Nặng tình nước non

VanvnHôm tôi rời Hà Nội lên đường đi Bê, đang ốm nặng, không dậy được, bà tôi gọi tôi tới bên giường, bà nói: con đi chân cứng đá mềm, mau vào lấy lại thành Huế… Rồi bà dặn tôi đánh Mỹ xong rồi thì về tìm chùm chìa khóa dưới mái che bể nước mưa phía sân sau ngôi nhà lớn của gia tộc, ở đường Mã Khái. Chùm chìa khóa có mười hai chìa tất cả…

 Nhà văn Bảo Ninh. Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Nguyên quán Bảo Ninh – Đồng Hới nhưng cuối 1954 giáp tết Ất Mùi, mới 2 tuổi đã theo cha mẹ ra “tiếp quản Thủ Đô”, nên từ bé tôi đã nói gần như hoàn toàn giọng Bắc (bà nội tôi gọi là giọng Đàng Ngoài). Bị bà nội phiền trách vì điều đó mà tôi không làm sao khác đi nổi bởi ngoài sáu năm chiến trường tôi chỉ thường trú Hà Nội. Bạn học, bạn phố phường, bạn bộ đội không một ai nói giọng Quảng Bình. Mà cả trong gia đình cũng vậy. Bà nội tôi quê Nghệ An nhưng từ xuất giá  đã định cư ở Kinh thành Huế. Ông nội tôi sinh thời giữ chức Biên tu Quốc Sử quán của Nam triều, tư gia gần bên hồ Tịnh Tâm. Cha mẹ tôi và các bác các chú các cô đều đã sinh ra, lớn lên, học hành tại Huế.

Sống ở Hà Nội suốt hai chục năm thời  đất nước bị chia cắt mà  những người lớn trong gia đình vẫn giữ được giọng và cốt cách Miền Trung chủ yếu là nhờ bà nội luôn nghiêm khắc duy trì trong nhà lối sống và tập tục của quê nhà vốn có nhiều khác biệt với ngoài Bắc. Những sự khác nhau ấy không lớn nhưng đậm nét, thấy rõ nhất  là vào dịp Tết.

Thời đó đời sống khó khăn, thiếu thốn mọi bề, bởi vậy ở Hà Nội gia đình nào cũng  như là phải  gồng mình lên mà lo liệu thì mới có nổi sự ăn sự mặc trong ba ngày tết tươm tất hơn thường nhật, đồng thời  cũng phải phiên phiến cho qua đi nhiều lễ nghi tập tục. Nhẹ nhàng, giản đơn, tinh thần là chính. Gọi là tết Nếp sống mới. Nhưng ở gia đình chúng tôi, bà nội chỉ thuận tình làm nhẹ đi chứ không từ bỏ  lệ xưa nếp cũ. Chẳng hạn, ngày 23 tháng Chạp, bà tôi nhất định phải làm lễ Thượng tiêu, tức là dựng cây nêu lên ở sân chung cư. Nêu là một cây tre nhỏ,  phải còn tươi, còn chùm lá xanh trên ngọn, mà để kiếm được một cây cho đúng ý bà, cha tôi phải đạp xe đạp ra ngoại thành tìm kiếm. Nêu dựng lên rồi, bà tôi dùng vôi vẽ  hình một bộ cung tên dưới chân cây nêu, để cản tà ma. Cũng sáng 23 bà làm lễ cúng ông Táo của chung cư. Gọi là của chung cư vì bàn thờ ông Táo bà tôi dựng trong căn bếp ba chục thước vuông của chung chục hộ gia đình. (mỗi hộ một bếp củi, một bếp than tổ ong, một cái chạn). Tượng đất nung ba ông táo năm cũ được thay bằng tượng mới (cha tôi phải đặt làm ở tận làng Hiển Lễ huyện Mê Linh). Áo thụng, hia, và mũ cánh chuồn cho hai Táo ông, mũ không cánh chuồn cho Táo bà, bà tôi tự cắt giấy tô phẩm làm lấy chứ hồi đó Hàng Mã không “sản xuất” hàng mã. Mâm cỗ cúng ông Táo có đĩa xôi với miếng thịt luộc (phải là thịt nọng) và chút ít hoa quả. Không cúng cá chép như tục ngoài Bắc.

Chiều 27, mười hộ chung cư cùng gói bánh chưng để đến tối cùng nấu, chung nồi. Nồi là nguyên một cái thùng phuy 250 lít. Riêng gia đình tôi, bánh chưng chỉ hai cặp còn đều là những đòn bánh tét. Bánh tét khó gói hơn bánh chưng, lại gói bằng lá chuối, thứ lá không có ở chợ tết Hà Nội. Ngoài bánh tét, bà tôi còn tự tay làm nhiều thứ bánh khác của quê hương: bánh bèo, bánh bột lọc, bánh măng, bánh sen chấy. Và chè: chè đậu xanh đánh, chè khoai, chè đông sương. Một thứ nữa, cầu kỳ không kém, là dưa món. Thường khi chế biến rau củ làm dưa món người ta thái miếng, nhưng bà tôi “nghệ thuật hóa” việc đó, tỷ mỉ gọt, tỉa, biến củ cải, cà rốt, đu đủ, su hào thành những bông hồng, bông ngọc lan, bông thược dược, bông hải đường… Tối 30, như mọi nhà, gia đình tôi lễ cúng giao thừa, nhưng khác là cỗ chay và luôn có hai mâm lễ. Lễ bày trên sân thượng của chung cư  bà tôi thắp hương cúng vào trước giao thừa, bà bảo là lễ đưa rước các vị Hành khiển từ thượng giới. Lễ cúng ở bàn thờ trong phòng bà tôi bắt đầu vào đúng thời điểm thiêng liêng “Cụ Hồ chúc Tết đồng bào”.

Hồi đó Hà Nội tết nhất chỉ ba ngày, nhưng gia đình chúng tôi thì lê thê. Hết sức rườm rà, tôi chỉ nhớ đại khái: Chiều tối mồng Ba cúng tiễn tổ tiên ông bà lên lại cõi trên, chiều mồng Bảy lễ hạ nêu, rồi thì lễ cúng đầu xuân, lễ dâng sao… Sau ba ngày tết, cha mẹ tôi đi làm, anh em tôi đi học, bà nội vẫn ngày ngày đều đặn cúng kiếng, hôm cỗ chay hôm cỗ mặn, hương khói nghi ngút cho tới cúng rằm Nguyên tiêu. Bà tôi bảo trong Huế nhà vua, các quan và cả thứ dân nữa còn lễ lạt tết nhất đến hết tháng Giêng.

Nhà văn Bảo Ninh cùng các bạn văn tại Hội thảo khoa học quốc gia GS Hoàng Tuệ – Ngôn ngữ trong đời sống xã hội, ngày 30.3.2024 tại Hà Nội

Ngày nay chẳng thành vấn đề gì những sự hương khói cúng kiếng cầu kỳ ấy, nhưng mà ngày đó thì “rất vấn đề”. Cha tôi là cán bộ giảng dạy đại học, mười hộ khác trong chung cư cũng vậy đều gia đình cán bộ Đảng viên và lẽ dĩ nhiên đều rất kỵ với những tập tục cổ truyền mà vào thời đó bị coi là cổ hủ, thậm chí là tàn tích phong kiến. Ngay cả thắp hương bàn thờ người ta cũng phải kín đáo. Vậy nhưng,  mặc dù cứ thế, công nhiên hương khói lễ lạt cúng bái không chỉ trong phòng mà cả ngoài sân và trên sân thượng chung cư trong suốt những ngày Tết và cả không riêng gì ngày tết, bà nội tôi không hề bị ý kiến này ý kiến nọ phê bình chê trách gì cả. Một phần là bởi bà tôi lịch lãm và hiền từ nên được ai nấy trong nhà ngoài phố quí mến kính trọng, song chủ yếu là vì mọi người cảm thông và thương cảm cho bà tôi, bà cụ già xứ Huế đã bao nhiêu năm ròng chịu cảnh ngộ đất nước bị chia cắt,  “ngày Bắc đêm Nam” đau lòng vọng nhớ cố hương ngàn trùng xa cách.

Nông nỗi “ngày Bắc đêm Nam” là như thế nào,  tôi có thể cảm nhận qua cha mẹ, cô dì chú bác, mà nhiều nhất là qua bà  nội. Từ 1946 cho đến khi qua đời, suốt ba chục năm trời xa Huế bà tôi vẫn chỉ thực sống ở Huế. Trong chuyện trò, trong tâm tưởng, bà chưa hề đi đâu xa khỏi bờ sông Hương… Ngày 20 tháng 12 năm 1946 ( bà nhớ rõ là  27 tháng 11 năm Bính Tuất), Huế nổ súng kháng chiến, lên đường đi tản cư  bà tôi nghe thiên hạ kháo nhau rằng chỉ chừng dăm hôm thôi là quân Pháp  sẽ  bị Việt Minh dẹp tan, mình lại được về nhà. Của nả thu vén mang theo chỉ cái tay nải; cửa lớn cửa nhỏ, rương, hòm, tủ trong nhà bà khóa kỹ, chùm chìa khóa bà nhét vào góc trong dưới mái che bể nước mưa ở sân sau để cho cha tôi với các bác các chú “ đánh Tây xong, trở về thì có chìa khóa mà vào nhà ”! Chùm chìa khóa ấy thường trực trong ý nghĩ của bà, khiến bà không ngớt nghĩ ngợi lo lắng về nó, khiến cho ngày tản cư đã mấy chục năm về trước luôn luôn chỉ như là ngày hôm qua đối với bà.

Hôm tôi rời Hà Nội lên đường đi Bê, đang ốm nặng, không dậy được, bà tôi gọi tôi tới bên giường, bà nói: con đi chân cứng đá mềm, mau vào lấy lại thành Huế … Rồi bà dặn tôi đánh Mỹ xong rồi thì về tìm chùm chìa khóa dưới mái che bể nước mưa phía sân sau ngôi nhà lớn của gia tộc, ở đường Mã Khái. Chùm chìa khóa có mười hai chìa tất cả…

Tiểu đoàn tôi không vào Huế, mà  đi “ Bê dài ” vào Mặt trận Tây Nguyên, tuy nhiên  trời xui thế nào dọc đường giao liên vượt Trường Sơn tôi lại được đón giao thừa Canh Tuất 1970 ở  bãi khách của Binh trạm 41, ngay gần ngã ba Pa Lin lối rẽ vào Chiến trường Thừa Thiên. Nhớ bà, nhớ cha mẹ, sáng mồng Một trước khi rời trạm, tôi viết nhanh một lá thư ngắn gửi  nhờ anh em thương binh mang ra Bắc. Tôi nhớ, cuối thư tôi viết :  bà ơi cháu sẽ sớm tìm được chùm chìa khóa hồi năm 1946 của bà.

Buồn thay, lá thư bị thất lạc, những dòng tôi viết trong cánh rừng gần Huế đã không được bà tôi đọc.Và buồn hơn, khi tôi đi phép, trở về Hà Nội vào tết Bính Thìn 1976 thì bà tôi mất đã hơn 100 ngày. Đã cố được đến sau 30 tháng Tư 1975 mà bà tôi đã không thể gượng thêm để có thể kịp một lần về lại Huế.

Một năm sau cái Tết hòa bình đầu tiên, cha tôi vào giảng bài tại Đại học Huế. Ông cho tôi theo cùng. Ngay ngày đầu, sau buổi sáng lên lớp, trưa và chiều cha tôi đưa tôi thong thả dạo bộ trở về lại với quá khứ của ông và của gia đình. Trường Quốc học của cha, trường Đồng Khánh của mẹ, khách sạn Morin nơi cha tôi dự trận chiến đầu tiên đánh Pháp, dốc Bến Ngự  nhà cụ Phan…  Năm đấy, 1977, cầu Trường Tiền vẫn đang gục gãy, còn cầu Mới ( cầu Phú Xuân) thì cha tôi thấy nó quá xấu so với cây cầu xưa, nên hai cha con xuống đò Thừa Phủ để qua bên Thành Nội.

Đầu năm 1947 cha tôi cùng đơn vị Vệ Quốc đoàn phải rút lui khỏi Huế, đầu năm 1977 ông trở về, vậy là đã 30 năm, biết bao thăng trầm hưng phế, mà cha tôi vẫn nhớ y nguyên đường đi lối lại, vẫn nhớ tên những con phố mà ngay cả người Huế đương thời cũng không biết: đường Âm Hồn, đường Lục Bộ, đường Nhà đồ, đường Xã Tắc, đường Hộ thành, đường Chợ Xép, ngã ba Anh Danh… Dân sở tại không ai biết đường Mã Khái là đường nào (nay là đường Nhật Lệ), nhưng cha tôi hồi lâu lặng lẽ lần bước rồi cũng tìm ra được ngôi nhà của ông bà nội, nơi cha tôi sinh ra, lớn lên. Đấy là lần đầu và duy nhất tôi thấy cha tôi khóc. Mà thật ra không nhìn thấy, chỉ là cảm  nhận thấy  từ bàn tay ông vừa run rẩy vừa xiết lấy khuỷu tay tôi, chứ không nghe tiếng thổn thức, không thấy nước mắt, nước mắt chảy vào trong. Nhưng cha tôi không vào nhà, chỉ dừng bước trước cổng một lúc rồi ông kéo tôi rời đi. Phần vì ngôi nhà đã hoàn toàn đổi khác, xưa là nhà vườn nay đã thành cửa hiệu, kiểu nhà tây hai tầng, phần vì cha tôi không muốn làm các gia chủ đời mới của ngôi nhà phải xao động sợ hãi. (Từ năm 1947 toàn bộ nhà cửa vườn tược của ông bà tôi đã bị chính quyền tay sai của Pháp chia cho ba gia đình sĩ quan. Ba ông sĩ quan Cộng hòa đó sau giải phóng phải đi học tập cải tạo, vì thế, vợ con họ hẳn sẽ vô cùng sợ hãi nếu tưởng rằng cha con tôi vào đòi lại nhà.) Vậy nên, rốt cuộc, tôi không biết cái bể nước mưa thuở 1946  có còn đó không. Và cái chùm chìa khóa của bà nội… Chiều đấy, cha con tôi qua đò Đông Ba để về trường Đại học Sư phạm bên bờ Nam. Tôi nhớ bà nội. Nhớ bài thơ  bà tôi thường khe khẽ ngâm lên cho anh chị em chúng tôi nghe thuở nào ở Hà Nội, hồi đất nước còn bị chia cắt, bà vọng nhớ cố hương.

“Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá/Đò về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình/Lờ đờ bóng ngả trăng chênh/Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non”

BẢO NINH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *