Seo Sơn – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 1

Vanvn- Nhà văn Vũ Quốc Khánh sinh ngày 15.6.1950 tại Mường Tè, Lai Châu hiện thường trú thị trấn Thanh Sơn, Phú Thọ. Vốn xuất thân từ sinh viên rồi nhập ngũ làm người lính bộ binh, sau khi kết thúc chiến tranh trở về hoàn thành những học trình dang dở trở thành kỹ sư cơ khí, ông làm giảng viên trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, cán bộ kỹ thuật, Trưởng phòng tới Giám đốc công ty chè rồi Giám đốc Công ty xây dựng.

Dù trên cương vị lãnh đạo công ty nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân ông đều khẳng định được cái tôi bản ngã đầy tài năng, bằng những kết quả thực chứng.

Đến với văn chương khi tuổi không còn trẻ, nhưng ngay từ những trang viết đầu tiên: Seo Sơn (tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn2014), ông đã khẳng định riêng một vị thế nhà tiểu thuyết của Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Phú Thọ bằng hàng loạt giải thưởng ở trung ương và địa phương cho những tiểu thuyết liên tiếp được xuất bản.

Nhà văn Vũ Quốc Khánh

Vũ Quốc Khánh có ưu thế không mấy nhà văn đương đại nào sánh được, là những nhân vật, dữ liệu tái hiện trong mỗi tác phẩm hầu như nhà văn đã từng giao tiếp và trải nghiệm bằng chính đời sống của bản thân. Mà đôi khi, theo lời nhà văn, đó mới chỉ là “bề nổi của khúc gỗ bồ đề lềnh đềnh trên mặt nước sông Vàng”.

Ông thiên về phản ánh hiện thực theo cách của mình: dung dị, đôi khi hồn nhiên nhưng không kém duyên bởi sự chân tình đầy thuyết phục trên phông nền chằng chéo, rậm rịt những mối quan hệ của các nhân vật cùng các lằn ranh mưu mô đan cài xảo trá, nham hiểm. Cảm giác, Vũ Quốc Khánh hễ cứ ngồi trước bàn phín, múa ngón là có tác phẩm. Đọc văn Vũ Quốc Khánh, chúng ta thấy ngút ngát, ngộn đống chất liệu và rồi bị chính dòng chảy đầy đặn đó cuốn đi. Nội lực và tài năng cân bằng. Cũng như hàng ngày giao tiếp với Vũ Quốc Khánh, người ta luôn thấy một người đàn ông lịch lãm, tế nhị sau trước, khiến đã mến văn lại cảm thêm người.

Vanvn.vn trân trọng trích giới thiệu đến bạn đọc tiểu thuyết Seo Sơn của nhà văn Vũ Quốc Khánh.

 

>> Tiểu thuyết Seo Sơn: Từ thực tế đến trang sách

 

16

Trời oi lắm. Vào trong nhà cũng ngột ngạt, ra bóng cây càng ngột ngạt. Không có gió, những cây bạch đàn rũ lá, im phăng phắc. Không có nắng mà không khí cứ như nung, đặc quánh. Búp chè héo queo, những tầu chuối rũ rượi, quằn mình. Đàn trâu đứng im, chúi đầu phì phò thở.

Theo điện của Chủ tịch huyện, cơn bão số năm sẽ quét qua địa phương.

Sớm nay Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã Seo Sơn đã triệu tập cuộc họp khẩn, mở rộng đến các đội trưởng để bàn phương án phòng chống mưa bão. Đài phát thanh truyền hình trung ương liên tục thông báo tin bão khẩn cấp. Đây là cơn bão rất mạnh vượt cấp mười ba, đã vào biển Đông, hoàn lưu bão đang cập kè ven biển, còn tâm bão sẽ đổ bộ vào đất liền chỉ nội nhật đêm nay.

Hợp tác xã theo điện của Chủ tịch Huyện yêu cầu các đội trưởng chỉ đạo quyết liệt việc chằng chống nhà cửa, đặc biệt chú trọng đề phòng lũ ống, lũ quét, đề phòng lở đất, nhất là những vùng đất san lấp, làm đường liên bản, liên xã vừa qua.

Bất chấp trời oi bức đến ngạt thở, cuộc họp vẫn được diễn ra khẩn trương. Các đội trưởng sau khi lĩnh hội ý kiến, lập tức nháo nhào lên đường về bản triển khai ngay.

Triệu Văn Lầu phóng xe máy về đến nhà không kịp cả uống nước vội vã vớ chiếc loa mo cau chạy khắp bản chỉ đạo bà con xã viên triển khai ráo riết kế hoạch của Hợp tác xã. Mặc dù trước nay vùng thung lũng Cọ Sơn chẳng mấy khi chịu sự tàn phá của bão, nhưng chỉ thị là mệnh lệnh, chớ có coi thường.

Cẳng mấy chốc trong bản những nếp nhà sàn trông vững chắc, lợp phên lá cọ dầy dặn, hàng dọc, hàng ngang, tựa lưng vào đất rừng Khe Cút, đã được chằng chống thêm. Chuồng trâu, chuồng bò, chuồng lợn, chuồng gà đã được che chắn cẩn thận. Những thân cau cao vút lúc lỉu quả nây tròn, những cây bòng đang mùa trĩu quả, những cây mận cây đào thân già mốc thếch đứng nép ở đầu hồi, cũng đang hồi hộp đón chờ bão đến.

Dưới đồng Cọ Sơn lúa đang thì đứng cái. Những nhánh mạ gầy guộc xanh mềm ngày nào cắm xuống giờ đã xanh đen, thân căng tròn như muốn nứt ra, báo hiệu một vụ sinh nở đầy ngọt ngào để có một mùa vàng óng ả.

Trên rừng Khe Cút cây non mới trồng đầu năm bây giờ đã bén rễ, cây đã cứng cáp, ngọn vươn lên xanh mát mắt. Lầu mong cánh rừng Khe Cút chóng khép tán.

Thực ra nghĩ đến cánh rừng nguyên sinh cũ, Lầu tiếc lắm. Cánh rừng già trước kia thân cây hàng người ôm đối với anh có biết bao kỷ niệm từ thời thơ ấu.

Ngày ấy máy bay Mỹ còn ầm ì quần đảo qua đây, dân bản Cọ Sơn nép dưới bóng rừng tránh giặc. Đã bao nhiêu lần anh cùng người lớn len lỏi theo những lối mòn đi đặt bẫy săn hươu nai, cầy hoẵng. Anh đã nhiều lần được đốt lửa, thui những con nai béo tròn bên mó nước, rồi xả những khúc thịt còn nóng hôi hổi cùng cánh thợ săn trong bản chấm muối ớt mà chỉ mới nhìn đã ứa cả nước chân răng. Rồi những lần lăng xăng theo các chú, các bác đi cắt những tổ ong rừng đầy mật ngọt lúc lỉu trên những cành cây cổ thụ. Cắt xong nằm ngả ngớn trên thảm lá mục ngắm tán rừng, uống mật ong đến say lảo đảo. Cả những buổi cùng các bầm, các ả đi lấy măng nứa, măng giang, ớp nào ớp ấy xếp đầy những măng là măng, cái ỏm, cái luộc cắn đến ngập răng ngọt lừ, lại còn phơi để dành đến tết nấu với thịt gà rừng béo ngậy.

Thế mà bây giờ tất cả chỉ còn quá khứ.

Theo lời Chủ nhiệm Cưởi anh đã biến rừng thành ra vàng, ra tiền đầy ma lực giấu trong chiếc rương kia, thành chiếc xe máy dựng dưới sàn kia, thành váy áo đẹp cho vợ con, thành những nếp nhà sàn xếp gọn ở chái hồi, thành những miếng đất thổ cư hàng mấy trăm mét vuông bám mặt đường, thành những bữa rượu thịt linh đình ngây ngất.

