Nhà thơ Chính Hữu và một tâm tình ngày Tết

Vanvn- Chiều cuối năm, mùi hương trầm, trong nghĩa trang ngoại ô đơn sơ, ấy là những dấu chỉ ít ỏi nhưng đủ cho ta biết rằng đây là khoảng thời gian cận Tết. Và Tôi ấy, như bao người khác trên đất nước này, đang thực hiện cái nghi thức truyền thống là thăm viếng, thắp hương nơi phần mộ những người thân trong gia đình mình. Năm cũ năm mới nối nhau bằng Tết. Người ta thường nói Tết là khởi đầu một năm mà ít khi nghĩ rằng Tết cũng có nghĩa là một năm đã chết. Năm chết chồng lên năm chết để làm thành sự miên viễn của thời gian, mà trong đó, mỗi cá thể người chỉ là một chiếc lá, rốt cuộc cũng sẽ theo nhau rụng, về cội.

Nhà thơ Chính Hữu

Cuộc đời Chính Hữu tuy dài, 81 tuổi (1926 – 2007), nhưng thơ ông không nhiều. Cái triết lý “quý hồ tinh, bất quý hồ đa” với thơ của ông khiến cho lịch sử thi ca (cách mạng) Việt Nam vừa sung sướng vì được sở hữu những thi phẩm tuyệt vời như “Ngày về”, “Đồng chí”, “Ngọn đèn đứng gác”, “Đường ra mặt trận” v.v… lại vừa thòm thèm tiếc nuối: giá như ông có thể dễ dàng cởi mở với thơ hơn?

Từ một cái nhìn khái quát, chú ý đến sự tập trung vào “đề tài”, lâu nay, người ta vẫn cho rằng thơ Chính Hữu là thơ của một người lính, viết về chiến tranh vệ quốc và quân đội cụ Hồ, viết về những người chiến sỹ và tình đồng đội keo sơn của họ, viết về dân công hỏa tuyến và những tình cảm hậu phương/ tiền phương mộc mạc mà vô cùng da diết. Không sai. Nhưng chưa đủ. Một tài năng đích thực, như thường thấy, ít khi chịu để cho mình vừa khuôn với bất cứ một thứ khái quát nào. Thi phẩm sau đây của Chính Hữu, bài “Lá rụng về cội”, là một ví dụ:

Ngày tôi còn nhỏ, mẹ tôi hay nói

“Lá rụng về cội”

Những chiều cuối năm

Một vùng ngoại ô, ấm mùi hương trầm

Mẹ tôi dắt tôi về thăm bà ngoại

Đi vào cái ngõ tre một thời con gái

Bà ngoại tôi bây giờ, một con đường nhỏ ngoại ô

Quạnh quẽ

Dẫn đến một nghĩa trang đơn sơ

Một mảnh của tuổi thơ tôi ra đi lặng lẽ

Mẹ tôi, chị tôi và em gái tôi, tiếp theo nhau, đã thành bà ngoại

Tôi yêu một cách đau đớn cái vùng ngoại ô cuối năm

Cái mùi hương trầm ở quê tôi, ngàn đời, mãi mãi

Có tiếng thì thầm

Của những chiếc lá, tiếp theo nhau, đang rụng về cội…

Những câu thơ khá lệch nhau về số lượng âm tiết, không quan tâm đến vần, thậm chí có lúc dường như cũng chẳng buồn quan tâm đến nhịp, từ lâu rồi, đã định hình nên phong cách hình thức riêng của thơ Chính Hữu trong cái xứ sở mà thơ luôn được coi là một cái gì phải nhịp nhàng, du dương. Mặc dù vậy, nó vẫn cứ rất thơ. Bởi nó thấm đẫm cái mà nhà thi học kiệt xuất Roman Jakobson luôn nhấn mạnh, đó là “chất thơ” hay “tính nên thơ”. Nếu trong những bài trước đó, như “Đồng chí” hay “Ngọn đèn đứng gác”, chất thơ nằm ở hình tượng thơ, hoặc ở cấu trúc ngôn ngữ và nghệ thuật sử dụng ngôn từ, thì trong bài này, “Lá rụng về cội”, chất thơ lại nằm ở chính cái mà thi học cổ điển đề cao: cảm xúc, hay sự lan tỏa lay động từ hồn người sang hồn người. Một cảm xúc hoài cổ, ngậm ngùi: “Khi còn nhỏ mẹ tôi hay nói/ Lá rụng về cội”. Một cảm xúc của người già khi được sống lại, trong khoảnh khắc, vài hình ảnh còn lưu nơi ký ức đã bạc nhàu mòn mỏi: “Những chiều cuối năm/ Một vùng ngoại ô, ấm mùi hương trầm/ Mẹ dắt tôi về thăm bà ngoại/ Đi vào cái ngõ tre một thời con gái”. Hình ảnh mang tính chất sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, thì chỉ có thế, không hơn.Nhưng nó được gắn kết, nói đúng hơn, được đối lập với những hình ảnh/ sự kiện của thì hiện tại: “Bà ngoại tôi bây giờ, một con đường nhỏ ngoại ô/ Quạnh quẽ/ Dẫn đến một nghĩa trang đơn sơ/ Một mảnh của tuổi thơ tôi ra đi lặng lẽ. Mẹ tôi, chị tôi và em gái tôi, tiếp theo nhau, đã thành bà ngoại”.

Trong sự trải nghiệm ấy của nhân vật Tôi, ta nghe thấm vào mình cả một trời buồn thảm của thời gian chầm chậm trôi dần và không sao cưỡng lại được, về phía cái chết. Tôi ấy (có lẽ cũng đã ở tuổi ông/ bà nội, ngoại) đang muốn, không gì khác hơn, sự yên nghỉ vĩnh hằng với chốn về của mình: “Tôi yêu một cách đau đớn cái vùng ngoại ô cuối năm/ Cái mùi hương trầm ở quê tôi, ngàn đời, mãi mãi/ Có tiếng thì thầm/ Của những chiếc lá, tiếp theo nhau, đang rụng về cội”… Chiều cuối năm, mùi hương trầm, trong nghĩa trang ngoại ô đơn sơ, ấy là những dấu chỉ ít ỏi nhưng đủ cho ta biết rằng đây là khoảng thời gian cận Tết. Và Tôi ấy, như bao người khác trên đất nước này, đang thực hiện cái nghi thức truyền thống là thăm viếng, thắp hương nơi phần mộ những người thân trong gia đình mình. Năm cũ năm mới nối nhau bằng Tết. Người ta thường nói Tết là khởi đầu một năm mà ít khi nghĩ rằng Tết cũng có nghĩa là một năm đã chết. Năm chết chồng lên năm chết để làm thành sự miên viễn của thời gian, mà trong đó, mỗi cá thể người chỉ là một chiếc lá, rốt cuộc cũng sẽ theo nhau rụng, về cội.

Chỉ một duy nhất khác biệt: có những chiếc lá biết tư duy, biết “yêu một cách đau đớn cái vùng ngoại ô cuối năm”, cái vùng sẽ chôn vùi vĩnh viễn sinh tồn của nó. Và đấy, phải chăng là chất thơ của sự chết trong bài “Lá rụng về cội”, thi phẩm lạ, mang dấu vết một tâm tình ngày Tết của nhà thơ, “chính ủy” Chính Hữu?

HOÀI NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.