Những khối pha lê không ánh sáng

Vanvn- Tôi có một bạn văn của riêng tôi. Ông ấy viết văn trước tôi, bây giờ vẫn viết, nhưng… chưa bao giờ xuất bản. Ông viết rồi lại bỏ, bỏ rồi lại viết. Có lúc tôi thấy bản thảo bị xé bỏ đầy sọt rác nhà ông, có thể ông đốt nữa nhưng tôi chưa bắt gặp.

Không thể tậu ô tô, mua nhà ở, nhưng tôi chắc chắn nếu số bản thảo ấy đem in hết, và tái bản đi tái bản lại, ông sẽ có món tiền to, tên tuổi ông không lừng lấy văn đàn thì ít nhất người trong nghề cũng vị nể. Vẫn không in. Dứt khoát không in. Ông lạnh lùng bình thản, chứ không nóng nước đỏ gọng như tôi, cứ viết được cái gì là in cái ấy. Tôn trọng quyết định của ông, nhưng tôi cũng vô cùng sốt ruột cho ông. Trong một buổi chiều tàn thu, tôi cùng ông ngồi nhâm nhi cà phê nói chuyện về gia tài nhà văn, ngoái lại nhìn, tự cân đong đo đếm, rồi đần mặt ra nghĩ đến những gì còn mất, tôi dồn dập hỏi:

Nhà văn Sương Nguyệt Minh

“Chả lẽ cả đời ông ăn lương công chức quèn, chăm chỉ đọc và viết để rồi lại xé, lại đốt bản thảo?”

“Chả lẽ ông cứ viết không công, không in trong tiếng réo gọi của đàn con cần tiền ăn sáng?”

“Chả lẽ cả đời văn của ông cứ thao thức, giày vò và không vừa lòng với những gì mình viết ra, để rồi cứ viết, cứ đốt, cứ vô tăm tích, xong một kiếp người vẫn vô danh?”

Ông ấy điềm nhiên bảo:

“Tôi không thể chường mặt ra với những gì tôi làm chưa hoàn hảo”

“Tôi cần tiền, tôi đã đi làm nghề khác”

“Tôi vô danh. Ông vô danh. Tất cả đều vô danh. Cái đám viết văn chúng mình đã thiếu tài năng mà còn nhiều khoảng trống quá, thiếu nhiều thứ quá. Tôi lấp mãi không đầy. Ông lấp mãi không đầy. Tất cả đều lấp mãi không đầy. Tất cả đều vô tăm tích”.

Nghe bạn văn trả lời mà… sởn tóc gáy, rợn cả người. Mới thấy cái “pháp trường trắng” của Nguyễn Tuân khủng khiếp lạnh lỗ chân lông.

Sau cái buổi chiều nói chuyện về khoảng trống lấp mãi không đầy ấy, tôi thao thức mãi khi đêm về. Các cụ ngày xưa bảo: “Văn là người”. Phẩm chất con người văn thế nào thì viết văn như thế. Cái hành trang mang theo để hành nghề văn thế nào thì sáng tạo và sản phẩm ra như thế, không khác được. Cho đến bây giờ đi gần hết đời người văn rồi mà đụng đến cái gì cũng thiếu hụt, cái gì cũng trống vắng. Trống vắng tư tưởng. Trống vắng tài năng. Trống vắng tôn giáo. Trống vắng môi trường biết. Trống vắng kiến văn… Tôi trống vắng. Anh trống vắng. Tất cả người văn chúng ta đều trống vắng. Nhớ lại khuôn mặt tội nghiệp của ông bạn tôi, thương cho bạn bao nhiêu lại xót xa cho mình bấy nhiêu.

***

Tôi đã từng viết thế này: “Tác phẩm đỉnh cao dứt khoát chứa tư tưởng lớn và cha đẻ của nó phải là nhà văn có tư tưởng lớn. Nhà văn không có tư tưởng, viết bản năng, ăn may, được chăng hay chớ… không bao giờ làm nên tác phẩm mang tư tưởng thời đại. Ở Việt Nam, đốt đuốc cũng không tìm được nhà văn có tư tưởng lớn thì lấy đâu ra tác phẩm đỉnh cao nhân loại?”

Nhà văn có tư tưởng, tác phẩm mang tư tưởng không phải đến bây giờ chúng ta mới bàn. Sinh thời nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng Bielinski cho rằng: “Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà tư tưởng”. Bạn văn chúng ta đôi khi ngồi nói chuyện với nhau về đồng nghiệp, bảo: ông kia viết không có tư tưởng, tác phẩm của bà này tính tư tưởng kém…vv. Nói thì nói vậy, nhưng để hiểu thế nào là nhà văn có tư tưởng, tác phẩm mang tư tưởng không dễ. Cũng Bielinski đã viết:“Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng là linh hồn của chúng, đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê”. Cái mà nhà văn chúng ta còn trống vắng là tư tưởng cả hai phương diện: tư tưởng là một phẩm chất, và cách thể hiện tư tưởng trong tác phẩm.

Những người thuộc tầng lớp tinh hoa, đặc biệt là các nhà cách mạng xã hội, nhà văn hóa càng là những người có tư tưởng lớn. Họ đưa tư tưởng cá nhân đột sáng đến cộng đồng theo các cách khác nhau. Người viết văn dù có ý nghĩ, quan điểm, quan niệm trên một nền tảng triết học nhất định với hiện thực đời sống, nhưng nếu tư tưởng ấy nằm khô xác trên giấy thì vẫn chưa trở thành nhà văn có tư tưởng. Tác phẩm đặt ra những vấn đề to tát, miêu tả phản ánh hiện thực, nhưng sẽ chết yểu nếu không có những nghĩ ngợi nhức nhối về cuộc đời, nhân sinh, không gợi mở “những băn khoăn triết học”.

Sinh thời nhà văn Nguyễn Khải viết rằng: “Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó. Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm, chứ không phải tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy”. Còn tiên sinh Nam Cao thì bảo: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa ai có”. Như vậy, đối với một tác phẩm văn học, cái đầu tiên là phải có tư tưởng đột sáng, sau đó là đưa tư tưởng ấy đến bạn đọc bằng cách riêng độc đáo của mình.

Trong thực tiễn sáng tác, có người chỉ đơn thuần kể tả, kể có duyên thì gọi là viết có văn, kể vô duyên thì ngược lại. Chỉ kể và tả thôi, kể cho xong câu chuyện, tả cho xong con người, quang cảnh, tâm trạng, mà không biết đưa ra thông điệp gì. Lại có người đặt ra tư tưởng rất lớn lao, nhưng chữ lép, hoặc vô hồn, hoặc thật thà, nôm na, không rung động cảm xúc, không biết cách đưa tư tưởng ấy đến bạn đọc bằng con đường hấp dẫn, sinh động, đặc sắc. Thực ra, số đông vẫn chỉ là kể cho xong một hoặc vài sự kiện, kể cho xong cốt truyện.

Thành ra, đó đây chúng ta vẫn bắt gặp các tác phẩm được kể như là bà nội, bà ngoại kể, như là ông hàng xóm hay chuyện, như là cô bạn có nhu cầu giãi bày có duyên kể. Chúng ta vẫn bắt gặp những cái gọi là viết có văn, một lát cắt cuộc sống, một tâm trạng, một mẩu chuyện gọn gàng xinh xắn, đọc vẫn cứ xúc động, vẫn cứ hay. Nhưng, bảo là có tư tưởng lớn thì rõ ràng là không.

Chúng ta vẫn bắt gặp đây đó những tác phẩm ngắn gọn cô đọng kể xong một câu chuyện, hoặc tràng giang đại hải hết chuyện này sang chuyện khác, sự kiện này nối sự kiện khác, đọc vẫn thấy ổn. Nhưng có nghĩ ngợi, giày vò băn khăn khoăn, mổ xẻ, phán xét xã hội, con người hay không, thì rõ ràng là không; có tư tưởng lớn hay không thì chắc chắn là không.

Nhân một lần bàn về tư tưởng tác phẩm, tôi bảo ông bạn viết trăm tác phẩm không xuất bản lần nào:  “Sao cứ phải có tư tưởng rồi mới viết? Bản thân câu chuyện nhà văn kể đã nói lên một tư tưởng nào đó rồi chứ!” “Đúng thế!” Ông ấy công nhận. Đôi khi nhà văn chỉ kể thôi, câu chuyện cũng đã hàm chứa một thông điệp, một tư tưởng rồi. Có ai đó nói rằng: “Chi tiết nhỏ, tư tưởng lớn”. Chỉ một chi tiết thôi đã nói lên một cái gì đó lớn lao rồi. Nhà văn sáng tạo không đặt ra tư tưởng tác phẩm trước, mà cứ viết nội dung là ra vấn đề lớn về con người, về thời đại thì đã đạt đến độ… vô chiêu tuyệt đỉnh rồi. Khi ấy, tư tưởng ẩn náu vào ngôn ngữ, quan niệm sống, hình tượng nghệ thuật sinh động, vào cảm hứng dào dạt trên nền tảng kiến văn và tư duy khái quát. Tư tưởng và rung cảm thẩm mỹ, kỹ thuật hòa trộn, nhuần nhuyễn, tự nhiên như mạch nước ngầm chảy ra, thử hỏi được mấy ai? Nhà tư tưởng và nhà văn hòa trộn vào một rồi.

Còn phần nhiều là chật vật đường văn. Người vô tư “điếc không sợ súng” viết. Kẻ không lấy văn chương làm điều lớn lao… viết, người gò mình, vật vã nghĩ, bày binh bố trận và… viết. Như ông bạn tôi là người vật vã viết, cầu toàn viết. Cứ viết rồi xé là bởi ông không có thông điệp gì độc sáng, mới mẻ, và cách sáng tạo vẫn cũ mèm, đi chung đường, lẫn vào người khác. Ông là người tỉnh táo, cầu toàn, nhưng cả nước đều như ông thì làm gì có văn học. Tôi nghĩ, vẫn cứ phải suy tư giày vò, phải viết, phải in. Nó có ra cái gì có tư tưởng hay không, người nghệ sĩ có hoàn thành sứ mệnh “nhà tư tưởng” hay không vẫn phải để tác phẩm ra lò cho bạn đọc kiểm nghiệm.