Anh đã xẻ thịt rừng Khe Cút chia cho mọi người, anh được một phần, dân bản Dao Cọ Sơn được một phần, các cán bộ cánh hẩu trong xã, trong Hợp tác xã được một phần, còn lại bao nhiêu phần Chủ nhiệm Cưởi.

Lầu xót xa ân hận, nhưng tất cả đã muộn lắm rồi.

Lòng tham của con người thật đáng sợ. Cánh rừng hàng trăm năm tuổi gắn bó với dân bản cả xã từ người Dao Cọ Sơn, người Mường Đá Vách, người Kinh Thắng Lợi đều ăn nhờ sản vật của rừng, ngủ nhờ gió mát của rừng, sống nhờ đất nước của rừng, chết nhờ quan áo của rừng. Thế mà thấm thoắt chỉ vài năm, vì có những người tham lam phá hoại như anh mà rừng đã đi vào dĩ vãng.

Lắm lúc anh tự dằn vặt mình, biết bao giờ mới trồng lại được rừng như cũ. Lòng anh thầm gọi da diết: Rừng ơi!

Sẩm tối thì bão đến.

Đầu tiên chỉ là những trận gió mát, nhưng chỉ độ nửa giờ sau là những trận cuồng phong dữ dội. Tiếng gió rít như xé vải, giật tung những phên lá cọ chưa được chằng buộc cẩn thận, cuốn lên không trung, rồi ném ra xa vương vãi khắp bản. Gió vặt nghéo cả những cành bòng sai trĩu trái, bẻ gẫy những thân cau buồng nây tròn quả. Chưa bao giờ bão to đến vậy. Cả Cọ Sơn gồng mình trong cơn bão.

Đứng trong nhà cùng vợ và hai con nhỏ nhìn qua khe cửa, Lầu giật mình hoảng hốt. Từ bé đến giờ, ngót bốn mươi năm Lầu chưa từng thấy cảnh đổ nát như thế này. Lầu lo cho bà con dân bản, thầm nghĩ nhà mình ván thưng dầy dặn, mái lợp chắc chắn còn thấy hoang mang, sợ hãi nữa là bà con dân bản nhà chưa chắc chắn bằng nhà mình không biết cơ sự đến thế nào?

Rồi thì mưa đến, mưa xối ào ào trên mái lá, mưa quất ràn rạt vào ván thưng hồi nhà, mưa đổ roàm roạp trên sân. Nước lênh loang chẩy bễ bãi trên những con đường trong bản. Mưa suốt đêm, xối xả không ngớt, nước cứ cuồn cuộn chẩy. Gió đổi chiều và đến gần sáng thì ngớt hẳn, nhưng mưa thì mỗi ngày một to.

Lầu cũng như dân bản Seo Sơn sau một đêm chống chọi với bão, vừa thiu thiu ngủ trong tiếng mưa ầm ầm thì bỗng nghe tiếng ục ục kéo dài như từ trong lòng đất.

Lầu chưa hiểu điều gì xẩy ra, chẳng kịp gọi vợ con lấy một tiếng thì đã thấy như có sức mạnh gì lớn lắm, xô đổ nhà mình. Rồi bùn đất từ đâu ập xuống lấp kín xung quanh, lấp kín cả anh, khiến anh nghẹt thở, không kịp kêu một tiếng nào nữa. Anh bị bịt chặt, mắt mở trừng trừng mà không nhìn thấy gì cả. Thân thể anh trở nên mềm oặt và trôi đi cùng đống bùn nhão nhoét.

Tin suối Khe Măng đổ bùn đất và nhấn chìm nhiều diện tích lúa trên cánh đồng Gò Lau chưa kịp loang đi thì tin dữ một góc bản Seo Sơn bị lũ bùn từ núi Khe Cút vùi lấp làm chết hàng chục người ập đến như dòng thác khiến mọi người trong xã Seo Sơn choáng váng, kinh sợ. Từ trước đến giờ chưa bao giờ Seo Sơn có lũ ống huống chi nói đến lũ bùn như thế này.

Lâm, Bầu và các Phòng ban Huyện ủy, Ủy ban được tin dữ, lập tức có mặt tại Cọ Sơn lo cùng dân bản, xã và hợp tác xã cứu hộ các gia đình bị nạn.

Họ xót xa đứng trước dòng bùn cao hơn nóc nhà nhấn chìm nhà cửa hoa mầu, chôn vùi bao nhiêu sinh mạng những người vô tội mà không thể nào cứu được họ. Mọi người càng xót xa hơn khi ông Nga tóc tai rũ rượi, vật mình vật mẩy gào thét như một người điên:

– Ối con ơi! Ối cháu ơi! Ối dân bản ơi! Trời trừng phạt ta rồi. Bao đời nay rừng che chở ta, giờ ta đang tâm phá rừng, rừng không còn để chở che cho ta nữa!

Tiếng ông Nga khản đặc trong nước mắt rồi lịm đi trong nỗi sợ hãi cùng cực của dân bản Cọ Sơn. Quay đi quay lại người ta không thấy Chủ nhiệm Triệu Văn Cưởi đâu cả.

Các đội sản xuất trong toàn Hợp tác xã ngay lập tức huy động toàn bộ lao động mạnh khỏe tập trung vào công việc hót bùn, tìm thi thể những người dân vô tội bị lũ bùn vùi lấp ở Cọ Sơn. Đội cứu hộ của huyện kèm theo những chiếc máy xúc, máy ủi, ô tô cũng được khẩn trương điều động cấp tập có mặt tại Cọ Sơn.

Tất cả cẩn thận, miệt mài không kể sớm tối, tranh cướp với thời gian, dọn từng xe ô tô bùn đất để tìm cứu người.

Sau hai ngày đêm cật lực, cả một núi bùn đất hàng chục nghìn khối cũng đã được dọn dẹp xong xuôi. Thi thể mười hai người dân trong bản đã được tìm thấy đầy đủ. Dân bản nức nở tắm rửa sạch sẽ cho họ và làm lễ cầu hồn tập thể và an táng họ ở nghĩa trang đặc biệt trên quả đồi đối diện với bản, như để nhắc nhở cả bản luôn nhớ về đau thương tang tóc này.

Bí thư Hà Trí Lâm cùng lãnh đạo huyện, xã và hợp tác xã có mặt đầy đủ lo ma chay, an táng cho những người xấu số và chia buồn tới các thân nhân gia quyến họ.

Khi mười hai người đã được thần cây, thần rừng đón về lòng đất, mồ yên mả đẹp, mọi người mới có dịp nhìn lại hậu quả tang thương có một không hai ở Cọ Sơn. Dòng thác ngày thường mong manh như dải lụa đổ từ lưng chừng núi Khe Cút mang lại dòng nước ngọt lành cho nhân dân cả bản và tưới cho cánh đồng Cọ Sơn bây giờ như con khủng long bị chọc giận, quăng quật cả một vạt đồi. Sườn núi bở tung, lở lói, lôi những mảng đất nhão nhoét đổ ập xuống thành dòng bùn đỏ như dòng dung nham núi lửa ập xuống bản không thương tiếc.

Gần nửa cánh đồng Cọ Sơn mầu mỡ lúa đang đứng cái bị dòng bùn vùi lấp. Bao nhiêu công sức khai hoang, san lấp, tạo ra những thửa ruộng bờ xôi ruộng mật bỗng chốc trở thành công cốc.

Theo yêu cầu trợ giúp của xã và dân bản Cọ Sơn, huyện phải tổ chức một chiến dịch quy mô lớn, dọn dẹp đất bùn, trả lại mặt bằng trồng trọt cho thung lũng Cọ Sơn mất hàng tháng trời và chi phí bằng cả mấy vụ lúa của cả bản. Toàn bộ dân bản ven dòng lũ bùn buộc phải di dời nhà cửa đến vị trí mới an toàn hơn. Cả Cọ Sơn nháo nhác mất đến vài tháng, làm cho cả xã Seo Sơn mất ăn mất ngủ, nín thở theo dõi và cật sức chi viện mới tàm tạm ổn.

