Nhà thơ Phạm Đức, một đời “đơn phương”

Vanvn- Thương tiếc tiễn biệt nhà thơ Phạm Đức, một con người nhân hậu, một nhà thơ chân chính với những bài thơ nổi tiếng một thời đã được nhiều bạn đọc yêu mến. Thơ ông là tiếng lòng, chắt ra từ trái tim luôn trở trăn, thổn thức và ghi tạc định mệnh một kiếp người.

Nhà thơ Phạm Đức (1945-2022)

Đối với tôi, nhà thơ Phạm Đức là một người đã có nhiều kỷ niệm…

Từ khi còn là cậu học trò cấp 2, cấp 3 ở một làng quê nghèo xứ Nghệ tôi đã từng biết đến những bài thơ của Phạm Đức viết về mẹ, về bạn bè, về con gái, về những tình cảm linh thiêng vấn vít trong cõi lòng ông. Năm 1999, tôi được nhà văn Sơn Tùng giới thiệu đến gặp ông ở nhà xuất bản Thanh niên và chính ông đã thổi một ngọn gió để tập thơ đầu tay Ngọn lửa đầu tiên của tôi được cháy lên ánh sáng khôi nguyên của nó. Năm 2002, trước khi qua đời, thi sỹ Lãng Thanh có gửi và nhờ tôi xin giấy phép xuất bản cho tập thơ Hoa. Với cương vị phó giám đốc, Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên, nhà thơ Phạm Đức đã cho xuất bản tập thơ Hoa. Tác phẩm này gây một tiếng vang trên thi đàn, được trao giải B (không có giải A) của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004. Và Lãng Thanh, từ một người vô danh đã được đông đảo bạn đọc yêu mến.

***

Một ngày thu 1999, tôi đến nhà xuất bản Thanh Niên, nhà thơ Phạm Đức khoe với tôi có bài thơ Hoa xuyên tuyết in trên báo Văn Nghệ, rồi ông dẫn tôi đi dọc phố Trần Hưng Đạo tìm một quầy bán báo lẻ, mua và tặng tôi tờ báo. Điều đó làm tôi cảm động, trân trọng giữ mãi tờ báo có bài thơ và chữ ký của ông. Đọc Hoa xuyên tuyết tôi cảm nhận được nỗi lòng da diết, thương và đau của người cha với đứa con trai theo mẹ sống ở nước ngoài.

Đầy trời rơi tuyết bời bời

Mỗi bông một rụng rời lòng cha

Con nhớ chăng lối ngõ nhà

Mảnh vườn nhỏ với la đà sắc hương?

Dấu chân nhoà nhạt nẻo đường

Không tha hương cũng tha hương một lần.

Từ đó, thỉnh thoảng tôi đến thăm nhà thơ Phạm Đức. Ông sống ở Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, Hà Nội, trong một căn nhà nhỏ, thấp. Nhìn từ bên ngoài có những chậu cây cảnh và giàn hoa, bên trong thì sâu và tối. Mùa mưa thường ngập nước. Trong nhà trang trí đơn sơ nhưng vẫn toát lên một vẻ quyến rũ riêng. Những cuốn sách của

ông viết được xuất bản, bày trong chiếc tủ nhỏ, sau làn kính trong suốt. Rồi đến những chiếc tủ sách gồm hàng nghìn cuốn sách văn học kim cổ đông tây. Trên giá gỗ là hàng trăm con trâu nhỏ làm bằng gốm…

Nhiều lần, ngồi bệt xuống nền nhà, bên một cái bàn thấp nhỏ trải tấm ni lông cũ, dưới bóng điện tròn như một con mắt vàng, chúng tôi nói chuyện thơ. Trong những lần ấy, ông đã đọc những câu thơ mang cái nỗi lòng da diết, đớn đau và trong trẻo đến nỗi tôi không bao giờ có thể quên được:

Làm sao núi có ba vì

Núi chia ba ngọn ta lìa ba nơi

( Ba Vì)

Ví dầu than lụi, trời khuya

Nhạt thênh tro bụi, não nề nhân duyên

Thì anh nhặt giữa lãng quên

Những than đen của lửa thiêng năm nào

(Ví dầu)

Hàng ngày ông đi làm ở nhà xuất bản, có khi đến khuya mới về. Cần mẫn, thận trọng, chu đáo với từng bản thảo, ông đọc đi đọc lại và biên tập kỹ càng, phát hiện ra những vấn đề rồi bàn bạc, trao đổi với tác giả đến lúc thống nhất mới đưa in. Rất nhiều thứ bảy, chủ nhật ông vẫn đi làm ở cơ quan, không kể đó là ngày nghỉ.

Có hôm tôi đến thấy lọ hoa hồng đã héo tàn ông vẫn để yên trên bàn, không nỡ bỏ đi. Biết ông sống những năm tháng buồn. Những nỗi buồn dằng dặc và sâu thẳm dồn ứ lại trong tâm hồn ông, dư ảnh của một dĩ vãng êm ấm, một gia đình đoàn tụ vẫn thức lại dằn vặt ông, nhưng tuyệt nhiên không bao giờ thấy ông kêu than hay trách móc một điều gì… Lặng lẽ, kiên nhẫn, chịu đựng để giữ cho tâm hồn trong trẻo và viết. Viết. Từng chút, từng chút một tiến sâu vào cõi thiêng liêng của thơ, nhích gần đến với con người. Chính từ cuộc sống đó, chính vì hiểu con đường chân chính ngặt nghèo mà ông đã viết nên những câu thơ sâu sắc về cuộc đời:

Sống đâu chỉ là cười reo

Sống khắc nghiệt như đi trên giây căng thẳng

Suốt đời phải gắng, từng phút giây phải gắng

Để giữ thăng bằng trên một sợi giây

(Xiếc trên giây)

***

Khác với các nhà thơ cùng thế hệ xuất hiện trong thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phạm Đức không có được cái hào khí trong thơ. Thành công với ông không hề dễ dàng. Bài thơ đầu tiên được in năm 1959. Khi vào bộ đội, đầu những năm 70 ông bắt đầu có những bài thơ được chú ý, nhưng những gì ông có, không đủ để làm nên một tên tuổi. Bởi vì khi đời cần cái sôi nổi, ông lại chỉ có cái suy tư, khi đời cần cái tươi non, ông lại có cái chiêm nghiệm, khi đời cần cái dữ dội ông lại có cái đằm sâu. Tuy vậy, cho đến bây giờ, đọc những gì còn lại của thơ Phạm Đức thời chống Mỹ, dù ít ỏi nhưng ta lại thấy rất rõ dấu ấn riêng, sự tinh lọc và sức sống lâu bền.

Đồng quê qua lửa đạn

Đã bao ngày, bao ngày

Mà con cò nghìn tuổi

Vẫn trắng ngời cánh bay

(Cò trắng)

Thấy được con cò nghìn tuổi và màu trắng cánh cò trên cánh đồng lửa đạn, hay cảm được cái hơi ấm bàn tay của bao nhiêu đồng đội đã nắm lấy khi đi qua quãng dốc chung chiêng (Hơi ấm bàn tay) thì Phạm Đức đã là một thi nhân thực thụ từ thuở còn là một anh lính thông tin. Ở đó có sự phát hiện tinh tế và cũng manh nha một tài năng thơ có khuynh hướng đi sâu vào nội tâm, khám phá những bí mật của đời sống và của tâm hồn.

***

Thành công nhất của Phạm Đức là mảng thơ tình. Chính mảng thơ này đã đưa ông trở thành một nhà thơ có dấu ấn riêng và có tên tuổi trong thơ Việt Nam hiện đại. Tài khám phá nội tâm manh nha từ thời chống Mỹ, đã phát triển đến hoàn thiện vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Và những bài thơ: Thì anh lại sợ, Đơn Phương, hay Bên lề trở thành những bài thơ tình đặc sắc. Mỗi bài thơ là sự khám phá một trạng huống tâm lý điển hình trong tình yêu. Nó điển hình đến mức, hầu như ai trong cuộc đời mình cũng từng gặp phải những trạng huống như thế. Thì anh lại sợ, là nỗi lòng e ngại của chàng trai khi đến với tình yêu. Sự e ngại đã dẫn đến lỡ làng và khi người con gái lấy chồng, người con trai giữ lại nỗi lòng hoài tiếc, chơi vơi.

Bởi vì cần nói/ Với em một lời/Thì anh lại sợ / Âm thầm nuốt trôi/ Bởi vì cần đến/ Tìm em trước nhà/ Thì anh lại sợ/ Đứng nhìn từ xa/ Bởi vì cần hiểu/ Những lời lặng im/ Thì anh lại sợ/ Cái điều anh tin .

Cái điều tưởng chừng như nghịch lý ấy là một hiện thực vẫn thường diễn ra với nhiều người, nhất là những chàng trai tuổi mới lớn, tình yêu mãnh liệt chiếm lĩnh lấy tâm hồn, dày vò lòng họ, nhưng họ lại ngỡ ngàng, sợ hãi trước sự lớn lao, linh thiêng và hư ảo của nó. Bắt trúng cái điển hình của nội tâm con người trong tình yêu, Phạm Đức còn có khả năng diễn đạt ra thành những hình ảnh dung dị, sống động, có duyên.

Bài thơ Đơn phương, thậm chí còn được nhiều người chú ý hơn. Hầu như ít ai trong cuộc đời lại không một lần Đơn phương. Và người ta gặp lại tâm trạng mình trong một bài thơ lục bát giản dị, mỗi lời thơ đều trong vắt như

những giọt lệ ứa ra:

Thôi thì em đó, tôi đây

Không yêu nhau được dẫu đầy thương yêu

Người con trai trong thơ vẫn kiên quyết tuân theo những cảm niệm của trái tim: Đơn phương tôi cứ thuỷ chung một mình. Hoàn toàn tự nhiên, vượt thoát mọi so đo, tính toán và sự đòi hỏi thông thường.

Bài thơ Bên lề lại là một tình huống khác. Một tình huống thường vẫn xẩy ra với nhiều người trên đường đời giằng giặc, trong nỗi khát vọng tình yêu không bao giờ vơi cạn. Vì một lẽ nào đó, người con trai dành phải đi bên lề cuộc đời một người con gái. Tình yêu của họ dù đẹp đẽ nhưng không đến được:

Bước chân gìm bước bên lề

Trái tim vật vã tái tê giữa giòng

Với sự điệp lại liên tục có dụng ý từ bên lề, nối với một hệ thống tính từ và hình ảnh biểu đạt nội tâm: vui, buồn, giọt lệ lặng tuôn, sóng gió dập dồn riêng tư, ngang trái, thờ ơ, khắc khoải, rối tung nỗi người, đau đớn, ngậm ngùi…

Cho người đọc thấy cái cảnh ngộ đã hình thành nên một điểm nhìn nghệ thuật rất riêng của tác giả. Bài thơ thực sự là một bức tranh nội tâm phong phú những cung bậc, sắc màu. Nó là một tấm gương để những tâm hồn đồng điệu, những người gặp cảnh ngộ éo le tương tự có thể soi mình vào, rồi từ đó có thể tìm ra một lối thoát.

***

Những năm gần đây, nhà thơ Phạm Đức cho xuất bản các tập Báo động, Giật mình… nghiêng về đề tài thế cuộc nhiều hơn. Thực ra, không phải bây giờ ông mới chú ý đến đề tài xã hội. Từ năm 1977, ông đã có bài Ảo giác thật đầy tiên nghiệm.

Mắt không thấy gì/ Nhưng sâu thẳm hồn tôi thấy rõ/ Chính là/Đúng là

Có kẻ đang cưa/Đang đục/Đang đẽo/ Đang phá…

Ở đây, tứ thơ mở ra một dự báo, để người đọc tiếp tục suy tư và khám phá ra những tội ác còn lẫn chìm trong vô vàn biến thiên, bề bộn của cuộc sống mới, nó thúc bách tư duy con người, nó làm người ta dằn vặt…

Trong bài Những nơi, tác giả cảnh báo con người trước những tha hoá:

Nhôm nhoam, nhập nhoạng dương âm

Thực người hay đã nhuốm phần quỷ ma

Giọng nào nghe tựa tựa ta

Thoắt thôi đã nhạt, đã xa vợi vời.

Có thể nói, càng có tuổi, thơ Phạm Đức càng có khuynh hướng đi vào đề tài xã hội, và trong mảng thơ này, ông cũng đã khám phá ra những điều khiến người đọc phải ngạc nhiên.

***

Khi tâm sự về nghề, Phạm Đức viết: “Thi sỹ đã chết sau bài thơ hay nhất của mình. Có nghĩa là bạn còn làm thơ thì bài thơ hay nhất của bạn vẫn chưa ra đời.” Đối với ông, mỗi lúc cầm bút làm thơ là một giờ khắc thiêng liêng.

Những bản thảo các bài thơ tâm đắc từ hàng chục năm trước ông đều ép plattic và giữ lại. Ông mơ ước viết được những dòng thơ mà người đọc phải thổn thức soi tìm: Phép lạ ẩn đâu trong từng chữ, / trong từng dấu con con,/từng khoảng trắng giữa dòng

THIÊN SƠN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.