***

Vậy thì, làm thế nào để lấp đầy khoảng trống tư tưởng nhà văn, để có tác phẩm mang tư tưởng? Tôi đã và đang quan niệm: “Tư tưởng lớn nhà văn không thể sinh ra đã có ngay, mà phải “tập đại thành”. Đó là hành trình nhọc nhằn tích luỹ tri thức văn hoá, triết học, mỹ học, thần học, lịch sử, tôn giáo, ngoại ngữ…vv. Có nghĩa là quá trình trang bị gia tài văn hóa, tinh thần đủ độ để sinh ra tư tưởng. Nhưng nhà văn phải ngẫm nghĩ về số phận nhân loại, thân phận con người, về tiến bộ xã hội…; nhà văn phải mang nỗi đau nhân tình hướng đến tư tưởng bình đẳng, tự do, bác ái, hướng đến giá trị chân – thiện – mỹ… thì mới ra tư tưởng lớn”.

Nguyễn Du trước khi viết Truyện Kiều, ông đã là nhà nho đọc được Tứ thư, Ngũ kinh, đọc Đạo đức kinh. Triết học Khổng tử, Lão tử, Mạnh tử, minh triết phương Đông… không xa lạ gì với Nguyễn Du. Các nhà văn lớn thế giới không thể thiếu sách triết học, mỹ học Aristoteles, Hegel, Nietzsche… Nhưng, hầu hết các nhà văn chúng ta chưa tiếp cận kho tàng triết học, mỹ học nhân loại, chỉ biết đến Triết học, mỹ học Marx – Lenin nhưng chỉ được trang bị một cách sơ giản, không đến đầu đến đũa, thậm chí hiểu sai. Hiểu biết về các tôn giáo lớn, thần học, dân tộc học… cũng rất hạn chế. Làm sao có tư tưởng lớn được?!

Tôi có niềm tin rằng, cũng với con người tôi, với các tác phẩm đã viết, nếu như tôi từ nhỏ đã thấm đẫm một tôn giáo nào đó, hoặc sống trong môi trường tôn giáo, hoặc bằng nhiều con đường để hiểu biết sâu sắc đạo Phật, hay đạo Thiên chúa chẳng hạn, thì có thể sẽ viết hay hơn, tác phẩm sẽ lớn hơn. Tiếc thay, tôi và nhiều bạn văn của tôi suốt một thời vô thần, tránh xa tôn giáo, sợ hãi tín ngưỡng, đến lúc nhận thức ra muốn lấp đầy khoảng trống tôn giáo, tín ngưỡng thì quá muộn, dù nỗ lực muốn lấp thì cũng quá nhọc nhằn.

Dĩ nhiên, không thể không nói đến khoảng trống tài năng. Chúng ta đang quá thiếu tài năng. Mất ở tuổi 35, Mozart đã kịp để lại cho loài người 600 nhạc phẩm, trong đó có 41 bản giao hưởng, 27 bản Concerto cho đàn piano. Bá tước Tolstoy lúc 35 tuổi đã viết “Chiến tranh và hoà bình”, nhưng điều vô cùng đáng khâm phục là ông viết tác phẩm này khi Cuộc chiến tranh năm 1812 chống cuộc xâm lược của Napoleon I đã lùi xa hơn nửa thế kỉ. Một cuộc chiến tranh mà ông không hề được chứng kiến, nhưng bằng tài năng của mình, bằng cảm hứng về nhân dân kì diệu giục giã Tolstoy – nhà tư tưởng nổi tiếng Nga – hoàn thành tiểu thuyết anh hùng ca này và ông đã trở thành “tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”.

Khoảng trống tài năng thì chỉ có giời mới “lấp đầy” được, vì giời sinh, giời cho. Nhưng có thể lấp đầy khoảng trống tư tưởng nhà văn bắt đầu từ lấp khoảng trống văn hóa, triết học, tôn giáo, thần học,… và cả trải nghiệm sống nữa. Có người đổ lỗi cho hoàn cảnh, môi trường sáng tác nên chưa có tác phẩm lớn. Tôi cho rằng: khi nhà văn có tài năng và được trang bị triết học, văn hóa… đến độ sinh ra tư tưởng lớn, thì họ thật sự sẽ biết mình nên làm cái gì, không nên làm cái gì, biết nên viết cái gì, và viết như thế nào? Họ sẽ làm cho mình tự lớn, để sáng tạo tác phẩm mang tư tưởng lớn.

SƯƠNG NGUYỆT MINH

 Viết & Đọc mùa đông 2021

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *