúc no đã vậy, lúc đói thì làm sao.

– Nói hợp ý ta lắm. Đừng nuốt lời như con thú rừng vậy. Ta không bán ra bên ngoài đâu. Trả cao ta cũng không bán mà.

Già làng Triệu Văn Nga lúc này mới chậm rãi phát biểu:

– Bà con nói phải rồi. Nhớ cái hồi phá rừng Khe Cút mà làm bài học. Đừng tham cái lợi trước mắt. Tham trước mắt là hiểm họa nó đến sau lưng đấy. Giám đốc Căn có tham cái trước mắt đâu. Nó ứng trước tiền bạc, giống vốn cho mình mà, sao lại phản lại nó. Phản lại Giám đốc Căn là không tốt đâu.

Thế là mọi người đều đồng tình bán lợn cho công ty của Giám đốc Căn, không ai bán ra ngoài cả.

Các bản khác cũng nhờ các già làng giảng giải nên nhiều người nhận ứng trước của Giám đốc Căn cũng để lợn lại bán cho công ty. Thế nhưng cũng có một số người hám lợi, nên lấy cớ theo ý kiến chỉ đạo của Ủy ban, cứ bán cho tư nhân bên ngoài.

Giám đốc Căn thân chinh xuống các bản cám ơn bà con. Mọi người nắm chặt tay Giám đốc như nắm bàn tay những người bạn thủy chung, tình nghĩa. Các tư thương bên ngoài không mua được lợn nữa cũng rút dần, chẳng ai cố đấm ăn xôi khi mà xôi không còn nữa.

Mọi việc rồi cũng im dần.

Thế nhưng vài ba hôm sau, một số nhà để lợn lại bán cho Giám đốc Căn, ao chuôm nuôi cá, cá chết nổi trắng ao. Người ta kiểm tra, hóa ra ao nào cũng bị thả thuốc sâu, thả đất đèn cả. Lại có tin đồn, có khi giếng nước ăn cũng bị ném thuốc sâu không chừng. Một tâm lý lo sợ bao trùm khắp các bản.

Người ta đồ rằng bọn người lên mua lợn giá cao không mua được nên quay lại trả thù. Thì thực tế chỉ những nhà không bán mới bị, còn những nhà bán có bị đâu.

Người ta kéo lên Ủy ban chất vấn:

– Công an viên đâu, dân quân đâu mà để kẻ gian lũng đoạn thế này, tiền quỹ an ninh nhân dân nộp đầy đủ cả, ấy thế mà để bọn phá hoại ngang nhiên hoành hành, không coi chính quyền ra gì sao?

Chủ tịch Nguyễn Uyên trả lời:

– Chính quyền ra quyết định để bảo vệ lợi ích của dân thì dân không nghe, không đồng tình ủng hộ. Bây giờ có sự cố, bị thiệt hại sao lại chất vấn chính quyền. Nhưng mà thôi, vì lợi ích của nhân dân chúng tôi sẽ điều tra vụ việc này. Bà con hãy an tâm.

Biết rằng có nói cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì, ai nấy dẫu trong lòng ấm ức nhưng cũng đành an ủi kéo nhau về.

Tết năm ấy, các chợ đều không có thịt lợn bán phục vụ nhân dân ăn tết. Giá thịt lợn lên cao chóng mặt. Hai sáu, hai bẩy tết mà các phản thịt đều trống huơ trống hoác. Các bản không có tiếng lợn kêu. Không khí tết trầm lắng hẳn. Nhà nào còn lợn là có người tranh nhau đến đòi đụng. Người ta lo đến ba mươi mà vẫn thế này thì coi chừng mất tết.

Bí thư Bầu chạy ngược chạy xuôi, bản nọ, bản kia xem xét nguồn cung thịt lợn tết. Đành rằng đó là việc của chính quyền, nhưng chẳng lẽ lúc nước sôi, lửa bỏng thế này đảng lại khoanh tay đứng nhìn, lặng im không có kế sách?

Bất lực, Bí thư Bầu đành đến cầu cứu Giám đốc Công ty Đá Vách.

Giám đốc Hà Trọng Căn cũng như đứng trên đống lửa. Mang tiếng là công ty có hàng ngàn con lợn, mỗi con hàng tạ mà để nhân dân thiếu lợn ăn tết ư? Nhưng anh làm gì được. Kế hoạch xuất chuồng giao lợn xuất khẩu cho công ty Giám đốc Phạm Bá Long vào ngày mùng năm tết đã cận lắm rồi. Ngày trước người ta nói: “Kế hoạch là cương lĩnh thứ hai của Đảng” chẳng lẽ giờ bước vào cơ chế thị trường mình lại không coi trọng kế hoạch à? Một bên là uy tín với bạn hàng, một bên là trách nhiệm với nhân dân. Chẳng lẽ anh lại thờ ơ với đời sống của nhân dân sao? Cơ chế thị trường khắc nghiệt thật. Ham lợi một tý, không tính toán cân đối làm phá vỡ thế cân bằng cung cầu là lãnh đủ, mà không tranh thủ cướp thời cơ giá cả tạo điều kiện cho dân hưởng lợi từ giá lại là có tội với dân.

Đắn đo mãi, anh quyết định gọi điện xin bớt kế hoạch giao lợn cho Giám đốc Phạm Bá Long để giải cứu thị trường Seo Sơn trong dịp tết. Giám đốc Long hiểu đồng đội của mình đành chấp nhận giật gấu vá vai, đồng ý.

Thế là sáng hai tám tết, các bản nhận được tin đến Công ty Đá Vách bắt lợn về thịt bán cho dân theo giá hợp đồng xuất khẩu, thấp hơn nhiều so với giá thị trường.

Loáng một cái, khắp các bản tiếng lợn đồng loạt kêu eng éc, những chậu tiết đỏ au, những nồi nước dùng váng mỡ, những ếp thịt lợn to nhỏ được tỏa ra khắp bản trên, xóm dưới.

Hóa ra năm nay nhà nhà đón tết chẳng thua gì mọi năm cả. Trẻ con hân hoan, người già vui vẻ, đàn ông bớt lo toan, đàn bà thêm phấn khởi, cây đào cây mận như thêm hoa, trái bòng, trái bưởi như thêm ngọt.

Theo ý kiến của Giám đốc Căn lợn đã cấp đủ cho tất cả mọi nhà, thế nhưng trưởng các bản có người bán lợn ra ngoài không chịu. Họ bảo, lúc bán được giá cao sao không nghĩ đến những lúc này. Cái bụng tham vàng bỏ ngãi không phải cái bụng của người Seo Sơn. Người Kinh, người Mường, người Dao, và ai ai đi nữa đã là người Seo Sơn đều phải theo cái lý của người Seo Sơn. Người Seo Sơn ta tin và theo cái lẽ phải, nói cái lời nhân nghĩa, nghĩ cái nghĩ hiếu trung, làm cái việc trọng đạo.

Bí thư Bầu và Giám đốc Căn phải đến từng bản, cầm tay những người lầm lỡ:

– Thôi, ngày xuân không nói những điều cũ nữa. Người Seo Sơn ta cũng có câu: “ăn ở với nhau phải như bát nước đầy”. Gặp mùa nước lũ chớ có vội lội qua sông. Hãy về nhà ta có rau ta ăn rau, có mắm ta ăn mắm, chờ bớt lũ hãy về. Con thú có bầy, con chim có bạn, yêu nhau bồ hòn cũng ngọt. Tư tết rồi, hãy cùng uống chung cần rượu, không kể chuyện buồn làm gì nữa.

Được lời như cởi tấm lòng, ai cũng vui vẻ trao nhau những nụ cười đầm ấm.

Thế nhưng, những việc làm này như trái bóng bật đúng vào mặt Chủ tịch xã Nguyễn Uyên. Tưởng rằng lợi dụng tâm lý tiểu nông hám lợi của người nông dân, với quyền lực quản lý Nhà nước, Uyên đã ra quyết định mở cửa cho dân bán lợn giá cao để phá vỡ kế hoạch giao lợn của Hà Trọng Căn, đồng thời hạ nốc ao uy tín của Căn trước nhân dân. Không ngờ người hám lợi rất ít, người hiểu đạo lý thì nhiều, không mảy may động được đến lòng tin của mọi người đối với Hà Trọng Căn, lại bị đánh giá không có tầm nhìn, để cho dân lao đao thiếu thịt lợn ăn tết. Nếu không có giải cứu của Căn, không biết Uyên ăn nói thế nào trước việc làm vô lối của mình.

Mặc dù vậy, với lòng hẹp hòi đố kỵ, Nguyễn Uyên vẫn căm tức Hà Trọng Căn, tự thề rằng sẽ có lúc đòi lại món nợ này.

Tết về, Seo Sơn như bồng bềnh trong mưa bụi. Những quả còn tua nhiều mầu sắc ríu rít bay lên, những cây đu phấp phới váy áo đủ mầu sắc, tiếng chàm đuộng rộn vang khắp bản trên làng dưới. Ai ai cũng vui mừng đón xuân mới.

Nâng chén rượu đầy trên tay, già làng Cọ Sơn Triệu Văn Nga cùng già làng các bản khắp Seo Sơn và tập thể Đảng bộ Seo Sơn do Bí thư Bầu dẫn đầu, thay mặt nhân dân đến chung vui và chúc tết Công ty Đá Vách, chúc Giám đốc Hà Trọng Căn thêm khỏe cái chân, thêm tinh con mắt, thêm sáng cái đầu, làm ăn may mắn.

Cả Đá Vách hớn hở mừng xuân. Những ngôi nhà mới định cư xếp thành hàng dọc theo con đường bê tông mới khang trang trong mầu vôi mới. Hàng cột điện ven đường kéo dài đều tăm tắp. Những gốc cam Bố Hạ chiết cành hạ vụ xuân năm ngoái đã bắt đầu ra bói. Cây vải Lục Ngạn, gốc bưởi Đoan Hùng cũng lấm tấm nụ. Đàn ong như cũng vui cùng mọi người, rủ nhau bay la đà tìm mật.

Ngoài đồi chè, những lô chè trồng vụ đầu tiên được đốn tạo tán bằng chằn chặn đã nứt nanh chuẩn bị ra búp vụ xuân. Những lô chè mới trồng đầu năm đã phân cành, dâng đầy sức sống. Hàng cây bóng mát bắt đầu vươn cao, rặng cốt khí để làm giống quả sai chiu chít. Cả một cùng sỏi ong khô cằn năm xưa leo heo bòng bong, tế guột giờ đã xanh mầu  đằm thắm, không còn quả đồi nào hoang hóa.

Đập Đá Vách đã giữ được nước, dẫu chưa đến ngấn xả lũ nhưng đã được lưng lửng, không còn thấm như năm ngoái nữa.

Công ty đang tính đến việc đắp đập Đá Vách 2, Đá Vách 3.

Mọi người vui vẻ đi du xuân. Dung bố trí người trực trông nom chuồng trại xong cũng cùng Tấn sang Cọ Sơn chơi tết. Đường qua Bến Tình mùa này đã bắc được cầu.  Dung nắm tay chồng vừa đi vừa hát một bài hát ví Mường. Bụng chị đã lùm lùm. Chị ra dáng đằm thắm. Lần có mang này chị thấy khỏe hơn, sung sức hơn lần còn làm cửa hàng trưởng năm nào. Bóng hai người lung linh dưới làn nước Bến Tình trong vắt.

Đằng xa kia, tiếng chàm đuống nổi lên, những bài giang, lời ví quyện vào nhau, bay bổng cùng những tua còn, lấp loáng cùng những chiếc váy bông bênh, chiếc áo cóm huyền ảo, những dây xà tích điệu đà, lên bổng xuống trầm, theo nhịp đu xuân, nhún nhẩy, đối mặt, ngửa lòng, tình tứ trong ngày xuân mới.

VŨ QUỐC KHÁNH

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *