Nhà thơ Thu Bồn – Cả cuộc đời là một bản tráng ca

(Kỷ niệm 65 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-2022)

Vanvn- Trong đội ngũ đông đảo các nhà thơ cùng thế hệ, không mấy ai có một lý lịch tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ phong phú, sôi nổi, hoành tráng, lắm bi thương, mà cũng nhiều giây phút huy hoàng như nhà thơ mang tên dòng sông quê: Thu Bồn.

Ông từng kể, năm 1947, ngày đầu, Pháp chiếm Quảng Nam, Điện Bàn quê Ông thường xuyên bị giặc về càn quét. Người chết nhiều, phần vì đạn bắn, phần vì đói. Cả làng chỉ còn một Đảng viên duy nhất bám trụ, đêm đội hầm bí mật lên đi gom xác đồng bào. Mới 12 tuổi, ở lại, hàng đêm, Hà Đức Trọng – tên khai sinh của nhà thơ – soi đuốc, cho người Đảng viên bó xác người đi chôn. Có đêm đói quá, bị ngất, bà mẹ phải đưa về tìm gạo dự trữ từ vùng tự do gửi vào, nấu cho bát cháo loảng để hồi sức.

Nhà thơ Thu Bồn (1935-2003). Ảnh tư liệu

Trước khi được gửi ra vùng tự do đi học, Người Đảng viên trao cho Trọng một bảo vật của làng, sợ để lại không giữ được. Bà mẹ sợ là vàng bạc châu báu gì, con khó giữ nổi, nên đòi xem. Hóa ra đó là một lá cờ Đảng. Sau này, trong nhiều trận chiến đấu ác liệt, lá cờ đã được phất cao trong các trận tấn công. Nhiều đồng đội hy sinh anh dũng. Cha anh bị địch bắt và chết ở trong tù. Người chị gái mới 18 tuổi, là một cán bộ đầy triển vọng, bị bắt, không khai, chúng xẻo từng bộ phận thân thể, và chặt đứt ngón tay để lấy chiếc nhẫn vàng là quỹ của đoàn thể mà chị được tin cậy trao giữ.

Hiện thực khốc liệt đó, đã giục Hà Đức Trọng viết nên những bài thơ đầu tiên. Tham gia các hoạt động văn nghệ, động viên tinh thần quân và dân hăng hái chiến đấu. Những ngày được đi học văn hóa ngắn ngủi, trong hoạt động cùng đóng kịch, ngâm thơ, đã có cảm tình với người con gái đầu tiên. Nhưng chú cô gái, là hiệu trưởng, đã tìm cách ngăn cản, bởi ông lo rằng cháu mình sẽ khổ một đời, vì yêu một chàng trai đẹp mã, hào hoa lại có tài văn nghệ.

Ngỡ là với Hiệp định Geneva 1954, đất nước chia hai miền, Hà Đức Trọng theo đơn vị đi tập kết, đã buộc hai người phải chia tay mãi mãi. Sau mấy năm tập kết, được vào học  trường Sĩ quan Lục quân, Đại học Sư phạm, Tuyên huấn, báo chí, rồi năm 1961, lại được trở về Nam sớm nhất trong những người làm văn nghệ. Trường ca  Bài ca chim Chơ rao  được viết khá sớm trong những ngày đầu nhà thơ lăn lộn xây dựng cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Năm 1962, nhân có nhiệm vụ ra trạm Ca Tu ở ranh giới Lào – Kon Tum đón đoàn cán bộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên đường ra Bắc, gặp nhà thơ Thanh Hải, tác giả bài thơ nổi tiếng M Anh hoa n, Hà Đức Trọng mới trao gửi nhà thơ mang ra.

Như nhận được một của quý, các nhà thơ miền Nam đang công tác ở các cơ quan văn nghệ Trung ương đã góp sức, chung lòng, đọc và biên tập từ bản chép tay viết  nơi không có bàn ghế, đêm đêm được người dân tộc đốt đuốc cho nhà thơ viết, nên lần đọc chữ không dễ dàng gì. (Bởi ban ngày phải đi phát rẫy, chặt cây, dựng nhà, tăng gia tự túc lương thực.Trong công việc lao động chân tay nặng nhọc này, nhà thơ là một nhân lực trụ cột, vì sức khỏe và khéo tay), nên mãi đến 1964, Bài ca Chim Chơ rao mới được báo Văn Nghệ  tung ra trong một phụ bản in đặc biệt với những lời giới thiệu rất nồng nhiệt của các nhà thơ đang là lãnh đạo Văn nghệ bấy giờ: Nhà thơ Hoàng Trung Thông giới thiệu: “Bài ca, một khúc hát trữ tình cách mạng, một bản trường ca về những con người chiến đấu của Miền Nam”. Số báo sau, nhà thơ Nông Quốc Chấn có bài Mt bn hùng ca ca những con người thép. Cũng năm đó, Nhà xuất bản Văn học in thành sách, rồi  được dịch và in ở Trung Quốc, cùng cuốn Nhng bức thư từ tuyến đu T quc. Cho đến nay, đây vẫn là hiện tượng hiếm trong văn học hai nước láng giềng.

Từ trường ca này, mà bút danh Thu Bồn trở nên nổi tiếng, và được đặc biệt tin yêu ở chiến trường khu V ác liệt. Nhưng mãi đến năm 1965, khi được phái đến vùng ba biên giới, chuẩn bị địa bàn để đánh bọn Kỵ binh bay ở Plây me, tình cờ gặp đoàn cán bộ văn hóa trên đường vào Trung ương Cục, trong đó có nhà thơ Lê Anh Xuân, Nguyễn Hồng Tân, Từ Sơn. Đặc biệt, nhà báo Đinh Phong, trong đáy balô có mang theo tờ báo Văn Nghệ có in bài thơ.

Nhà thơ Thu Bồn kể: ”Tôi mang theo tờ báo Văn Nghệ có bản Trường ca, đi bộ suốt 15 ngày,vượt qua một cung đường nguy hiểm nhất để đến với cái làng Đêpapơlêch – cái làng đã đẻ ra bản trường ca của tôi. Tôi tìm ông già Siuken,người từng thổi kèn đinh năm cho tôi nghe, và cô gái xinh đẹp Hơ Tó từng đốt lửa lồ ô và nứa suốt đêm cho tôi ngồi viết bản trường ca. Khi lũ làng vừa kéo về, cùng nhau xem tờ báo, rồi xé ra mỗi người một mảnh, thì B52 ập tới, cả làng tan nát trong trận bom “dội máu của lũ làng đã đổ. Những chiếc trực thăng như trồng ngược lên từ phía sau dãy núi bắn xối xả xuống làng buôn. Cuộc dụng độ của Sư đoàn kỵ binh bay và quân chủ lực của bộ đã bắt đầu. Lửa cháy rực cao nguyên,sắt thép và máu tung tóe 10 ngày đêm. Ông già Siu ken và cháu Hơ Tó cùng nhiều đân làng bị thương”.

Sau vụ đó nhà thơ suýt bị kỷ luật vì tính tự do. Kỷ niệm đó chỉ là một trong muôn vàn những  hoàn cảnh và tình huống thật độc đáo mà chỉ có ở Thu Bồn. Không một ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại có cuộc đời phong phú, giàu có những từng trải trong chiến trận cũng như trong đời sống thường nhật như Thu Bồn.

Người lãnh đạo Văn nghệ Quân khu, tác giả Đất nước đứng lên, Đường chúng ta đi, Rng Xà Nu, nhà văn Nguyên Ngọc kể, ông đã mất khá nhiều thời gian lặn lội khắp các vùng ven đồng bằng, với tấm ảnh nhỏ đã mờ theo thời gian của cô bạn cùng học xưa, để tìm ra manh mối cố nhân cho Thu Bồn. Sau ngày miền Nam thuộc quyền quản lý của chế độ mới, những người từng tham gia kháng chiến, có nguyện vọng thống nhất, lập tức bị truy đuổi, bắt bớ. Chị Đỗ Thị Thanh Thu – tên cô gái ấy, tham gia đấu tranh, bị bắt vào tù. Tươi trẻ, mặt hoa, da phấn, nữ tù nhân trẻ được nhiều anh lính cộng hòa săn đón, và lợi thế đó đã giúp chị thoát khỏi nơi giam giữ. Không còn chọn lựa nào khác, chị phải chạy vào Sài Gòn, tá túc nhà người thân. Tại đây, chị móc nối, tham gia vào đường dây Biệt động Sài Gòn. Nhà thơ bắt được liên lạc, báo cáo tổ chức. Nể trọng vị trí của nhà thơ, đích thân Bí thư khu ủy Võ Chí Công đã liên hệ với Thành ủy Sài Gòn để xin điều chị Thu về  công tác ở khu V vào năm 1965.

Dù giữa rừng sâu, đám cưới được chuẩn bị khá chu đáo. Có gà, nếp, kẹo bánh, trà thuốc mua từ Nội thị mang về. Phòng cưới đã trang trí cờ hoa, khẩu hiệu. Nhưng ngay trước giờ cử hành lễ cưới, thì một trận B52 dội xuống căn cứ, dọn đường cho biệt kích đổ bộ, cả cơ quan vội vàng sơ tán trong những cánh rừng trụi lá vì chúng rải chất độc da cam. Bao nhiêu vật chất công phu chuẩn bị tan tác trong bom đạn. May cơ quan không ai việc gì. Một tuần sau, khi địch rút, ta trở về, thủ trưởng tuyên bố, coi như đã cưới rồi, cho chúng nó về ở với nhau.

Năm 1966, cháu Hà Thảo Nguyên ra đời, sinh ra chân tay khòng khèo, bác sĩ phải bẻ gãy để bó bột lại cho bình thường. Sau khi tham gia tổng tấn công Mậu Thân, vào Đà Nẵng, bị thương trở về căn cứ, lại lúc chị Thu mang bầu cháu thứ 2. Năm 1969, tổ chức cho anh chị ra Bắc. Nhà thơ phải đục hai lỗ ba lô để hai chân Thảo Nguyên ra ngoài cõng đi suốt ba tháng theo dãy Trường Sơn. Mới ra đến Trạm Ho – Quảng Bình, ở cuối đường giao liên, chị Thu sinh cháu Hà Băng Ngàn. Tháng 12.1982, mới 16 tuổi, đẹp như một thiên thần, Hà Thảo Nguyên mất sau mấy năm bị bệnh máu trắng bởi nhiễm chất độc da cam. Hà Băng Ngàn lớn lên cũng không có khả năng làm việc, vì cùng một nguồn cơn. Một mối tình nặng sâu nghĩa tình, đã kết thúc bằng nỗi đau không nói nên lời, như hàng vạn cựu chiến binh khác, kết quả của những mối tình đẹp nảy sinh và gìn giữ được qua bao thử thách chiến tranh là hàng vạn, hàng vạn sinh linh tật nguyền trong muôn hình thù quái dị. Tình cảnh bi thảm đó đã triệt tiêu khái niệm tình yêu trong nhiều đôi lứa.

Trong một lá thư viết trên đường từ Moskva đi Ấn Độ cuối năm 1971, như để thanh minh cho những quan hệ mới của mình, Thu Bồn có viết ”Chắc từ nay anh sẽ không bao giờ đi xa Tổ quốc nữa đâu. Anh sẽ làm việc không mệt mỏi cho đất nước mình và sẽ chết ở đó thôi. Em thân yêu, đừng trách móc anh có những điều gì không phải đối với em. Giúp đỡ anh về mặt tinh thần để anh có thể làm được việc lớn hơn. Sức khỏe anh đã kém nhiều rồi. Thời gian làm việc còn rất ít. Anh có lãng mạn chút ít nhưng còn hơn là chẳng có tâm hồn. Em đừng bận tâm nhiều”.

Kể chuyện nhân có bức thư, bác sĩ Đỗ Thị Thanh Thu nói, đó là cái kết mà từ mấy mươi năm trước, người chú làm hiệu trưởng trường hai người cùng học, khi biết hai người yêu nhau, đã từng can ngăn: Trái tim bất kham của bọn con trai có máu nghệ sĩ. Nhà thơ từng có kha khá những mối tình, nhiều mối tình còn lưu dấu trong những bài thơ, từng sống chính thức với hai người phụ nữ đã từng có gia đình, có con, nhưng ám ảnh chất độc da cam trong mình, nên không dám có thêm con. Đó cũng là lý do, nhà thơ đã đột ngột chia tay với một nhan sắc trẻ trung, tươi đẹp, mà đến Xuân Quỳnh, Dương Thu Hương khi được một nữ nhà văn khá nổi tiếng nhờ đi đánh ghen cũng chịu… đầu hàng!

Cái chút ít lãng mạn ấy, còn có lý do ở chính sức hấp dẫn của một người lính làm thơ, có vóc dáng tráng sĩ, lối sống phóng khoáng, luôn dám làm những điều mình muốn, với tất cả chân thành. Sau những năm chống Mỹ, còn lăn lộn với bộ đội làm kinh tế ở khu V, chiến tranh biên giới phía Bắc, theo các cánh quân tình nguyện ở chiến trường Campuchia với hàng loạt trường ca, tiểu thuyết, truyện ngắn đặc sắc. Hình như câu thơ Chế Lan Viên ứng rất đúng cho trường hợp Thu Bồn: Vóc nhà thơ đứng ngang tm chiến lũy/ Bên nhng Dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và h trực thăng rơi.

Ngay trong những năm chiến tranh, với tư cách tác giả Bài ca Chim Chơ rao, được Giải thưởng Lotus (Bông sen) của Hội các Nhà văn Á – Phi, Thu Bồn nhiều lần có mặt trong các đoàn Nhà văn Việt Nam đi thăm nhiều nước. Với ưu thế của một nhà thơ, có khả năng ứng tác, trong nhiều buổi giao lưu với nhiều nhà thơ lớn quốc tế, phần trình diễn thơ của Thu Bồn luôn được bạn bè cỗ vũ, dù cùng đọc với K. Simonov, Evtusenco. TS Aimatov ở Nga, trước bà Thủ tướng Ấn độ Indira Gandi, hay Tổng thống Angola A. Nesto.

Trường ca Campuchia hy vng  viết từ 1977, trước khi nước này được giải phóng khỏi bàn tay diệt chủng của Khơ me đỏ, như một lời tiên tri, được Thủ thướng Hun xen đánh giá cao, có mấy câu hào sảng vang lên trên đất Cu Ba xa xôi trong bài diễn văn của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trích, khi nói đến tình hữu nghị giữa hai quốc gia: Ngọn sóng qua đây thành lưỡi búa/Ngọn gió qua đây thành mũi lao/ Con chim qua đây thành con tuấn mã/ T giấy qua đây thành trang sử đ/ Quân thù nghe nói, mặt xanh như tàu lá/ Chân ngựa vp chân nga ngã / Bạn bè qua đây con tàu nặng / Bạn bè qua đây con sóng lặng.

Hai câu thơ trong bài Gi lòng con đến cùng cha viết dịp Bác Hồ qua đời: Cho con núi rộng sông dài/ Cho con lưỡi kiếm đã mài nghìn năm từng được sinh viên đô thị miền Nam lấy làm biểu ngữ trong các cuộc xuống đường. Bài Đà Nẵng gi ta viết trước đêm xung trận năm Mậu Thân được coi như một lời hịch xuất trận. Bài Tm bit Huế ngày nay vẫn có trong lời dẫn của các hướng dẫn viên du lịch ở Cố đô. một chuyện vui về thói quen tiếp đãi bạn bè rộng rãi của Thu Bồn. Hồi đầu về sinh sống ở TP Hồ Chí Minh, tự tay dựng nhà sàn ngay trong khuôn viên số 6 Đặng Thái Thân, làm nên một địa chỉ tụ bạ bạn bè văn nghệ; đến lúc thấy chật chội, với  sự giúp sức của bạn bè, ra mua đất đồi hoang tận Suối Lồ Ồ ở Bình An – Bình Dương. Lại tự tay xây nhà sàn, nhặt đá sỏi tạo nên một khuôn viên với cây cảnh, hoa lá thật đẹp, còn có nhà gìn giữ những đồ dùng, dụng cụ sản xuất, cồng chiêng, nhạc cụ các dân tộc Tây Nguyên, gợi nhớ một phần đời đã sống. Bạn bè coi đây là một địa chỉ văn hóa, nhiều lần được giới thiệu trên truyền hình cả nước. Ông bạn Phạm Lân, có lần đưa một đoàn cựu chiến binh Mỹ ra thăm. Họ được chủ nhà tay dao tay thớt, đun nấu phục vụ một bữa ăn ngon lành. Đương nhiên, sau đó là chương trình văn nghệ.

Có Thu Bồn đọc thơ, còn Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy, Trịnh Công Sơn, các ca sĩ quen biết hát hò. Một ca sĩ hát khá hay bài Tiếng đàn Ta lư của Huy Thục. Ngỡ là cũng bình thường. Nhưng nghe lời dịch, họ nghĩ nhà thơ là một kẻ hiếu chiến, vẫn còn đầy sắc máu chiến trận. Có lẽ đó là lý do, lần đầu đi Mỹ của Thu Bồn không được cấp visa. Mấy năm sau, cùng nhà thơ Quang Huy, Thu Bồn cũng đã được đặt chân lên nước Mỹ, sau một đêm ngủ ngoài trời, mà nhà thơ gọi là khách sạn ngàn sao, vì lỡ chuyến bay, không người đón, hai nhà thơ lại không thạo tiếng Anh, không có phương tiện liên lạc như ngày nay, rồi cũng tìm được đến nơi cần đến, để đi thăm đó đây, trổ tài đọc thơ và cả tài nấu nướng chiêu đãi bạn bè, trong đó có nhiều cựu chiến binh. Với một nhà thơ chiến trận, đó là một cái kết không thể ao ước hơn.

Lần theo lý lịch từng tác phẩm, từ những bài thơ (đã in 6 tập), truyện ngắn (Dưới tro), trường ca (11 trường ca), tiểu thuyết (10 tập), và các bài viết có phần tự truyện, chúng ta thấy hiện lên chân dung một nhà văn tầm vóc vạm vỡ, một sức làm việc đáng kính nể, một tài năng nhiều mặt, và quan trọng là một cảm hứng sáng tạo thường trực, mãnh liệt và bền bỉ. Người ta thường ví những nhà văn lớn là những đại thụ. Nhưng hình như điều đó không đúng trong trường hợp Thu Bồn. Có lẽ sẽ đúng hơn, nếu coi Thu Bồn là một cánh rừng nguyên sinh. Không phải cây nào cũng quý, hoa nào cũng lạ, nhưng có nhiều cây, con quý hiếm mà không nơi nào, không tác giả nào có được. Thế giới thơ của Thu Bồn là một ví dụ. Thơ chiến đấu làm ngay tại chiến trường, và đặc biệt các trường ca hoành tráng, hào sảng, bi hùng, dữ dội (Bài ca chim Ch rao,Quê hương mặt tri vàng, Ba dan khát, Campuchia hy vng, Oran 76 ngọn, Người vt sa bu tri, Chim vàng – cht la, Tiếng hú người Di ô loa, Hà Ni ngày nào…). Thơ về quê hương, đất nước, gia đình nồng nàn, thiết tha (Tre xanh, Mt đt không quên, Tôi nhớ mưa nguồn) . Thơ thế sự sâu đậm mà không bi quan. Thơ tình mặn nồng, thiết tha, hào hoa, say đắm (Một trăm bài thơ tình nh em đt tên).

Thống kê đề tài đơn giản vậy thôi, nhưng trong từng bài thơ, từng tập thơ, tất cả những tình cảm ấy quyện làm một thể thống nhất trong tâm hồn thi sĩ. Từ một chi tiết nhỏ: Năm 1962, đi về vùng sâu, một đồng đội hy sinh, an táng cho người du kích, về viết bài Em đp m anh. Nhưng ngay khi biết, chỉ huy đã buộc nhà thơ phải quay lại trong hàng rào đồn địch, xóa nấm mộ vừa đắp, phòng khi kẻ địch phát hiện, sẽ khai quật, kéo xác người hy sinh đi bêu riếu như một chiến công – việc chúng thường vẫn làm, nên mới có câu thơ: Khuya ri, em xóa m anh/ Ngang tri mt ánh sao xanh dẫn đường. Sau giải phóng, nhà thơ đã gặp lại người mẹ một đời xa cách, nhưng cũng không thể gần gũi, săn sóc được cho Người. Bài M viết khi Người mất: Quê hương đã tr thành khong trng lặng im/ Đường không hoa,không gió, không chim/ … M không còn na ở trên đời/… Chng còn ai mi mt đi con v/ Con ln khôn t phía sông Hng/ Nghe gió bc nh manh mn manh chiếu/ Gió tr lnh biết đi con s thiếu/ Mt tm lòng che ch đến bao dung/…

Cuối đời, nhà thơ còn trở lại đề tài này: Tôi về quê như một k lc loài/ Vn vi điu làm tôi chóng mt/ Tôi mun tìm li mt tình thương trong đôi mắt / Nhưng mẹ đã âm thm nm lại dưới đt sâu.Và thơ thế sự trong Hành phương Nam có cái hào khí của những tráng sĩ xưa, cái hiện thực của thời hiện đại, vẫn có vóc dáng cao lớn lồng lộng của nhà thơ: Xưa kia tráng sĩ hề da nga/ Ta nay ung cn my rừng mưa/ Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm/ Ta ôm xích đo gy vòng cung /Môi hôn ngọn gió thơm hoa trái/ Núi cũng chiều ta đng trập trùng…/ Bơi qua biển la ta v li/ Gi Thái bình dương đến dạo đàn/…Bao  năm gối núi đu hóa đá/ Tiếng hát từng rung  Ngũ giác đài/ Bao phen xa xứ người thương nhớ/ Trăng sáng mà em áo vẫn cài.Và  khổ thơ gợi nhớ những ngày tháng vô cùng gian khổ  của bộ đội chiến đấu ở chiến trường Campuchia: Có đêm tung súng lên tri hát/ Ha pháo soi tng c hng khô / Em có đem v thêm giọt nước / Rưới cho bạn khát dưới nm m/ Ta nm nghe gió qua rng Thái / Nghe c tiếng tru lũ sói rng/ Con trăng c sáng ri c khuyết / Ta ung vng trăng đến cp vành.

Trời còn cho Thu Bồn một giọng đọc thơ đày sức cuốn hút. Ngay cả trên những diễn đàn thơ quốc tế lớn, một khi Thu Bồn đã xuất hiện, dẫu chỉ mấy câu thơ ứng tác vội vàng, thì cách diễn đạt, sức liên tưởng hình ảnh vừa độc lạ, vừa hoang dã  vẫn nhận được sự cổ vũ của đông đảo công chúng, trong đó có cả những nhà thơ lớn của thế giới đương thời. Nói một cách nào đó, trong sáng tạo thơ, Thu Bồn là người luôn có xu hướng ra khỏi vùng an toàn được quy ước bởi những lý thuyết cổ  lỗ. Nhưng những sáng tác đó được bảo chững bởi một  trải nghiệm thực sự nghiêm túc của người lặn sâu, lặn kỹ,và lâu dài vào thực tiễn chiến đấu lâu dài của dân tộc. Điều đó càng thấy rõ trong hàng loạt tiểu thuyết.

Cùng với Tuyn tập Trường ca, Dưới đám mây màu cánh vạc, tiểu thuyết hai tập viết về nữ Anh hùng Trần Thị Tâm được nhận Giải thưởng Nhà nước  năm 2001 là một hướng mở mới cho loại sách viết về người thật việc thật, đặc biệt là truyện anh hùng vốn thịnh hành trong mấy chục năm kháng chiến. Bút pháp giàu chất thơ, khi diễn tả một thực tế chiến đấu quyết liệt, ngoài mọi sức tưởng tượng và chịu đựng, lại có sức lôi cuốn và thuyết phục lớn.

Tác phẩm được dề nghị xét Giải thưởng Hồ Chí Minh gồm Tuyển thơ Thu Bồn (In lại) các tập Tre xanh (1969), Mt đt không quên (1970), Tôi nhớ mưa nguồn (1999), Một trăm bài thơ tình nh em đt tên (1992), Đánh đu cùng dâu bể (2000), tập truyện ngắn Dưới tro và 2 tiểu thuyết Chp trng Vùng pháo sáng (vốn có tên Vùng sáng ha châu ). Không rõ vì một lý do nào đó, toàn bộ các tập thơ, tác phẩm chính làm nên danh xưng nhà thơ, mà xem ra phần này mới được nhiều người biết hơn, đã không có tên trong số tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh, năm 2017.

Dưới tro (1986) là một tập truyện ngắn đặc sắc, chủ yếu viết viết về những chuyện xảy ra trong thời kỳ chiến tranh đặc biệt. Như tên gọi, dưới lớp tro nguội, như tình thế cách mạng buổi đầu ở miền Nam, đang dấu một ngọn núi lửa chực phun trào khi cơ hội đến, và chính những năm tháng đó đã thử thách, rèn luyện và phân loại những ai là chí cốt, vững vàng, ai dao động cơ hội, và nghiêng ngả. Bằng những cấu trúc chặt, gói ý tứ trong một diện tích ngôn  ngữ có hạn, Thu Bồn thể hiện được rõ nét tính cách nhiều loại nhân vật trong một thời kỳ lịch sử khó khăn. Nhưng hình như, truyện ngắn không phải là thể loại thuận tay với một ngòi bút phóng khoáng, giàu sức bung phá, luôn nung nấu  ý tưởng thu gom vào tác phẩm những hiện thực lớn rộng của cuộc sống.Và tác giả có đến 10 tiểu thuyết, mấy cuốn có đến 2 tập.

Chp trng là ánh lửa của bộ đội đặc công đánh tàu Mỹ ngay tại cảng Đà Nẵng. Để có chiến công đánh trực diện vào sào huyệt quan trọng, được canh giữ cẩn mật của quân đội Mỹ, từ nhiều năm trước, ta đã chuẩn bị tổ chức và huấn luyện lực lượng ở vùng rừng miền Tây Quảng Nam, nơi sinh sống của đồng bào nhiều dân tộc. Thế lực của địch đang mạnh, lại giàu có về tiền bạc, của cải vật chất để rún ép, mua chuộc đồng bào, với nhiều mưu sâu, kế hiểm, vừa  tinh vi, vừa tàn bạo. Lực lượng ta còn mỏng, cơ sở vật chất nghèo, thiếu. Chỉ có dựa vào lòng yêu nước, các cán bộ và bộ đội nhiều năm bám trụ, giữ ngọn lửa âm ỉ, đợi khi thời cơ đến thì đốt cháy bùng lên để thiêu đốt kẻ thù xâm lược. Tiểu thuyết được viết từ 1968, khi Mỹ còn trực tiếp tham gia chiến tranh, với binh hỏa lực hùng mạnh. Mưu trí và phi thường gan dạ, kỹ thuật ngụy trang siêu hạng, bộ đội đặc công đã tổ chức nhiều trận tập kích, giành chiến thắng vang dội. Các nhân vật ở hai trận tuyến đều có số phận và cá tính đặc sắc. Những nhân vật dao động giữa hai chiến tuyến cũng góp phần làm nên một nét tìm tòi thú vị của tiểu thuyết Chp trng.

Mùa hè 1972, Thu Bồn cùng đoàn nhà văn quân đội , trong đó có nhà thơ Trần Sơn Nam, Vương Trí Nhàn… tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Dạo đó, ta đẩy địch về phía nam sông Mỹ Chánh, ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Trị – Thừa Thiên. Nhìn rõ nguy cơ thất thủ Huế, đối phương dùng toàn bộ sức mạnh của hải – lục – không quân mở cuộc phản kích quyết liệt. Ta phải lui về cắm cờ ở phía bắc sông Thạch Hãn. Để bảo vệ nhân dân khỏi vùng lửa đạn, nơi hai bên đang tranh chấp quyết liệt, ta tổ chức đưa mấy vạn đồng bào các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh ở phía Nam giới tuyến ra Vĩnh Linh. Để giành dân, chuẩn bị cho một cuộc tuyển cử có thể xẩy ra, sau hòa đàm Paris có kết quả, phía bên kia, tạo ra một vành đai hỏa lực trên không, pháo binh mặt đất, và cả những bãi bom mìn rộng lớn ở phía bắc, để dồn dân chạy vào nam.

Có mặt trong những ngày tháng kinh hoàng, hoàn cảnh chiến tranh kỳ lạ, Thu Bồn đã trực tiếp chứng kiến những nổi thống khổ cùng cực mà người dân mọi lứa tuổi phải chịu đựng. Người ta nói, chiến tranh không có gương mặt phụ nữ. Nhưng trong cuộc di dân vô tiền khoáng hậu này, có nhiều người già đến 100 tuổi, trẻ sơ sinh, có trẻ mới sinh trên đường chạy loạn, thì phụ nữ là những người gánh nhiều lo toan, đau khổ nhất. Trên nền không gian ấy, ngày và đêm, mà chủ yếu là ban đêm, hàng vạn người mang theo đồ tế nhuyễn, của riêng tây, ghép đội hình, nhằm thẳng phía Bắc mà đi. Đó là cuộc di dân vĩ đại của những người dân thường để tránh vùng bom đạn, mà nơi đâu cũng đầy đạn bom. Có hàng ngàn con bò lạc vào hoang dã, thấy bóng người là ùa nhau chạy đến, chúng nào biết đã xông vào bãi mìn, làm hàng chục con phanh thây, dưới ánh sáng những hỏa châu luôn treo lơ lững.

Đó là bối cảnh của tiểu thuyết Vùng pháo sáng. Số phận đầy bi kịch của người dân ở một làng quê phía nam giới tuyến, sau 10 năm bị chia cắt, bị giằng xé giữa hai phía, là sự quan tâm đặc biệt của tiểu thuyết này. Ngôn ngữ đối thoại Quảng Trị sinh động, nhiều tính cách  được khắc họa rõ nét, bởi những tiểu sử độc đáo. Những số phận bi kịch nhiều biên độ, đặc biệt những phụ nữ có chồng đang công tác ở bờ Bắc, bị đối phương dùng mọi cách mua chuộc, tán tỉnh, làm nhục hòng ly gián họ, làm nên nét riêng của tiểu thuyết. Hình ảnh đẹp nhất trong hai tiểu thuyết này là những người lính, mặc cho những bi kịch gia đình,vẫn luôn vượt lên mọi  thử thách để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Đó cũng chính là thể nghiệm từ chính cuộc đời của nhà thơ.

 ***

Năm 2000, trong một dịp về lại Kon Tum, đang đọc thơ ở hội trường, thì con gấu rừng Tây Nguyên bị đột quỵ. Sau mấy năm cầm cự, nhà thơ mất ngày 17.6.2003. Cơn giông chiều tháng 6 đổ tới đột ngột, ồn ào, dữ dội. Sấm rồi chớp bùng lên như một trận B52 dội xuống đường phố Sài Gòn, vào giờ tan tầm, người và các loại xe chen chúc chạy táo tác. Ấy là lúc chiếc xe cấp cứu của bệnh viện Chợ Rẫy hú còi, vượt  lên đám đông, xông vào giông bão, đưa nhà thơ Thu Bồn đang thở oxy về nhà ở Suối Lồ Ồ, Bình Dương, xa hơn 30 km, theo nguyện vọng cuối cùng của Người.

Cùng ngồi trên xe với chị Lý Bạch Huệ còn có con trai Hà Băng Ngàn, Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung, bạn văn Nguyễn Tiến Toàn và tôi. Suốt dọc đường mưa to gió lớn, sấm chớp gào lên, như thông báo với hàng vạn người nhường đường cho nhà thơ trở về ngôi nhà cuối đời ông giành bao tâm huyết và sức lực để tự tay tạo dựng. Chạnh nhớ câu thơ ngày nào như một lời tiên tri: Hi x s ngp tràn ánh nng/ Sao bây gi ta ti ch toàn mưa. Không là người mê tín, đang lo, làm sao cho nhà thơ khỏi ướt, khi đưa từ xe vào nhà, mà cơn mưa đang vần vũ đất trời, đúng lúc xe dừng trước cửa sân, trời tạnh hẳn. Có mấy phút cho người vào kịp, cơn mưa tiếp tục dầm dề tận đêm. Hình như đất trời đã nhớ lời cầu xin thuở nào: Xin giông bão đừng vào đây nữa/ Và gió mưa thôi hãy ngoài sân/ Vì trái tim đã tri trần thân xác/ Người hỡi người xin hãy nh bàn chân.

Đón nhà thơ ở nhà hôm đó có người cháu là Hà Ban, lúc đó đang là Phó Chủ tịch tỉnh Kon Tum. Lễ tang nhà thơ được cử hành ở Nhà tang lễ Thành phố 25 Lê Quý Đôn. Trên đường theo xe tang vào thành phố, Nguyễn Việt Hải – một họa sĩ trẻ tài năng, người trình bày bìa mấy cuốn sách Trường ca tuyn tập & Đánh đu cùng dâu bể bị va quệt, mất, có dịp cùng nằm bên nhau 2 ngày trong cùng nhà tang lễ.

Dẫu chỉ là cấp trung tá, nhưng đã có đến 300 vòng hoa viếng, với nhiều đoàn thể và bạn bè yêu mến. Nguyên Chủ tịch nước Võ Chí Công, Bí thư Thành ủy Nguyễn Minh Triết đã tới ngồi trò chuyện rất lâu với những người dự lễ tang về nhà thơ. Đó thật là một đám tang lớn, tràn ngập tình cảm thương tiếc của những người yêu mến thơ và con người Thu Bồn, Chính cuộc đời và tài năng, nhân cách nhà thơ đã chuẩn bị chu đáo cho tang lễ ấm áp tình người. Một đêm thơ được tổ chức ngay bên quan tài để tôn vinh những gì quý giá nhà thơ đã và sẽ để lại cho đời.

Nguyên Chủ tịch nước Võ Chí Công năm ấy đã 92 tuổi, nét chữ đã run, ghi trong sổ tang: ”Thu Bồn sống để chiến đấu và làm thơ. Thơ Thu Bồn sống mãi với Nhân dân và người Chiến sĩ”.

Trong điếu văn đọc tại lễ tang, nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khẳng định: ”Nhắc đến Thu Bồn, người ta nhắc đến một tài năng vạm vỡ,một sinh lực tràn đầy,người triệt để trong ý nghĩ và hành động, một người luôn phát quang để vượt lên phía trước. Thu Bồn là nhà thơ tài hoa, một người dồn đúc nhiều tài năng trong một tài năng. Thu Bồn là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của thế hệ các nhà văn chống Mỹ, là nhà văn hàng đầu của mảng văn học chiến tranh nhân dân và quân đội cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Thu Bồn là một mẫu mực về tấm gương chiến đấu, sáng tạo vì Tổ quốc, vì Nhân dân. Những tác phẩm nổi tiếng của Anh sẽ sống mãi với bạn đọc Việt Nam nhiều thế hệ”.

Sau khi nhà thơ mất, một phần những bài viết của hàng trăm bạn bè và người yêu mến là những nhân chứng sống cho nhiều chặng đời hoạt động của nhà thơ được tập hợp trong mấy tập sách. Hoàng Minh Nhân (đã mất) tổ chức in cuốn Thu Bồn – Gói nhân tình – 950 trang (2004), Ngô Thảo – Nguyễn Tiến Toàn in Thu Bồn – Tráng sĩ h… dâu b (2013), nhà thơ Đoàn Ngọc Thu tài trợ in Tuyển thơ Thu Bồn ( 2015). Tiền bán sách được gửi về quê làm học bổng cho học trò nghèo. Nhà văn Nguyễn Chí Trung, người vừa là thủ trưởng, vừa là bạn văn chương, đã hết lòng lo cho tác phẩm và cuộc sống Thu Bồn, sau khi nhà thơ mất, đã trở lại chiến trường xưa và những nơi Thu Bồn từng đi qua để tập họp được 160 hiện vật của bạn bè gửi theo mộ nhà thơ trong nghĩa trang thành phố, được xây cất bởi tiền phúng điếu của bạn bè. Phía lưng mộ, khắc một câu thơ hiền lành và nhân ái: Rồi mai mưa gió qua đây / Anh còn vi c cây, em v.

Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung viết: “Thu Bồn nhập ngũ tháng 1.1947, lúc chưa đầy 12 tuổi, cùng khu V với tôi. Cùng tập kết ra Bắc, rồi lại cùng về Nam chín đứa cùng về mặt trận khu V cuối năm 1961, bảy đứa hy sinh. Sau lại cùng về Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Rồi lại cùng đi chiến trường Campuchia. Tôi được phong Thiếu tướng, Thu Bồn vẫn Trung tá khi về hưu. Nhưng Thu Bồn không bận tâm chuyện đó, cứ mãi mê sống, mãi mê viết, và mãi mê… yêu”.

Nhà văn Thanh Giang ghi sổ tang: ”Nhớ lắm những ngày về học ở Phùng, rồi về nhà số 4 Lý Nam Đế dự bồi dưỡng viết văn, làm báo với các nhà văn quân đội. Nhớ những ngày tập luyện ở Xuân Mai, chờ lên đường vào chiến trường, hai đứa cùng đi bắn chim…. Rồi đêm 22.12.1961, chúng ta cùng lên đường Trường Sơn. Thanh Giang vào thẳng Nam Bộ. Thu Bồn về khu V cùng với các anh Phan Đình Côn, Nguyễn Lưa…. Tất cả đã hy sinh, chỉ còn Thu Bồn và Thanh Giang, Nguyễn Chí Trung còn sống. Thu Bồn ra đi, Thanh Giang còn lại với niềm thương tiếc khôn nguôi”.

Nhà văn Nguyên Ngọc: ”Tôi được sống với Thu Bồn suốt thời chiến tranh chống Mỹ, anh vào chiến trường rất sớm, trước tôi gần một năm. Vậy đó, ngay cả việc đi vào cuộc chiến tranh của dân tộc, anh cũng rất vội, cứ sợ như không kịp! Ở chiến trường, Thu Bồn sống ào ạt, lao động ào ạt, viết ào ạt, yêu ào ạt… Ngay cả trong tình yêu nữa. anh lúc nào cũng sợ như không kịp, không đủ. Anh chung thủy vô cùng, và cũng thay đổi vô cùng! Trong lao động – lao động giữa chiến tranh và sau này trong hòa bình anh nổi tiếng mạnh mẽ và tháo vát. Có lần anh một mình dựng một căn nhà giữa rừng, mà là một căn nhà hai tầng hẳn hoi, cứ như một căn biệt thự ở Hà Nội! Đi chiến đấu, Thu Bồn bao giờ cũng đòi có mặt ở mũi nhọn nhất… Và chính là giữa những ngày khó khăn nhất ở chiến trường, anh viết Bài ca chim Chơ rao nổi tiếng. Xuân Mậu thân 1968, ở sát ngay ngoại vi thành phố Đà Nẵng, trước đoàn quân hàng ngàn người sắp bước vào cuộc tổng tấn công, anh đọc như thét vang: Đà Nẵng gọi ta như người Mẹ gọi con/ Như người yêu gọi Người yêu xa cách”.

Hiếm ở đâu, trong chiến tranh, có một đội ngũ lãnh đạo yêu, hiểu và biết sử dụng vũ khí văn học nghệ thuật như vùng đất khu V này. Không có gì lạ, sau chiến tranh, chiến trường này đã xuất hiện một đội ngũ văn nghệ sĩ tài hoa đông đảo. Họ đều giành một tình cảm đặc biết cho Thu Bồn.

Ông Phạm Đức Nam, nguyên Chủ tịch tỉnh Quảng Nam biết Thu Bồn qua mấy thời kỳ kháng chiến: “Cuộc đời Thu Bồn luôn rực sáng, càng rực sáng hơn ở những bước ngoặt lịch sử đất nước, ở những thời điểm cam go nhất, quyết liệt nhất, hy sinh cao nhất của cuộc chiến tranh, nhất là thời kỳ đánh Mỹ và thời kỳ trước đổi mới của nước ta, cả thời Thu Bồn sống, chiến đấu ở nước bạn Campuchia. Chính ở những bước ngoặt đó, anh là người đi tiên phong mở đường, và bao giờ cũng để lại những tác phẩm ghi dấu mốc lịch sử dó một cách chói sáng… Quảng Nam – Đà Nẵng thường là nơi bắt đầu những cuộc chiến đấu đẫm máu trong lịch sử giữ nước. Nơi đây luôn đi đầu, không dao động, không run sợ bất kỳ một thế lực độc ác lớn nào trên thế giới. Tôi nói điều này để nói lên tầm vóc con người Thu Bồn, tầm vóc thơ ca Thu Bồn. Không có những đối đầu dữ dội, quyết liệt ghê gớm đó, sẽ không có Thu Bồn, không có thơ Thu Bồn. Thu Bồn trở thành một biểu tượng anh hùng sáng đẹp của quê hương mình. Thu Bồn ngày nay vẫn y như Thu Bồn ngày xưa đánh Mỹ. Thơ Thu Bồn mạnh hơn một Binh đoàn. Đó là bài thơ Đà Nẵng gi ta,Thu Bồn viết trước cuộc xung trận vào Đà Nẵng, mậu thân 1968!”

Nguyên Bộ trưởng Hoàng Minh Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, từng là Bí thư Quảng Nam – Đà Nẵng kể: ”Được biết Thu Bồn trở vào chiến trường rất sớm. Nhưng mãi đến 1965, khi về Quân khu, tổng kết phong trào Du kích chiến tranh tại Đại hội Anh hùng – Chiến sĩ thi đua Quân khu, tôi mới gặp Thu Bồn ở vùng căn cứ Trà My. Chúng tôi quen nhau, thân nhau trong thời gian họp ở Quân khu, tối tối nằm mắc võng, kể chuyện quê  nhà, tôi mới biết, Thu Bồn sinh ra ở làng Thanh Quýt, thoát ly từ rất sớm, vào thiếu sinh quân lúc chưa tròn 12 tuổi, vừa làm giao liên, vừa là chiến sĩ đánh giặc. Anh kể cho tôi nghe vế anh từ lúc niên thiếu, cho đến tuổi trưởng thành, từ anh giao liên đến với viết văn, làm thơ,làm báo trong kháng chiến chống Pháp,rồi chống Mỹ,đã trãi qua những gian truân nhọc nhằn, và rồi ở anh, cái đọng lại nhiều nhất, âm vang lớn nhất: Một nhà thơ, một hiệp sĩ thơ tài hoa.(Ông thuộc nhiều bài thơ của Thu Bồn). Quả nhiên đúng: Thu Bồn là nhà thơ lớn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ anh như tiếng kèn xung trận, có tác dụng động viên sức mạnh toàn quân, toàn dân đánh thắng giắc Mỹ xâm lược.”

Ông Hồ Nghinh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, một lãnh đạo kỳ cựu và có uy tín cao ở Quảng Nam – Đà Nẵng  tâm sự: “Thu Bồn lạ lắm! Thơ Thu Bồn hay lắm! Mình ca ngợi Thu Bồn liệu có làm phiền ai không? Mình nhớ hồi 1962, mình và Thu Bồn tiếp giới học sinh – sinh viên nội thành Đà Nẵng do Lê Công Cơ đưa lên Ô rây. Khi mới tới, họ thấy Thu Bồn không nói, mà chỉ làm liền tay mọi thứ, để hướng dẫn họ ổn định chỗ ở, họ tưởng anh là giao liên, hay nhiều lắm là trạm trưởng ở đây. Khi biết đó là nhà thơ ở miền Bắc vào, họ ồ lên sung sướng, thán phục. Bởi khi còn ở trong thành, họ đã chép và chuyền tay nhau đọc bài thơ Hôn mnh đất quê hương. Họ coi Thu Bồn như một thần tượng. Mà họ thần tượng Thu Bồn là phải. Cao lớn, đẹp trai,nói dẻo, đọc thơ rất hay, con kiến dưới lỗ cũng bò ra nghe. Họ sống với nhau không nhiều mà đầy kỷ niệm. Họ bu quanh Thu Bồn. Họ chép thơ. Họ học thuộc lòng thơ Thu Bồn. Ảnh hưởng của Thu Bồn với lớp học sinh, sinh viên cách mạng ngày ấy rất ghê gớm. Thu Bồn là số 1. Là số 1 đó nghe!”.

Những trích dẫn này đều có nguồn tin cậy từ mấy tập sách đã in. Nay thì hầu hết những nhân vật cùng thời đáng kính đó, cũng như nhà thơ, đều đã lần lượt thành người thiên cổ. Còn lại với hậu thế là những tác phẩm nhiều thể loại, và những hoạt động xã hội mà mỗi người đã hoàn thành xuất sắc, để góp phần tạo dựng một đất nước Việt Nam Độc lập – Thống nhất.

Nhưng là một nhà thơ, Thu Bồn vẫn muốn nói: Hãy tha th! Có đôi ln ta li bn/ Nhưng yêu thương năm tháng vẫn còn đy!

NGÔ THẢO 

______________

>> Tú Mỡ học văn từ Tú Xương đến dân gian

>> Nguyễn Huy Tưởng – Người viết lịch sử bằng các tác phẩm văn học

>> Nguyễn Công Hoan mải mê học tiếng Việt

>> Nhà thơ Huy Cận: Người sắm cả “hai vai”

>> Nhà văn Tô Hoài và lời nhắn ý nghĩa

>> Nguyễn Tuân – Bậc thầy về tùy bút

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *