Nhà thơ Phạm Hầu: “Vẫy ngoài vô tận”

(Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022)

Vanvn- Trên văn đàn, có nhà thơ viết trước sau chỉ khoảng 20 bài thơ, thế nhưng nhắc đến ông là người ta nhớ đến hai câu bất hủ Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai?. Thế mới biết, đi vào trái tim nhân thế đâu cứ phải thiên kinh vạn quyển…

Đó là nhà thơ đất Điện Bàn, Quảng Nam – Phạm Hầu, người được Hoài Thanh – Hoài Chân phác họa chân dung trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” (NXB Văn học, 2000, tr 226, 227) bằng vài nét cảm nhận về thơ rằng: “Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi”; “Hồn thơ là một cái gì đó rất mong manh”…

Nhà thơ Phạm Hầu (1920 – 1944)

 

>> Huy Cận lấp lánh Lửa thiêng sáng tạo

>> Đinh Hùng: Cúi mặt u huyền khép áo xuân

>> Lưu Trọng Lư với tình yêu và mộng đẹp

>> Bích Khê: Tài thơ độc đáo

>> Nhà thơ Thế Lữ – một tài năng muôn mặt

>> Trường thơ Loạn Quy Nhơn từ góc nhìn địa văn hóa

>> Âm vang hồn thơ Hồ Dzếnh!

 

Họa sĩ làm… thơ

Phạm Hầu (1920 – 1944), tên trong gia phả là Phạm Hữu Hầu, sinh ở Gò Nổi, làng Trừng Giang nay thôn Hòa Giang, xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Cha ông là Tiến sĩ Phạm Liệu, người đứng đầu nhóm “Ngũ phụng Tề phi” xứ Quảng, từng làm quan đến chức Tổng đốc Nghệ An rồi Thượng thư Bộ Binh dưới 4 triều vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại.

Lúc nhỏ, ông học Trường Quốc học Huế, sau ra Hà Nội học tại Trường Mỹ thuật Đông Dương (nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam).

Do mắc chứng bệnh động kinh, ông nằm điều trị tại nhà thương Vôi ở Bắc Giang một thời gian rồi được chuyển về quê nhà, nhưng khi tàu hỏa đến đoạn Đồng Hới (Quảng Bình) – Huế, thì ông mất.

Về sự ra đi đột ngột của nhà thơ, trong cuốn “Việt Nam thi nhân tiền chiến – Quyển 2” (NXB Sống Mới, Sài Gòn, 1968, tr. 91-95) viết như sau:

“(Phát giác ông mất), người soát vé bắt buộc người thân đi theo phải đem xác ông xuống ga Truồi (Huế). Từ nơi đó, người nhà thuê thuyền đưa ông về Huế rồi an táng trên một đồi nhỏ, sau một ngôi chùa cổ ở vùng Nam Giao.

Và để tiễn biệt một linh hồn cô đơn đi vào nơi yên nghỉ cuối cùng, người ta chỉ nghe đôi câu kinh, vài tiếng thút thít trong một chiều mưa gió thê lương…”.

Ông vẫy ngoài vô tận ngày 3 tháng 1 năm 1944, hưởng dương 24 tuổi, để lại cho đời khoảng 20 bài thơ, nhưng đó là những viên ngọc quý trong kho tàng thi ca Việt Nam, trong đó nổi tiếng nhất là Vọng hải đài.

Bức ảnh chân dung ông Trần Văn Anh người làng Trừng Giang do họa sĩ, thi sĩ Phạm Hầu vẽ bút chì. Ảnh: Hòa Văn.

Học Trường Mỹ thuật Đông Dương khóa 13, Phạm Hầu là họa sĩ, nhưng rất tiếc không rõ ông có bao nhiêu họa phẩm. Vào tháng 5.2017, nhà văn Hòa Văn (quê làng Đông Bàn, xã Điện Trung) công bố trên blog của mình (hoavanruotra.blogspot.com) bài viết “Tìm thấy một họa phẩm của họa sĩ Phạm Hầu”. Đó là bức chân dung ông thợ mộc Trần Văn Anh cùng làng Trừng Giang với họa sĩ, vẽ bằng bút chì đường nét còn tốt.

Tác giả dẫn lời ông Trần Cao Hoang (tên thường gọi Trần Văn Quận, cháu nội ông Trần Văn Anh hiện ở làng Trừng Giang) cho biết, ông Anh làm thợ mộc, thường hay đóng cho nhà ông Phạm Liệu các đồ gia dụng bằng gỗ.

Hôm ấy họa sĩ – thi sĩ Phạm Hầu vừa về nhà gặp ông đang lắp ráp đồ mộc. Thi sĩ – họa sĩ ngỏ ý: “Trưa ông về lấy khăn đóng áo dài trở lại nhà đây tôi xin vẽ chân dung của ông”. Thế là bức chân dung được vẽ xong. Nay tuy không còn như ban đầu do giấy không tốt nhưng nét vẽ đúng thần thái của ông Trần Văn Anh, được người cháu nội lưu giữ làm di ảnh thờ.

Sinh phận mong manh, người thơ phong vận

Viết về nhà thơ Phạm Hầu, chạnh nhớ đến nhà văn Hoàng Minh Nhân, người đã cặm cụi sưu tầm tư liệu để cho ra đời cuốn “Vẫy ngoài vô tận” (NXB Thanh Niên, 2001).

Người viết từng cộng tác với nhà văn Hoàng Minh Nhân khi ông nhận lời Ban Biên tập Tạp chí Văn Hiến tổ chức bài vở cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Có lần cùng ông lên viếng Ngũ Hành Sơn, dừng chân trước Vọng hải đài và mường tượng đâu đó có bóng dáng nhà thơ – chàng trai trẻ của gần 70 năm trước đang trầm ngâm ngắm non xanh biển thẳm, rồi bất chợt rùng mình giữa chốn linh thiêng mà rứt lòng ra những câu thơ diễm tuyệt: “Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai?”.

Vọng hải đài trên ngọn Thủy Sơn ở danh thắng Ngũ Hành Sơn.

Cái cảm giác chông chênh, nhẹ hẫng khi đứng trên đài trông ra biển ấy đã nâng nhà thơ người Điện Bàn lên với gió với mây, chạm đến khoảnh khắc hiện tồn mà bất giác neo một câu hỏi nửa thực nửa hư vào bao la vô tận.

Ngày trước, hai câu thơ bất hủ đó đã lọt vào mắt xanh của Hoài Thanh – Hoài Chân và hai nhà phê bình văn học này đã “tạc” chân dung “vẫy ngoài vô tận” của Phạm Hầu vào cuốn Thi nhân Việt Nam 1932-1941 từ năm 1942 với bản in lần đầu do Nguyễn Đức Phiên xuất bản.

Ở nơi cao xanh nào đó, Phạm thi sĩ hẳn đã tỏ lòng cảm ơn Ngũ Hành Sơn nói chung, Vọng Hải đài nói riêng, với cảnh sắc trời mây non nước, đã khiến mình “phải lòng” mà cảm tác nên những câu thơ được người đời nhắc hoài đến… vô tận!

Thi sĩ Bùi Giáng trong tạp văn Phạm Hầu đăng trong cuốn Thi ca Tư tưởng xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn, đã nhận xét về ông: “Phạm Hầu viết những lời như thế thuở ông hai mươi mấy tuổi đầu. Hai mươi mấy tuổi mà dường như đã có đủ trong hồn một trăm năm đạo hạnh.

Ông đi vào thi ca, nghệ thuật, với tâm hồn con người thanh tu đạt đạo. Người thanh niên ấy đã biết khước từ hết mọi thứ “dưỡng chất trần gian” và âm thầm gửi cho trần gian một chút tặng vật nho nhỏ.

Ngờ đâu tặng vật nho nhỏ kia lại khổng lồ như một Kim Tự Tháp nằm giữa sa mạc mênh mông để ghi lại ngấn tích một nền văn minh huyền ảo nhất thế gian”.

Hai mươi mấy tuổi đầu quả là “mong manh sinh phận”, một sự mong manh khiến tác giả Nguyễn Thanh Tâm bật lên câu hỏi đầy cảm thán trong bài “Phạm Hầu – Gieo lệ vàng trên ngấn nắng…” đăng trên Chuyên trang Văn học Quê nhà – Báo điện tử Tổ Quốc (vanhocquenha.vn) của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

“Tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Nếu Phạm Hầu không “ngã hồn” ở tuổi 24 trên chuyến tàu muộn về xứ Huế ấy, hành trình thi nghiệp của ông sẽ đi về đâu và có một dạng thái như thế nào? Với chút mong manh của sinh phận, những điều đã biết về Phạm Hầu, về thơ ông, dù ít ỏi, nhưng cứ làm người ta thấy tiêng tiếc”.

Định mệnh đã tước đi ở con người tài hoa ấy cái tuổi thanh xuân tươi đẹp nhưng đã bù lại một chất thơ là lạ làm cho thơ ông mãi ở lại trong lòng người yêu thơ cho dù ông đã thênh thang làm một cuộc dạo chơi “vẫy ngoài vô tận”:

“Thơ Phạm Hầu có chất, biểu hiện bằng một thi điệu riêng khá quyến rũ. Cái quyến rũ của chất thơ là lạ, rung cảm và mong manh. Đặc biệt, thơ Phạm Hầu toát ra một thứ khí vị tiêu trầm, yểu vong, ám ảnh vào lòng người đọc.

Như Hàn Mặc Tử đã có lần thốt lên: Người thơ phong vận như thơ ấy, thơ Phạm Hầu là con người, là tinh túy của cõi trần ghé tạm vài mươi năm tuổi trẻ”. (Nguyễn Thanh Tâm, bài đã dẫn).

Cuộc rong chơi ghé tạm cõi trần của nhà thơ đã dừng lại khi ông chỉ mới tròn tuổi 24. Thế mà ngày ông chào đời tính đến nay đã gần một thế kỷ (ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1920). Người đã ra đi về cõi vô tận nhưng thơ thì vẫn chẳng thể xa lòng đối với tín đồ của một giáo phái có tên là Thi ca. Cho dù con người ấy chỉ ghé tạm cõi trần với một sinh phận mong manh…

VĂN THÀNH LÊ

Báo Đà Nẵng

 

Một số bài thơ tiêu biểu của Phạm Hầu:

 

Y LAN

 

Xuân về ca xúy ở dương gian

Âm điệu trong màu nắng mới sang

Trăm ngón hoa buông hình yểu điệu

Nhịp nhàng hương tỏa, dịu dàng lan…

 

Âm điệu reo vui với nắng đào

Sắc màu tươi đẹp chốn hoa lâu

Tuy nhiên trong cảnh sang xuân đó

Một cội cây xuân dáng điệu sầu

 

Lá thắm, từng dây, lá rủ hàng

Buồn là bản chất của Y Lan

Cái cây thi sĩ vô tình đã

Biên những dòng “thơ lá” bẽ bàng

 

Trời là trang giấy rộng như mơ

Ghi chép hồn cây, phải một tờ…

Khốn nỗi bao người lơ đãng quá

Vô tình không hiểu đó là thơ

 

Tôi đi làm bạn với cây kia

Hồn để song song chẳng gọi về

Cây mạnh, tôi xuân, buồn vẫn đắm

Mạnh, buồn ai bảo phải phân chia.

 

LÝ TƯỞNG

 

Sầu hương hoa gạo đỏ bên chân,

Xa nắng chiều hoe nhạt mấy phần.

Một cột đèn cao mơ góa bụa,

Đường dài toan nối hận gian truân.

 

Tôi theo tư tưởng vô cùng tận,

Chỉ gặp vô cùng nỗi quạnh hiu.

Sáng sớm: rạng đông, chiều: chạng vạng,

Những giờ mới lạ có bao nhiêu?

 

Thuở nhỏ đêm mơ nằm thấy bướm.

Giờ không mơ bướm lại mơ thơ.

Đời tôi nếu rụng bao nhiêu sắc,

Cũng bởi vì tôi quá mộng hờ.

 

– Ao ước ngày mai sắc nắng thơm

Chiều mai thôi ráng nhuộm cô đơn.

Chiều qua gió thổi lời tôi nguyện,

Quên thổi giùm tôi hận chập chờn.

 

Tôi đợi người đây, Tuyệt Đích ơi!

Dẫu xa, xa cách mấy phương trời.

Biết rằng vô ích sao tôi vẫn

Phung phí đời tôi mấy độ tươi.

 

VỌNG HẢI ĐÀI

 

Chẳng biết trong lòng ghi những ai?

Thềm son từng bước gót vân hài.

Hỡi ôi! Người chỉ là du khách

Giây phút dừng chân Vọng Hải đài.

 

Cơn gió nào lên có một chiều

Ai ngờ thổi tạt mối tình kiêu

Tháng ngày đi rước tương tư lại

Làm rã chân thành sắp sửa xiêu.

 

Trống trải trên đài du khách qua

Mây ngày vơ vẩn, gió đêm tà,

Muôn đời e hãy còn vương vấn

Một sắc không bờ trên biển xa.

 

Lòng xiêu xiêu, hồn nức hương mai,

Rạng đông về thức giấc hoa nhài.

Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận

Chẳng biết xa lòng có những ai?

 

CHIỀU BUỒN

 

Tôi đã dám cầu xin hai giọt lệ

Trên mi nàng huyền bí vẻ say mê

Cho điệu buồn man mác tự đâu về

Đưa ngọn cỏ theo chiều mây lặng lẽ

 

Cho tôi được nghiêng kề nàng thỏ thẻ

Vì lời yêu rên siết ẩn trong tôi

Chỉ khi buồn may mới thoáng qua thôi

Mà hương lệ đó là trang sổ quý

 

Buồn len lỏi trên đầu cây, thi vị

Gieo lệ vàng trên ngấn nắng chiều trôi

Tôi kề nàng môi chạy kiếm làn môi

Lời tôi lặn trên môi nàng rung động

 

Yêu đương đến tất cả chiều mơ mộng

Buồn nhẹ nhàng trong làn khói thu không

Buồn mơn man trên đầu tóc rối bòng

Và vơ vẩn bên đôi người vô tội

 

Nàng và tôi, nhánh sầu chung rễ cội

Kề vai nhau khi lệ với chiều, rơi

Khi giọt sương âu yếm nhỏ lên người

Nàng và tôi là hai dòng lệ nối.

 

PHẠM HẦU

___________

Trích từ các nguồn: Hoàng Minh Nhân, Vẫy ngoài vô tận, NXB Thanh niên, 6.2001; báo Bạn Đường số 24, ngày 4 tháng 4 năm 1942; Tao đàn tạp chí, NXB Tân Dân, Hà Nội, 1939; Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2007.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.