Dòng suối Khe Moong ngày nào êm đềm trong mát giờ đục ngầu. Con đường giữa hai bờ Bến Tình cũng không còn những cô gái kéo váy lên ngang người lội qua nữa. Tất cả những nét thơ mộng ngày nào đã bị cơn lũ bùn làm cho tướp táp. Những cành cây khô vắt vẻo trên cây sổ bên bờ suối. Vết phù sa đỏ đòng đọc in ngấn trên những bụi tre đánh dấu mực nước lũ cao xưa nay chưa có. Suối Khe Moong chẳng biết đến ngày nào mới trong xanh trở lại. Từ trước tới nay Bến Tình chưa bao giờ lại tan hoang như vậy.

Trong những ngày tang thương đó, Triệu Văn Cưởi hầu như không xuất đầu lộ diện. Cưởi cáo ốm nằm lỳ ở nhà, mặc cho tiếng rên rỉ, nỉ non kêu khóc của cả bản Cọ Sơn và gia đình ông Triệu Văn Nga ai oán.

Ván cờ của Triệu Văn Cưởi ở Cọ Sơn đã đến những nước cuối cùng, Cưởi buộc lòng phải tìm một phương án mới trước khi nước chiếu hết đã sắp đến cận kề. Cưởi mất ăn, mất ngủ như kẻ bị bệnh tâm thần và xin ra bệnh viện tâm thần tỉnh điều trị.

Phòng Nông nghiệp và Hạt Kiểm lâm huyện được lệnh vào kiểm tra công tác trồng rừng ở Cọ Sơn. Họ đều thấy hậu quả của lối làm việc hành chính, cùng cơ chế quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp của họ đã tạo điều kiện cho những kẻ trục lợi làm càn có mảnh đất phì nhiêu để đơm hoa kết trái, sinh sôi nẩy nở.

Dân bản Cọ Sơn và nhất là đội trưởng Triệu Văn Nga vô cùng ân hận. Họ đã tham cái lợi trước mắt đáng giá chỉ vài nếp nhà, vài trăm cum lúa nương mà bỏ đi cả một núi ân tình rừng chi chút bao đời che chở nuôi sống họ.

Họ đã báo cáo chi tiết với lãnh đạo huyện về việc dân bản đã tiếp tay cho những kẻ phá rừng mà chủ mưu là Chủ nhiêm Triệu Văn Cưởi trong những năm qua như lời chuộc lỗi muộn mằn với xã, với huyện và với những người xấu số.

Chủ nhiệm Triệu Văn Cưởi được đoàn thanh tra huyện mời lên trụ sở làm việc, nhưng do đang điều trị tại bệnh viện tỉnh nên chưa có mặt để giải trình.

 

17

Bài học ở Cọ Sơn là hồi chuông cảnh tỉnh về sự bảo vệ thiên nhiên và phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn miền núi.

Đã đến lúc các cơ quan chuyên môn phải xem xét sự điều hành của mình trong thời gian vừa qua. Ai cũng nhận thấy sự lỏng lẻo trong công tác quản lý Nhà nước về đất và rừng. Bây giờ đến lúc cần phải kiểm tra, chấn chỉnh, phân rõ đúng sai từng người, từng việc. Huyện ủy họp và ra quyết nghị về việc tổ chức lại sản xuất, nhất là quản lý rừng, rút kinh nghiệm ở Cọ Sơn để nhân rộng ra quản lý toàn huyện.

Tháng ba năm ấy đói quá, đâu đâu cũng đói.

Những hộ có sổ gạo xếp hàng chầu chực trước các cửa hàng gạo để mua những cân bo bo cứng như đá, những cân sắn khô đã chớm mốc, những túi bột mỳ đầy mọt. Gạo là mặt hàng xa xỉ chỉ dành cho trẻ con, dù rằng đó là thứ gạo lâu năm để trong kho giờ đã bở bùng bục.

Làng xóm nông dân thiếu ăn đứt bữa, nheo nhóc tìm mọi thứ có thể độn lót được để giúp cho cái dạ dày đỡ lép kẹp. Nhiều hộ dân Seo Sơn trên nương đã hết cả sắn lưu mà củ mài trong rừng bây giờ cũng không có như trước nữa. Họ tìm chặt cả cây báng, lấy lõi băm nhỏ, ngâm nước suối rồi nấu ăn thay cơm.

Người ta ăn độn cả măng rừng, rau dại miễn sao cái bụng đỡ kêu gào. Không biết có nhà nào đói quá móc cả củ khoai bon, trước chỉ để nấu cho lợn về ăn, thấy dù ngứa nhưng cũng ăn được. Thế là các mảnh khoai bon bị đào hết gốc đến nỗi tìm cây giống trồng cho lợn cũng trở nên khó khăn, khan hiếm.

Không ai nghĩ rằng ở một nước nông nghiệp đất đai mầu mỡ, con người chịu thương chịu khó thế này mà chịu đói ràng đói rạc đến như vậy.

Nhiều hội nghị lớn bé được tổ chức để tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Nhiều chuyên gia kinh tế đã nghĩ đến giải pháp của ông Kim Ngọc. Mọi người đã mạnh dạn phê phán chỉ thị 100 dù như luồng gió mới thúc đẩy sản xuất nông nghiệp cả nước phát triển, nhưng cũng bộc lộ nhiều sức cản. Vì vậy họ đề nghị cần phải có sự thay đổi, tạo sức bật quyết định, cởi trói cho người dân trong việc tự quyết định vận mệnh của mình.

Đảng cũng đã nhận ra vấn đề.

Nghị quyết X của Bộ Chính trị khóa VI nhanh chóng được thông qua và ban hành trên cơ sở coi hộ nông dân là chủ thể quản lý ruộng đất. Kể từ nay, ruộng đất được giao cho nông dân quản lý, người nông dân được toàn quyền trong việc định đoạt việc trồng cây gì, nuôi con gì trên đất ruộng, đất rừng mình đã được nhà nước giao cho quản lý.

Lúc này Chủ nhiệm Triệu Văn Cưởi đang điều trị tại bệnh viện tỉnh. Thực chất đó chính là kế hoãn binh kéo dài thời gian để tìm nước chống đỡ của Cưởi mà thôi. Cưởi thấy rõ mình đang đứng trên bờ vực tội lỗi và án kỷ luật tù đầy chỉ còn là thời gian mà không có gì có thể chống đỡ được.

Tiếng rên rẩm của ông Triệu Văn Nga hôm nào còn như xối vào tâm óc Cưởi. Bất cứ lúc nào, khi ăn, lúc ngủ Cưởi cũng như nhìn thấy ánh mắt ông Nga đang xoáy vào Cưởi như muốn móc ruột, moi gan Cưởi.

Ván cờ ở Seo Sơn coi như đã tàn cuộc, “tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”, Cưởi đã quyết định và gọi Ba Tòng đến, bí mật bàn chuyện trốn về Hà Nội

Mấy hôm sau, Ba Tòng nói với mẹ và vợ Cưởi cần phải đưa Cưởi đi Hà Nội chữa bệnh thiên đầu thống theo lời bác sỹ dặn. Cưởi giả vờ nhăn nhó bảo:

– Tôi buốt đầu lắm, không đi chữa không được, nhưng đi chữa thì không có tiền nữa. Hết cách rồi, thôi đành chịu chờ chết thôi!

Ba Tòng gằn giọng:

– Anh không được nói gở. Còn người là còn của. Tính mạng con người là quý giá nhất. Ngày trước còn khỏe, anh lo cho cả nhà, bây giờ anh ốm chẳng lẽ mọi người bỏ mặc anh sao. Trong cơ sự bí bách này, tôi mạnh dạn tham gia hiến kế không biết có nên không?

Mọi người rối rít nói như van lơn:

– Có cách gì anh giúp được xin anh giúp đỡ.

– Theo tôi, ta nên bán khu nhà sàn ở Đá Vách lấy tiền tập trung chữa bệnh cho anh Cưởi. Bác và Dung tạm thời về ở cửa hàng khu trung tâm vừa gần nhà anh Công vừa gần nhà ông bà vãi (bố mẹ vợ) cho có mẹ có con, có anh có em. Sau này anh Cưởi chữa khỏi bệnh lại tính sau.

Dung ngập ngừng:

– Nhưng biết bán cho ai? Ở Seo Sơn toàn người giỏi lắm chỉ đủ ăn đủ tiêu, ai có tiền mà mua cả khu nhà mình được.

Ba Tòng bảo:

– Bác để cháu hỏi thử Phó Giám đốc Phan Văn Trị xem sao. Trước đây đã có lần anh ấy ao ước mua được khu đất đẹp ở Seo Sơn để làm nhà sàn như nhà mình, đón lõng các chương trình du lịch sinh thái đấy. Anh ấy chắc chẳng thiếu tiền. Chẳng lẽ trước đây anh Cưởi giúp anh ấy nhiều như thế mà bây giờ anh Cưởi gặp hoạn nạn anh ấy lại không giúp sao?

Mẹ Cưởi lập cập:

– Thế thì anh Tòng mau đi gặp anh Trị thử xem. Anh ấy mua cho thì phúc đức quá!

Đêm hôm ấy, văn bản bán nhà đã được Ba Tòng soạn thảo, hai vợ chồng Dung Cưởi ký tên trước sự chứng kiến đồng ý của mẹ Cưởi giao cho Phó Giám đốc Phan Văn Trị.

Cuộc đào tẩu của Cưởi và Ba Tòng diễn ra ngay sau khi nhận tiền bán nhà cho Trị. Vợ Cưởi thật thà chỉ biết Cưởi nhờ Ba Tòng đưa đi Hà Nội chữa bệnh chứ không biết chữa ở đâu. Chị cũng không biết rằng toàn bộ tài sản Cưởi giấu diếm cũng như mấy chục ô đất tại khu trung tâm đã được Cưởi bán trao tay và mang đi sạch.

Về Hà Nội, khác với mọi lần, Cưởi không về nhà mà thuê nhà trọ ở cùng Ba Tòng, sau đó cho Ba Tòng đón Ngát và con tới. Cưởi bảo Ngát:

– Anh bây giờ như con thú cùng đường rồi. Tiền bạc, của nả trắng tay, bị săn đuổi hết đường đành phải chui lủi, không dám xuất đầu lộ diện ở bất cứ đâu. Ngay cả ở đây có thể chính quyền đã cho người đón lõng, bắt được là tống vào tù ngay. Vì vậy em và con phải tạm lánh về quê ít ngày, chờ tôi tìm được chỗ ở mới an toàn sẽ lại đón em sau vậy!

Ngát rơm rớm nước mắt, nghẹn ngào:

– Không! Em cứ theo anh. Sướng cùng sướng, khổ cùng khổ, sống chết có nhau.

– Không được đâu em ơi! Mình anh còn dễ bề xoay xở. Nếu có thêm em và con càng khó thêm ra. Lỡ anh bị bắt vào tù, em xoay sở thế nào được? Nghe anh đi, rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy thôi!

Ba Tòng đế thêm vào:

– Phải đấy chị ạ. Thời thế thế này, trong những cái xấu phải chấp nhận chọn cái xấu ít nhất. Chị cứ về bản cũ ít ngày, nói rằng ở quê cha về chơi, chờ anh Cưởi thu xếp xong lại bí mật trốn đi sau, chứ bây giờ không cẩn thận là bị bắt vào tù cả lũ chứ chẳng chơi đâu. Hãy nghe anh Cưởi, đừng để chính quyền người ta nghi ngờ lần ra dấu vết anh Cưởi là gay go to đấy.

– Thế em cho con về, dân bản hỏi chồng em là ai em biết trả lời thế nào? Mà con thì giống anh như tạc, giấu làm sao được?

– Ừ nhỉ! Thế thì gay go thật. Thôi, em tạm đi ngủ đi, để anh và anh Ba bàn bạc tìm cách khác vậy.

Đêm hôm ấy Cưởi và Ba Tòng thức khuya lắm. Không biết họ bàn bạc với nhau những gì, nhưng chỉ thấy những tiếng lầm rầm như những người đang buôn bạc giả thời Ngát còn bé tý sống ở nhà quan tri châu cùng mẹ vậy.

Gần trưa hôm sau, Cưởi bảo Ngát để con ở nhà rồi đi với Ba Tòng lên vùng sơn cước tìm nơi tạm lánh, nếu được sẽ kéo cả nhà tới đó.

Hai người đóng giả người đi buôn hàng chuyến. Họ thuê chiếc xe con đít vuông đi từ trưa đến tối mịt mới đến một thị trấn nhỏ. Sau khi cơm nước, Ba Tòng đưa Ngát vào nhà trọ bảo Ngát nghỉ ngơi chờ Ba Tòng đi dò la tin tức. Nửa đêm, Ba Tòng về, bảo với Ngát đã tìm được địa điểm tá túc tốt đẹp rồi, mai sẽ đưa Ngát đi xem rồi quyết định. Ngát mừng như mở cờ trong bụng. Trước khi đi ngủ, Ba Tòng pha cho Ngát cốc nước cam uống cho lại sức. Ngát vui vẻ uống một hơi và thiếp đi lúc nào không biết.

Khi Ngát tỉnh dậy, trời đã nhập nhoạng tối. Không thấy Ba Tòng đâu, chỉ thấy lố nhố mấy người đàn ông nói lơ lớ tiếng Dao. Ngát hỏi họ, họ bảo:

– Mày đã được người đàn ông Việt Nam đem sang bán cho nhà này rồi. Ta chẳng biết Ba Tòng, Bốn Tòng nào đâu. Đây là đất Trung Quốc, cách biên giới Việt Nam đã gần nghìn cây số, muốn trốn cũng không trốn được nữa, phải ở làm vợ cho nhà ta thôi. Con gái Dao vốn là người Quảng Đông di cư sang Việt Nam nên nghe được tiếng Quảng Đông ta, không lo bất đồng ngôn ngữ nữa, mà lại đẹp người thế này bọn ta quý lắm à.

Ngát đau đớn hiểu ra rằng mình đã bị chính những người mình hết lòng thương yêu lừa bán sang đây rồi. Ngát đã nhiều lần nghe bà con hàng phố kể về chuyện phụ nữ Việt bị bán sang làm vợ người Tầu khổ lắm, nhục nhã lắm. Có người phải ngủ với tất cả đàn ông trong nhà bởi họ không có tiền cưới vợ. Thế nhưng không bao giờ Ngát tưởng tượng ra có ngày mình lại rơi vào hoàn cảnh ấy.

Thật độc ác hết chỗ nói.

Họ đã chà đạp lên thân thể Ngát, lại cướp đứa con Ngát dứt ruột đẻ ra, cướp mất niềm hy vọng cuối cùng an ủi Ngát lúc cô quạnh tuổi già.

Thế là hết.

Giờ đây Ngát đã trắng tay. Ngát đã mất tất cả, kể cả quê cha đất tổ, kể cả hàng xóm láng giềng, dù rằng đó là nơi thâm sơn cùng cốc, nơi mà Ngát đã tưởng rằng vĩnh viễn được sống trong tình thương yêu đùm bọc của dân bản Seo Sơn yên bình.

Nơi ấy, xưa kia Ngát có thể tự nhiên kéo váy qua đùi, qua eo, quấn lên cổ lội qua Bến Tình thơ mộng, đón tiếng trêu đùa của cánh con trai mà không lo bị sàm sỡ. Nơi ấy Ngát cứ tự nhiên cởi bỏ áo váy, không cần mảnh vải che thân, khoe sự nõn nà, trinh trắng tắm ở mó Rươm, mó Ngọc mà không lo bị ai hà hiếp, chà đạp.

Thế mà theo Cưởi về thành phố, dù luôn luôn quần chùng áo dài, trong ngoài đậy điệm nhưng Ngát lại bị lang sói gặm nhấm từ trong ra ngoài. Cưởi đã biến Ngát thành múi chanh hết nước, thành miếng giẻ chùi chân rồi lừa lọc quẳng Ngát vào nơi tăm tối.

Thế là mọi cánh cửa đã sập lại. Mọi nẻo đường đi về đã bị chặn. Ngát còn gì nữa mà hy vọng. Chẳng lẽ đành ngậm đắng nuốt cay, sống nốt phần đời ê chề ở nơi đất khách mà Ngát hiểu dù có tô vẽ đến thế nào cũng chỉ là tấm vải mục, che cho một tâm hồn khốn nạn này ư?

Không, không thể thế được. Ngát thà chết chứ không chịu nhục một lần nữa.

Lừa cho cả bọn không để ý, Ngát lấy trộm con dao nhọn. Ngát trừng mắt nhìn vào khoảng không vô định, thẳng tay đâm một nhát thật mạnh không thương tiếc vào bầu ngực trái, nơi con tim đã bao lần rạo rực trước tình yêu, tình người nóng bỏng.

Ngát thấy máu phun ra nhiều lắm trước khi mọi vật trước mắt trở nên đen ngòm vô vọng.

Chính lúc Ngát xía mạnh lưỡi dao vào trái tim trong trắng của mình thì Ba Tòng đã về đến Hà Nội và cùng Cưởi thực hiện nốt kế hoạch đã bàn trước đó.

Ngay đêm hôm sau, một đêm trời se se lạnh bởi những cơn gió đông bắc đầu mùa, Ba Tòng thuê xe ô tô về Seo Sơn. Mẹ Cưởi và Dung mừng rỡ đón Ba Tòng, nhưng Ba Tòng bảo cần yên lặng không nên ồn ã bởi chính quyền đang để ý tới Cưởi.

Ba Tòng thông báo:

– Bệnh tật của anh Cưởi gặp thầy, gặp thuốc đang tiến triển rất tốt, chắc nửa tháng nữa là có thể về nhà được thôi, mọi người đừng lo lắng nhé. Bây giờ anh Cưởi bảo cháu về đón bác xuống để có người sắc thuốc cho anh Cưởi uống hàng ngày đỡ cháu, vì cháu ngày nào cũng phải đi cất hàng từ sớm.

Dung nhanh nhảu:

– Để em xuống cùng mẹ.

– Không được đâu, em đi nữa thì lấy ai trông nom nhà cửa. Lại còn ông bà vãi nữa, các cụ cũng già yếu rồi, chẳng may ốm đau lấy ai là người chăm sóc. Vả lại ở Hà Nội nhà cửa có rộng rãi gì cho cam, xuống đông người biết ăn nghỉ ở đâu? Thôi em cứ ở nhà, chỉ đôi tuần nữa anh Cưởi về tha hồ mà chăm bẵm.

Mẹ Cưởi bảo:

– Thôi, anh Ba Tòng đã nói thế, con ở nhà trông nom nhà cửa, để mẹ đi. Bây giờ đi ngủ, sáng mai mẹ sang chào ông bà vãi rồi đi sớm. Mẹ thấy nóng ruột quá.

Ba Tòng vội nói:

– Bác ạ, cháu còn nhiều việc lắm, mai cháu phải đi cất hàng từ sớm rồi. Bác chuẩn bị ta đi luôn cho kịp việc của cháu bác ạ. Dung giúp anh lo đồ đoàn cho bác, nhanh kẻo xe ô tô chờ.

Ngay đêm ấy Ba Tòng đón được mẹ Cưởi về đến Hà Nội ở một xóm ngoại thành nơi Cưởi đang thuê nhà tá túc.

Theo kế hoạch đã bàn từ trước, để xóa hết dấu vết đã có, Cưởi bí mật bán nốt ngôi nhà mặt phố, cóp nhặt toàn bộ của cải, lập kế tránh sự theo dõi của chính quyền. Cưởi tiếp tục lừa vợ, đón mẹ về Hà Nội cùng Ba Tòng và đứa con với Ngát trốn vào Sài gòn sinh sống. Cưởi đã cắt đứt vĩnh viễn mọi quan hệ với mọi người quen biết trong những năm lang bạt kỳ hồ, cù bơ cù bất đến những thời điểm hoàng kim, trên nhung dưới lụa, trong ấm ngoài êm dưới thời ông Bí thư Huyện ủy Hoàng Văn Hợi. Hắn  cũng chấm dứt luôn cuộc sống vợ chồng với con gái yêu Hoàng Thị Dung của ông mà không cần sự công tâm của tòa án.

Đáng thương thay, một người con gái cành vàng lá ngọc, tiểu thư xinh đẹp của gia đình Bí thư Huyện ủy danh giá cũng không thoát khỏi sự lừa lọc của một kẻ thực sự vô danh tiểu tốt.

Không những thế hắn còn lừa được cả dân tộc Dao Mường Đá Vách với màn kịch đổi họ thực dụng để nấp bóng thật thà, làm nên cả một tấn trò đời đầy mưu mô và xảo trá.

Hắn đã lừa từ những người đã lăn lộn qua hai cuộc chiến tranh, đã đứng vững trên những cương vị lãnh đạo trong nhà nước dân chủ nhân dân, đẩy người ta đến chỗ thân bại danh liệt hoặc tự cắn rứt đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Hắn lừa những người dân vô tội hiền lành dù tinh nhanh, minh mẫn thậm chí có phần khôn vặt, nhưng chót tư hữu, sa đà, ham chút lợi cá nhân trước mắt, đến nỗi rơi vào thảm cảnh cha sống trong dằn vặt, con chết không nhắm được mắt.

Hắn lừa cả những người con gái đã từng bắc cầu cho hắn tiến thân, đã từng mang lại cho hắn những thăng hoa trong cuộc sống, nhưng khi không còn ích lợi cho hắn, đã phải chết nhục nhã nơi đất khách, hoặc sống không nên hồn ở ngay chính quê hương mình.

Hắn lừa cả mẹ hắn, người mẹ dứt ruột đẻ ra hắn, mang mẹ hắn ra làm mồi nhử khi còn xuân sắc vì những động cơ thấp hèn của hắn.

Tất cả bị lừa mà vẫn ngây ngô khờ dại không biết mình bị lừa hàng ngày, hàng giờ, vẫn cười vui cho đến khi cánh màn lừa lọc của hắn đã khép lại.

Thật là đau đớn.

Trần Văn Cưởi đã thoát tội và vẫn sống đàng hoàng trên nhung dưới lụa bằng vàng bạc và những đồng tiền là xương, là máu của những người vô tội, là tài nguyên của ông cha bao đời gìn giữ.

Kể từ nay, mọi tồn tại của Trần Văn Cưởi cùng tất cả những mẹo mực, mưu mô của một kẻ dối gian, thất học, giầu tính ma mãnh mấy lần đổi họ đã lai vô ảnh, khứ vô hình, chìm sâu vào dĩ vãng.

Chỉ còn lại đâu đây sự thảng thốt của những người vẫn còn sống nhưng đã vô tình vương vào tấm lưới lừa lọc của hắn mỗi khi nhớ lại.

Hoàng Thị Dung phát hiện ra bi kịch này khi nhận được bức thư viết vội của mẹ chồng trên tầu trốn vào Nam gửi cho cô. Bà nói sở dĩ Cưởi phải trốn vì có nhiều tội với nhân dân Seo Sơn không thể quay lại sửa chữa được nữa và bây giờ chính bà cũng là nạn nhân của Cưởi, không biết Cưởi đang đưa bà đi đâu?

Dung vô cùng đau xót. Cô đã mất tất cả từ nhà cửa, gia đình đến tiền bạc, con cái. Cưởi đã cướp đi của cô không chừa lại bất cứ thứ gì. Đau hơn cả là Cưởi đã đẩy cô cùng bố mẹ cô, một gia đình cách mạng gốc đến chỗ mất cả quê hương bản quán. Còn đâu không khí đầm ấm của làng bản quê hương ngày Dung còn thơ ấu. Giờ đây thay vào sự rộng rãi, thoáng đạt của nếp nhà sàn Mường nơi ngày xưa cô cùng bố mẹ sinh sống ở giữa quê hương, là sự đóng khung trong căn nhà ống chật chội, bí bách nơi ven đường đầy bụi, ngột ngạt bởi người và xe, ồn ã từ sớm đến đêm.

Cô không còn mặt mũi nào nhìn bà con dân bản nữa. Họ đã chi chút cho cô từng tầu lá cọ, từng lóng bương già để lo làm nhà, làm cửa cho cô. Thế mà cô đã bị Cưởi lợi dụng lừa gạt họ, cướp không công sức và lòng tin của họ.

Dung trừng trừng nhìn lên trần nhà quét vôi trắng lốp như nhìn thấy biết bao cơ man là khăn trắng tang tóc của dân bản Cọ Sơn, những khăn tang đầy côi cút và đau đớn.

Dung thấy thật bí bách trong người, chẳng hiểu vì sao mà lại bí bách đến vậy. Dung thấy ngứa ngáy hết cả mọi chỗ, ngứa như có hàng trăm hàng ngàn con kiến đốt. Sao lại nóng thế không biết, chỗ nào cũng nóng. Sao lại bứt rứt đến thế, chỗ nào cũng bứt rứt. Quần áo cứ như những sợi dây trói buộc chặt lấy Dung, dìm Dung xuống mặt đường nhựa bỏng rẫy nắng mặt trời.

Dung không chịu được nữa. Dung phải xé bỏ tất cả cho tinh thần thanh thoát. Dung xé roàn roạt không thương tiếc. Quần áo trên người như những chiếc lá bánh bỏ đi, nhơ nhớp và nhầy nhụa, bám chặt lấy người Dung, cần phải vứt hết.

Vứt bỏ được quần áo trên người Dung cảm thấy thật thanh thản, Dung cười thoải mái, cười như điên, như dại, như muốn phỉ nhổ vào sự khốn nạn của sự lọc lừa khốn kiếp mà Cưởi đã gieo vào cô.

Cứ thế, không còn quần áo ràng buộc, Dung đi ra đường, đi ra chợ, đi vào bản, miệng lảm nhảm những câu vô nghĩa, mắt nhìn vào khoảng không vô định, chân bước đi trong trạng thái vô tâm, lòng không có một sự vướng bận nào.

Dung đã bước vào một thế giới vô thức.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Quang Thiều

18

Tin Triệu Văn Cưởi bỏ nhà bỏ cửa trốn đi biệt tích sau vụ lũ bùn ở Đá Vách chốc lát loan ra toàn xã Seo Sơn. Những người đã từng gắn bó, nâng đỡ Cưởi như ông trưởng bản người Dao Triệu Văn Thân, nguyên Bí thư Huyện ủy Hoàng Văn Hội, Chủ tịch xã Seo Sơn Hà Đình Đông bứt rứt tưởng ngồi trên đống lửa. Bao năm qua, mọi người đã tin cậy, ủng hộ Cưởi, những tưởng mang lại lợi ích cho quê hương, cho bà con các dân tộc trong xã. Ai ngờ họ lại là người tiếp tay cho Cưởi trong việc tàn phá quê hương, gây nên thảm cảnh kinh hoàng không ai tưởng tượng nổi.

Cả xã Seo Sơn bàng hoàng trước tổn thất to lớn của trận lũ. Cánh đồng Cọ Sơn tan hoang kéo theo cánh đồng Gò Lau cũng tơi tả.

Sự tàn phá của thiên nhiên thật khủng khiếp, nhưng hệ lụy của nó về nhân sự hợp tác xã cũng vô cùng to lớn. Ban quản trị thực sự như rắn mất đầu khi Triệu Văn Cưởi bỏ trốn. Một số thành viên ban quản trị và toàn bộ các đội trưởng như những con ốc sên ngày thường hùng dũng, giờ thụt mình vào vỏ cứng, nằm im chờ thời. Tất cả họ đều trực tiếp và gián tiếp cùng với Triệu Văn Cưởi gây ra thảm họa khủng khiếp này.

Sự hoang mang lộ rõ trong những cái nhìn ngơ ngác của cán bộ xã và hợp tác xã. Họ không những mất hết tinh thần vì cơn thịnh nộ của thần cây, thần rừng, thần đất mà còn hoảng loạn vì sự thờ ơ lạnh nhạt của nhân dân các dân tộc trong toàn xã.

Chỉ một cái vật mình của thiên nhiên trước những việc làm vô nhân tính, bất chấp quy luật của họ mà bao nhiêu sinh mạng, của cải dân bản đã bị trả giá.

Những tấm bằng khen của các cấp từ tỉnh đến huyện, hiện thân của những hư danh phù phiếm khoác lên lá bài vì nhân dân, vì tập thể của họ cũng rơi rụng lả tả, phô ra những vết tang thương lở lói khắp nơi trong xã.

Tiền bạc của nhân dân toàn huyện đầu tư cho Seo Sơn bỗng chốc đổ ra sông ra biển.

Hóa ra từ trước tới nay họ toàn tô vẽ cho sự vô học của họ bằng những bộ cánh mầu mè lý luận vô nghĩa, để rồi cả đời này và đời sau con cháu các thế hệ kế tiếp phải è lưng gánh chịu cho sự tham lam ngu dốt của họ.

Họ đã đẩy dân đến mức phá cả rừng đầu nguồn để thu lấy những cum lúa nương ngon miệng lúc đương thời, vài cặp nhà che mưa, che nắng cho những tâm hồn rách nát chỉ biết nghĩ tư hữu cho mình của một bộ phận những người tham lam và đáng thương đã rơi vào sự bần cùng hóa về cả vật chất lẫn nhân phẩm.

Họ đã ăn chơi hưởng lạc trên tài nguyên trời đất lòng lành hàng nghìn năm, dầy tình dầy nghĩa ban cho quê hương làng bản. Tầm nhìn ngắn ngủi trước thời cuộc, trước vận mệnh cuộc đời của họ đã đẩy đời con cháu sau này vào thảm cảnh khó có thể khắc phục nổi.

Sự đau đớn nhãn tiền buộc họ đến chỗ không dễ gì chối bỏ trách nhiệm. Nhưng tất cả họ đều trốn tránh.

Họ đổ lỗi cho mô hình lãnh đạo tập thể, cho cơ chế quản lý mà không thấy rằng chính họ, với quyền uy tối thượng trong tay, đã đẻ ra mô hình lãnh đạo ấy, ra cơ chế quản lý ấy và mặc cho nó vận hành không hề kiểm tra, kiểm soát.

Họ giống như một kẻ chỉ biết việc thỏa mãn đẻ ra những đứa con, rồi kệ nó muốn ăn ra sao, làm ra sao, sống thế nào, có trở thành thiên thần hay trở thành quỷ dữ họ không cần biết.

Ông Hoàng Văn Hợi càng đau xót.

Là Bí thư Huyện ủy, ông đã ngủ yên trong vầng hào quang của những ngày dựa vào dân, gây dựng cơ sở cách mạng để giành bằng được chính quyền, mà thiếu kiểm tra sâu sát trước mô hình quản lý mới. Sự tắc trách đó đã tạo cơ hội cho những kẻ như Trần Văn Cưởi vô văn hóa đội lốt hiểu biết, chui sâu vào đội ngũ những người cách mạng, bòn rút của dân, tàn phá quê hương ông, lợi dụng ông, lừa gạt ông.

Vì sự dễ dãi có phần thiếu tri thức của ông mà những cánh rừng đại ngàn, vành nôi che chở cho nhiều thế hệ nhân dân quê ông đã bị đốn hạ không thương tiếc. Điều ấy tạo ra vàng bạc châu báu, chẩy vào túi tham của những kẻ lợi dụng danh nghĩa đồng chí, lợi dụng uy tín của ông để làm càn, làm bậy, để lại tang thương cho nhân dân, cho những người nuôi ông đi làm cách mạng, đẩy những người đã tạo thế và lực cho ông giành đến tột đỉnh vinh quang vào sự đau đớn khôn cùng.

Ông đã có mặt ở Cọ Sơn ngay sau giờ phút tang thương đó. Ông đã lăn lộn cùng đội cứu hộ bới bùn tìm những người xấu số, tắm rửa cho họ. Ông đau đớn đưa họ về chốn vĩnh hằng. Ông đã tham gia cùng dân bản vớt từng cây lúa còn lại, đòng tròn căng trong ngày đứng cái, chờ mùa sinh nở, trổ bông kết hạt bị lũ bùn xô ngã.

Ông lang thang như người mất hồn trên những lối mòn rừng Khe Cút, vật vã trước những gốc cây hàng mấy người ôm đã bị đốn hạ, thay vào đó những cây bạch đàn non tơ leo heo trổ nhừng mầm xanh sau cơn hồng thủy.

Ông đã đến từng ngôi nhà nửa sàn, nửa đất của người Dao Nga Hoàng ở Cọ Sơn còn lại, lắng nghe trong tột đỉnh đau đớn những lời than vãn về sự u mê của họ và về sự trừng phạt của thần núi, thần rừng với lỗi lầm mà họ đã gây ra.

Ông thất thần trước cái nhìn của dân bản, những người đã tin theo ông, nghe lời ông như nghe lời thánh sống. Cái nhìn của họ như một sự trách móc, một sự khinh khi, rẻ rúng đối với ông.

Đêm về, ông trân trân nhìn lên mái nhà đang ở. Đâu rồi nếp cọ ngày xưa yên bình, thanh thản ven đồi lốc cốc mõ trâu chiều tháng mười thơm mùi sắn nướng. Đâu rồi những lời thăm hỏi chân tình của dân bản làng Mường quê ông trước những vui buồn, thế sự mà ông đã trải qua. Sao ông lại bỏ lại tất cả để lên đây, phú quý ngây ngô trong căn nhà xây thơm mùi vôi mới mà thằng con rể khốn nạn của ông đã mượn danh hợp tác xã làm cho ông.

Mảnh đất này, căn nhà này chính là tính mạng của những người dân vô tội ở Cọ Sơn mang lại cho ông. Ông như thấy ánh mắt của họ nhìn ông ai oán.

Ông đã được nhân dân giao phó đưa đường chỉ lối cho cả huyện, mà ông không làm tròn sứ mạng đó, thì chính ông, chứ không phải ai khác phải gánh chịu những lỗi lầm do mình gây ra.

Trời đã trừng phạt ông. Con gái ông đã trở thành kẻ điên dại, suốt ngày lang thang không quần không áo, bạ gì ăn nấy. Vợ ông không chịu đựng được đau thương, ngất lên ngất xuống. May mà các cấp chính quyền từ huyện đến xã đã giang tay cứu giúp ông, mời các bác sỹ giỏi tích cực điều trị với thuốc men tốt nhất, nên bệnh tình của vợ con ông đang thuyên giảm theo hướng tích cực.

Ông đáng phải chịu sự trừng phạt của nhân dân. Nhưng ông có cái gì để đền cho tội lỗi đó? Ông chẳng có gì cả. Có lẽ chỉ còn một cách nhân đạo nhất dành cho ông là phải thành khẩn kiểm điểm trước nhân dân. Ông đau xót nhận ra rằng tội lỗi của mình đáng nhận hình thức kỷ luật cao nhất là bị khai trừ, đuổi ra khỏi tổ chức, không còn con đường nào khác.

Ông vùng dậy định lấy giấy bút viết kiểm điểm, nhưng bỗng nhiên thấy choáng váng, đầu óc quay cuồng. Ông muốn gọi vợ ông, con ông, cháu ông và kêu gọi mọi người tha tội cho ông mà không sao há miệng ra được. Tất cả không gian quanh ông trở nên đen kịt.

Màn đêm đặc quánh nhanh chóng bềnh bồng lôi ông chìm vào vô thức.

Đám tang của nguyên Bí thư Huyện ủy Hoàng Văn Hợi đột tử vì nhồi máu cơ tim kèm theo xuất huyết não diễn ra sau đó hai ngày. Trời mưa xầm xịt suốt ngày khiến những con đường khắp Seo Sơn duyềnh lên ngập ngụa bùn đất. Nền trời xám xịt, mây dầy đặc, xám ngoét từ đỉnh núi Khe Cút tràn xuống phủ kín cả một vùng rộng lớn như muốn nuốt chửng xã Seo Sơn nhỏ bé và đáng thương này .

Bí thư Huyện ủy Hà Trí Lâm đích thân làm chủ tang lễ cho ông Hoàng Văn Hợi. Các cán bộ huyện tỉnh và các xã trong huyện đều đến phúng viếng, đưa tiễn. Vợ ông cùng vợ chồng con cái Công và Dung rũ rượi thảm thiết bên linh cữu ông. Tất cả những lao tâm khổ tứ cả cuộc đời hoạt động cách mạng của ông vì sự tắc trách, bỗng chốc chỉ còn là những tiếng nấc nghẹn trong cổ họng của anh em đồng bào, đồng chí.

Mộ ông nằm trên đồi cao, lộng gió, nhìn xuống cánh đồng Gò Lau.

Dẫu sự trừng phạt của thiên nhiên còn ngổn ngang gò đống, nhưng những đòng lúa còn lại cũng vẫn kiêu hãnh vươn lên gọi nhau vào mùa đang cốm.

Hội nghị toàn thể Đảng bộ xã Seo Sơn được tổ chức dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bí thư Huyện ủy Hà Trí Lâm. Hội nghị đau xót dành một phút mặc niệm những người dân vô tội Cọ Sơn bị lũ bùn vùi lấp đã về cõi vĩnh hằng. Hội nghị nghiêm túc kiểm điểm sự buông lỏng lãnh đạo của Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch xã để cho Chủ nhiệm Triệu Văn Cưởi tác oai, tác quái, tàn phá rừng Khe Cút gây hậu quả nghiêm trọng cho nhân dân toàn xã.

Hội nghị xác định rằng, trước sự mất mát về lòng tin của nhân dân, cần phải nghiêm túc kiểm điểm, kiện toàn lại sự lãnh đạo, xốc lại đội ngũ, sửa chữa sai lầm để lấy lại lòng tin của nhân dân, tiếp tục lãnh đạo nhân dân Seo Sơn đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống.

Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch xã Seo Sơn đã tự giác kiểm điểm và nhận hình thức kỷ luật cách chức. Cả một núi công việc trong xã đang cần người đứng đầu chèo lái. Sau khi bàn đi tính lại, lựa chọn nhân sự đủ tài đủ đức, có kinh nghiệm thực tế, đã lăn lộn với công tác địa phương Seo Sơn, được đào tạo bài bản trong nhà trường đại học, hội nghị nhất trí cao, giới thiệu với Thường vụ Huyện ủy bà Triệu Thị Bầu hiện là Huyện ủy viên, Phó Phòng Nông nghiệp huyện về đảm nhiệm trọng trách Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch xã.

Huyện ủy viên Triệu Thị Bầu được mời tham gia hội nghị đặc biệt của Thường vụ Huyện ủy bàn về công tác lãnh đạo Cọ Sơn.

Hội nghị chuẩn y quyết định cách chức Bí thư Đảng ủy xã và Chủ tịch xã, ra quyết định cảnh cáo Ban chấp hành Đảng bộ xã Seo Sơn, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện truy tố Chủ nhiệm Hợp tác xã Triệu Văn Cưởi.

Sau khi làm công tác tư tưởng, hội nghị cũng chuẩn y việc cử Huyện ủy viên Triệu Thị Bầu tham gia Ban chấp hành Đảng bộ xã Seo Sơn để bầu vào cương vị Bí thư Đảng ủy xã, đồng thời tham gia Hội đồng nhân dân xã để bầu vào cương vị Chủ tịch xã.

Mọi công việc nhân sự nhận được sự đồng thuận cao từ dưới lên trên. Một tuần sau, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch xã Triều Thị Bầu đã chính thức về nhận công tác ở Seo Sơn khi lúa đã bắt đầu đỏ đuôi và vụ gặt mùa đang đến rất gần.

 

19

Việc sắp xếp lại bộ máy Ban quản trị Hợp tác xã đòi hỏi hết sức khẩn trương nhằm khắc phục sự buông lỏng quản lý cũng như sớm kiện toàn tổ chức để triển khai công tác khoán 10 trong toàn Hợp tác xã.

Bí thư Triệu Thị Bầu yêu cầu tổ chức Đại hội toàn thể xã viên bất thường. Trong cuộc họp Ban Chấp hành Đảng ủy xã nhiều ý kiến đưa ra nên tổ chức Đại hội đại biểu vì hội trường không đủ chỗ để Đại hội toàn thể, nhưng Triệu Thị Bầu kiên quyết yêu cầu Đại hội toàn thể. Chị phân tích:

– Vừa qua các tồn tại trong công tác quản lý điều hành của Hợp tác xã đã làm xói mòn lòng tin của xã viên. Vì vậy Đảng bộ phải nhận trách nhiệm trước dân và mong dân đóng góp ý kiến để sửa chữa, nhằm tiến bộ. Việc tìm người bầu bổ xung vào trọng trách Chủ nhiệm Hợp tác xã cần được công khai minh bạch và do xã viên tín nhiệm thực sự để tạo ra động lực mới cho bộ máy lãnh đạo. Viêc triển khai chủ trương khoán 10 trong nông nghiệp là việc làm cấp bách, cần phổ biến sâu rộng đến bà con xã viên vì đây là chủ trương lớn thay đổi toàn bộ nếp nghĩ cách làm của chúng ta từ trước đến nay. Do đó cần tổ chức Đại hội toàn thể. Còn địa điểm họp không nhất thiết hình thức sang trọng. Tuyển quân đi đánh Mỹ vào sinh ra tử đâu cần phải có hội trường to lớn rộng dài mà dân bản vẫn góp người, góp của đầy đủ đó thôi.

Mọi người nghe chị phân tích có lý, có tình đều đồng ý. Và thế là Đại hội toàn thể xã viên Hợp tác xã Seo Sơn được tiến hành ngay tại sân kho trung tâm Hợp tác xã với sự có mặt đầy đủ xã viên, không ai muốn vắng mặt cả.

Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy xã, Ban Chủ nhiệm cũ đã nhận khuyết điểm trước xã viên. Đại hội đã giới thiệu và bầu Đảng ủy viên, Bí thư đoàn thanh niên xã Bàn Quyết Tâm, Trung cấp nông nghiệp vào Ban quản trị và là Chủ nhiệm Hợp tác xã.

Bí thư Triệu Thị Bầu được tân Chủ nhiệm Bàn Quyết Tâm giới thiệu lên trình bầy nghị quyết 10 của Ban Chấp hành Trung ương về khoán quản trong nông nghiệp. Chị phân tích kỹ nhận định của Trung ương về ưu nhược điểm cách tổ chức điều hành cũ của Hợp tác xã và những thay đổi của cách khoán mới.

Trung ương cũng chỉ ra rằng, mô hình quản lý của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong khoán 10 sẽ được thay đổi. Mô hình đó vận hành theo phương châm “một chủ, bốn tự” phù hợp với cơ chế quản lý mới. “Một chủ” là xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ. “Bốn tự” nghĩa là Hợp tác xã tự xác định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; tự xác định hình thức, quy mô sản xuất; tự xác định hình thức phân phối, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm để xã viên tự vào ra Hợp tác xã.

Những yếu tố quan trọng của khoán 10 được chị chỉ ra rất rõ. Đó là giao quyền sử dụng đất cho nông dân, tự do hóa thương mại, tạo điều kiện cho người dân kinh doanh tự do cả đầu vào, đầu ra trên thị trường, chuyển Hợp tác xã, cơ quan chịu trách nhiệm toàn bộ về tổ chức quản lý sản xuất sang làm dịch vụ cho nông dân. Các cơ chế xin cho, điều hành theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp được xóa bỏ. Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã được tổ chức lại theo hướng tinh gọn nhẹ.

Cả đại hội ồn ào hẳn lên, xã viên đồng loạt bầy tỏ sự đồng tình ủng hộ. Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã hồ hởi phát biểu:

– Đúng là Đảng đã hiểu thấu lòng dân. Đảng đã tin dân, giao ruộng đất cho dân thì dân không phụ lòng tin của Đảng, sẽ làm cho ruộng đất sinh sôi năng xuất. Tất cả sẽ thành cánh đồng ruộng năm phần trăm hết. Xin Bí thư tin ở chúng tôi.

Cả đại hội vỗ tay hoan hô như sấm dậy. Một khí thế mới trào dâng như sóng biển. Một ai đó hô vang:

– Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

Tức thì cả đại hội rầm rập:

– Muôn năm, muôn năm, muôn năm.

Chỉ trong thời gian ngắn, mọi tổ chức cồng kềnh trong Hợp tác xã theo kiểu quản lý rong công phóng điểm tự nhiên không còn chỗ đứng. Vai trò Ban quản trị và Chủ nhiệm Hợp tác xã đòi hỏi thực chất tài năng và đức độ, không cho phép những người chỉ nhờ chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc sự tinh khôn, mưu mẹo, ma mãnh tồn tại.

Các đội trưởng Hợp tác xã ai thấy mình không đủ tư cách, không đủ tài năng đều xin tự rút lui. Các thành viên Ban quản trị lập tức được cử về thay thế tạm thời để gấp rút tổ chức việc chia ruộng cho xã viên ngay sau vụ gặt mùa. Một bộ máy điều hành Hợp tác xã gọn nhẹ đã bắt đầu được xác lập. Lòng tin của xã viên chưa khi nào được đẩy lên cao như giai đoạn này.

Vụ mùa đến. Trước đây việc thu hoạch phải mất hai ba tuần nay chỉ trong mươi ngày toàn bộ công việc gặt hái đã được tiến hành xong xuôi, gọn ghẽ. Nhờ trời, năm nay nắng ráo, việc phơi phong tịnh kho diễn ra nhanh chóng và suôn sẻ.

Do bị thiên tai nên sản lượng vụ mùa toàn Hợp tác xã giảm mất hai mươi phần trăm, nhưng khi chia bình quân vẫn được một cân sáu thóc một công, ngang bằng mọi vụ. Thì ra các đội trưởng cũ cũng biết sợ bị phanh phui việc nhập nhằng công điểm đã tự điều chỉnh lại, không dám ghi những công khống vào sổ sách, những chi phí cho hoạt động chung cũng được tự động điều chỉnh về giá trị thực của nó.

VŨ QUỐC KHÁNH

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *