Năm cọp, nhớ “Thần hổ”

Vanvn- Chắc hẳn ai cũng sợ cọp. Và cũng có những người thích cọp. Thế cho nên răng cọp, da cọp, pín hùm, cao hổ cốt… vẫn được nhiều người tìm mua, để khẳng định uy quyền, đẳng cấp, hoặc để chữa bệnh. Có nhà còn nuôi nhốt cả mười mấy con hổ ngay trong khu dân cư để sinh lợi!

Tôi vừa rất sợ cọp, vừa rất mê đọc về cọp qua văn chương. Tôi thích truyện dân gian “Trí khôn của ta đây” kể chuyện  con cọp to đầu mà dại, bị trói vào gốc cây, bị bác nông dân đánh một trận để cọp thấy trí khôn là thế nào. Rồi những chuyện mèo dạy cọp, chuyện chú thỏ tinh khôn… kể về những con cọp bị những con thú nhỏ mưu mẹo phỉnh phờ lừa gạt. Tôi cũng thích đọc về cọp trong những tiểu thuyết như “Tiết Nhơn Quý chinh Đông”.  Long hổ tranh hùng, long tranh hổ đấu thường tạo nên sức hấp dẫn cho những tiểu thuyết dã sử, kiếm hiệp.

Bìa sách “Thần hổ” của tác giả Đái Đức Tuấn. Hương Lan xuất bản (Hà Nội – 1937).

Tác phẩm tôi thích đọc nhất là truyện “Thần Hổ” của nhà văn Đới Đức Tuấn (TCHYA). Nguyên là thuở nhỏ, nhà tôi ở gần nhà của chú Thức, người em kết nghĩa của ba tôi. Chú Thức họ Đèo. Tôi không rõ chú là người dân tộc nào. Trên bàn của chú thường xuyên đặt quyển sách học tiếng dân tộc Thái trắng. Còn những truyện về ó ma lai chú kể cho chị em tôi nghe tối tối lại thường nhắc đến những bản Mường, Mèo xa lạ. 

Một lần, chú Thức đưa về nhà một quyển truyện. Hình bìa và nhan đề đủ khiến tôi tò mò: “Thần hổ”. Chú Thức bảo để đọc xong chú sẽ kể cho nghe. Nhưng ngày thì chú đi làm với ba tôi. Mỗi tối chú chỉ đọc được đôi ba trang sách là thím đã giục đi ngủ hoặc mẹ tôi gọi chị em tôi về. Biết bao giờ chú mới đọc xong! Tôi đánh bạo hỏi mượn chú để đọc trước. 

Truyện quá hấp dẫn, sách lại đi mượn, nên tôi đọc ngấu nghiến, quên cả giờ ăn giờ ngủ. Tôi không biết ông chú họ Đèo của tôi và những con ó ma lai có quan hệ đến dòng họ Đèo bị thần hổ căm thù, tìm giết cho tuyệt hậu và con ma trành trong truyện không. Nhưng càng đọc thì càng bị lôi cuốn theo cốt truyện.

Bây giờ, đọc lại “Thần hổ” trên trang Truyện Online, tôi vừa nhớ lại kỷ niệm tuổi thơ, vừa ngẫm nghĩ sâu hơn về truyện. Tác phẩm in năm 1937 này có ba phần: Phần 1: Thần hổ (có bản ghi là Biệt cố hương), phần 2: Ma Trành, phần 3: Báo phục. Theo tôi, những tác phẩm đường rừng có yếu tố ma quái, ly kỳ của Việt Nam như “Vàng và máu” của Thế Lữ, “Thần hổ” của Đới Đức Tuấn… xứng đáng trở thành danh tác không chỉ của văn học Việt Nam mà còn của cả thế giới.  

Câu chuyện xảy ra ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa. Nhân vật chính của truyện là Đèo Lầm Khẳng. Chàng là hậu duệ sót lại duy nhất của dòng họ người thợ săn cọp nổi tiếng Đèo Văn Bỉnh. Quan huyện Thạch Thành nhờ người thợ săn tài ba này tìm cách tiêu diệt con hổ xám quấy nhiễu dân lành. Con cọp suýt bị cha con ông Bỉnh tiêu diệt nhưng nó may mắn thoát chết. Tương truyền rằng hổ báo thù rất dữ. Thần hổ đã tạo ra một mối thù truyền kiếp với đời cha, đời con và đến đời cháu của ông Bỉnh, chỉ còn người cháu Đèo Lầm Khẳng sống trong sự truy tìm tận diệt của Thần hổ. 

Văn sĩ TchyA (Đới Đức Tuấn) (1908-1969).

Nếu ở đất phương Nam, người đọc thích thú khi đọc “Bắt sấu rừng U Minh hạ” của nhà văn Sơn Nam và thán phục trí tuệ người xưa, thì đọc “Thần hổ”, người đọc lại bị cuốn hút và ngưỡng mộ sự từng trải, dày dạn kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên, chinh phục thú dữ của người dân tộc vùng cao phương Bắc. 

Con cọp ở Thạch Thành là một thần hổ xám, độc dữ: “Đồn rằng tai nó thường hay vểnh lên lắng nghe thiên hạ bàn tán về nó: trong lỗ tai nó có hơn trăm vết đỏ, chứng rằng nó đã ăn thịt hơn một trăm người. Phàm già trong loài hổ, tục truyền rằng mỗi lần bắt được một người, trong tai lại có thêm một vết đỏ; con nào bình sinh gồm đủ trăm vết, thì sẽ được thành tinh, và nếu có phúc phận, sẽ sống lâu đến vài trăm tuổi. Từ sắc vàng, hổ yêu sẽ thay lông ra sắc xám, khi nào sắc lông trắng toát, ấy là lúc được làm chúa các loài hổ trong rừng”.

Người thợ săn Đèo Văn Bỉnh sau một thời gian thăm dò tìm hiểu về Thần hổ đã cùng hai con trai là Đèo Thắng Mãnh và Đèo Lầm Phá lập mưu diệt hổ. Những trang văn mô tả tỉ mỉ cảnh tượng diệt hổ của cha con người thợ săn thật ly kỳ, hấp dẫn và truyền đến người đọc một cảm giác hồi hộp nín thở. Đấy là do tài năng và sự từng trải, óc quan sát và trí tưởng tượng phong phú của nhà văn. 

Thần hổ chưa xuất hiện, không gian đã căng thẳng nỗi sợ: “Đợi ngót nửa trống canh, vào khoảng giữa giờ Thân, một tiếng gầm inh ỏi, trong lanh lảnh như tiếng khánh, làm tạo hoá phải giật mình kinh hãi. Những loài chim chóc, đương ríu rít kiếm ăn, rào rào vỗ cánh bay đi chỗ khác, những loài chồn, loài thỏ vội chui rúc vào lỗ, không dám lộ đầu ra ngoài. Con nào vô phúc chạy bị vấp, thì đành chổng ngược bốn vó lên trời, kinh khủng đến cực điểm, không lê đi được bước nào nữa, cứ đành run lẩy bẩy mà liều với số mệnh”.

Khi Thần hổ mới xuất hiện, tư thế của nó thật ngạo nghễ: “Một mùi hôi thối nồng nàn, sặc sụa, xông lên mũi hai cha con họ Đèo, tựa hồ tất cả gầm không khí bao bọc khu rừng toàn bị mùi hổ làm cho nhơ nhớp. Một cái bóng lù lù tự phía Đông Nam đi lại, ở trong một bãi sậy nhô ra. Cái bóng ấy vươn mình mấy lượt; mỗi một lượt vươn tấm hình hài vừa dài vừa to lớn, là một lần cúi gầm mặt xuống đất, ngáp một cái dài. Rồi những tiếng “à uôm” vang trời nối theo những cái ngáp dài ấy. hai cha con Thắng Mãnh nhận biết Thần hổ xám, con hổ đã làm cho cả huyện Thạch Thành kinh sợ hơn sợ Thánh, sợ Trời. Con vật đã làm cho nhân dân huyện ấy không lúc nào làm ăn mà không nơm nớp lo ngại”.  

Lúc hổ xám trông thấy một con dê rừng con buộc ở đầu cây cầu quen thuộc nó vẫn thường đi qua, nó đã hả hê sung sướng vì sắp được ăn ngon. Thần hổ tiến đến chỗ con dê, nhưng nó không dễ tha miếng mồi béo đi được, dù con sơn dương nhìn thấy ánh mắt cọp với “đôi đồng tử sáng ngời điện tuyến”, đã “mềm nhũn ra như một cái xác không xương”. Đây là mồi nhử cọp của cha con người thợ săn. Con vật khốn khổ đã bị buộc chặt vào một cây cọc. Khi hổ vừa cắn đứt cái chân bị buộc vào cọc của con dê để định tha đi thì Đèo Thắng Mãnh mặc đồ hóa trang thành một con vật kỳ lạ khác chờn vờn trước mặt hổ như muốn cướp miếng mồi ngon của hổ. “Đắn đo lừa miếng mãi, hổ mới nhảy bắt được con vật ăn cắp dê. Con vật đó tựa như bằng lòng để hổ vồ mình; nó cúi đầu chạy tuột vào bụng hổ, cho hổ ngồi đè lên nó gọn thon lỏn”. 

Khi Thắng Mãnh, người hóa trang thành con vật kỳ lạ, đã ngồi gọn dưới bụng cọp thì thợ săn Bỉnh xuất hiện với ba chiếc mã tấu sáng quắc trên tay. Người cha dùng ba thanh mã tấu liệng lên tung xuống chờn vờn trước mặt cọp dụ cọp phải tiến tới. Nếu cọp phóng về phía người cha thì mất con mồi dưới bụng. Nếu cọp cúi xuống con mồi dưới bụng thì lại sợ mã tấu của người thợ săn trước mặt sẽ phóng trúng mình. Cọp vừa cố giữ con mồi vừa lê chậm về phía trước. Cứ thế, cha con hợp mưu dụ cọp tiến về phía có một khoảng hở lớn trên cầu. “Lúc hổ đã tới chỗ ấy, thì Mãnh chịu khó ngồi yên, không cựa nữa mà ông Bỉnh cũng không lùi nữa. Chỗ hổ ngồi là một lớp sàn, làm bằng tre hoặc luồng, chắp lại như một cái bè dài, dùng làm cầu bắc ngang qua khe suối. Thế tất những quãng giữa hai cây tre chắp lại là một khe hổng dài làm cho ta đứng trên cầu, có thể trông suốt được xuống đến mặt suối. Những đường kẻ ấy, có chỗ bề rộng đến hơn một tấc ta. Chỗ Thần hổ ngồi, có một đường hở to như thế. Hai cha con Mãnh cố ý làm cho hổ ngồi đúng giữa đường hở ấy, Mãnh lại khôn khéo cố lết mãi lên gần hai chân trước của hổ, ép mình sát vào hai chân ấy, chỉ cốt để mé dưới bụng hổ được thành thơi. Mãnh làm như thế, không phải không có ý định. Nguyên xưa nay Thần hổ xám vẫn có một nết rất xấu, là mỗi lần đến ngồi trên cầu tre, thì thường hay ngồi vào chỗ có kẽ hổng, rồi thả dương vật vào cái khe hổng ấy, cọ đi cọ lại cho đỡ ngứa, tự lấy thế làm khoái lạc vô cùng. Đó là một thói thường của hổ, tỷ như thói gãi tai của loài chó, hoặc thói gãi bẹn của giống hầu. Biết được thóp ấy, ông Bỉnh cốt lừa hổ đến ngồi ở chỗ cũ, để bắt nó thế nào cũng phải chết sau khi chịu một phen cực khổ ê chề”.

“…Không mất một phút nào vô ích, khi Mãnh đã biết rõ hổ ngồi đúng giữa kẽ hổng, hắn vội vàng tháo cuộn song trong người, buộc một đầu rõ chặt vào dây lưng mình rồi đo đắn tử tế, lại buộc nốt đầu kia vào một cây luồng lớn giữa sàn cầu. Hắn tính trước: nếu nghiêng mình nhảy xuống khe, tất sẽ ở lưng chừng khe, không sợ đập đầu vào đá. Từ mặt cầu xuống đến khe có hơn hai mươi thước ta (nghĩa là tám thước tây) mà khoảng song chỉ có độ già mười thước. Mãnh buộc cẩn thận đâu đấy xong xuôi cả, lại ngồi yên độ một khắc cỏn con. Rồi bỗng hắn nhét hai ngón tay vào mồm, huýt một tiếng còi lanh lảnh. Tiếng còi ấy vừa phát ra, một cảnh kinh hồn táng đởm bỗng theo tiếng còi, hiển hiện trên mặt cầu”.

Ấy là lúc người con Đèo Lầm Phá của ông Bỉnh ra tay. “Anh chàng con út ấy phải nằm phục dưới cầu, dùng dây buộc mình vào thân cầu, nằm dài theo chiều cầu và áp mặt vào phía dưới sàn. Anh ta phải tắm bùn cho hổ không thấy hơi người nữa, rồi cứ nằm ngửa sát mũi vào những cây luồng, hé mắt qua khe hổng để nhìn lên trên cầu. Đợi khi Thắng Mãnh dử hổ lại giữa khe hổng và buộc xong đâu đấy phân minh, Lầm Phá mới dùng lưỡi dao găm đâm nhè nhẹ vào tay anh, ra hiệu. Khi Mãnh huýt còi cho hổ phải bàng hoàng kinh ngạc, thì Phá đưa lưỡi dao găm cho ngọt, dùng thân luồng làm thớt, cắt mất của ông chúa sơn lâm cái quý vật rơi lòng thòng xuống khe cầu”.

Thần hổ tuy bị thương vẫn vô cùng dũng mãnh. Con mắt bên trái của nó bị một mã tấu của người cha phóng trúng cắm chặt. Hạ bộ của nó thì bị người con út cắt lìa. “Đau đớn quá, tức giận quá, con vật thét lên những tiếng kinh thiên động địa, gầm lên, lồng lên, quay ngang nhảy ngửa đến chín mười vòng để tìm người hại nó, cắn xé cho kỳ tan xác. Nhưng nó không làm gì được. Nó đành đứng trên bờ suối giương con mắt còn sót lại nhìn ông Bỉnh trên cây và Thắng Mãnh giữa khe một cách oán hờn, dữ tợn; nó chiếu thẳng vào hai cha con nhà thiện xạ những tia sáng quắc, đầy ý tưởng căm tức, tưởng chừng nó nguyền rủa hai cha con nhà ấy, và thề có trời đất chứng giám, thế nào nó cũng quyết chí báo thù rất độc ác sâu xa”.

Nếu thần hổ bị chết thì truyện cũng đã hay rồi, nhưng không hấp dẫn ly kỳ thu hút độc giả đọc hết ba phần sách. Con cọp thành tinh ấy không chết! Một mối thù “bất cộng đái thiên” giữa thần hổ và gia tộc họ Đèo hình thành. Nhân dân huyện Thạch Thành được yên ổn làm ăn một thời gian lâu dài thì một hôm người con cả là Đèo Thắng Mãnh đi ăn giỗ làng bên không thấy về. Sau ba ngày tìm kiếm, người em Đèo Lầm Phá tìm thấy thi thể anh trong một khe đá bên dòng suối nhỏ. Hạ bộ của Mãnh đã bị cắn nát và mắt trái bị móc mất. Nhìn thi thể nhầy nhụa máu của con, người thợ săn Đèo Văn Bỉnh kinh hoàng biết ngay từ đây gia đình ông sẽ bị “vạ diệt môn”.

Quả thế, thần hổ không chết dù bị thương tích khá nặng. Cọp cái vợ nó đã chịu khó đi tìm thú cho nó ăn, lại đi tìm lá thuốc chữa trị cho nó. Mất hơn năm tháng mới qua cơn hoạn nạn, Thần hổ trở nên độc dữ lạ lùng. Ngày nào cũng tát chết hoặc cắn chết vài ba người và đều để lại dấu hiệu đặc biệt: Nạn nhân bao giờ cũng bị cắn nát hạ bộ và móc mắt trái!

Người thợ săn nghe tin hổ xám trở về Thạch Thành báo thù thì gửi con trai trưởng của Đèo Lầm Phá là Đèo Lầm Khẳng cho quan huyện. Lại gửi con trai thứ hai của Đèo Thắng Mãnh là Đèo Thắng Hổ cho một bạn thân khác. Rồi ông cùng gia đình lánh nạn sang huyện Cẩm Thủy. Nhưng dù đã trốn tránh đi xa, lần lượt chẳng ai thoát khỏi nanh vuốt báo thù tàn độc của thần hổ xám, trừ Đèo Lầm Khẳng. 

Chàng trai cuối cùng dòng họ Đèo này thoát nạn nhờ tình yêu của ma trành Peng Slao dành cho chàng. Ngòi bút của nhà văn ở phần Ma Trành biến hóa ly kỳ. Peng Slao vốn là một thiếu nữ nhan sắc. Nàng từng học chung với Đèo Lầm Khẳng ở nhà thầy đồ Lê Văn Hồng và đem lòng thầm yêu chàng trai đồng môn nhưng chàng lại không hề biết đến. Sau đó, Peng Slao bị thần hổ xám vồ chết và hóa thành ma trành hầu cận thần hổ. “Thần hổ đi đến đâu, đều có một lũ ma trành hầu hạ. Lũ đó đến năm sáu đứa. Có vài đứa con trai, vài đứa con gái. Đứa nào xúi hổ bắt được người khác thế cho mình thì được thoát”. Peng Slao có một người theo đuổi hỏi làm vợ nhưng nàng từ chối. Hắn bị thần hổ vồ chết và đã run rủi cho Peng Slao bị mờ mắt, đi lạc đường và chết dưới móng vuốt của thần hổ, trở thành ma trành thay hắn. Nàng ma này đã tìm cách cứu mạng cho Đèo Lầm Khẳng. Đọc phần này, người đọc dễ liên tưởng đến “Liêu trai chí dị” của Bồ Tùng Linh hoặc “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ khi diễn tả tình yêu đắm đuối nhục dục giữa ma và người.  

Sau đó, ở phần 3 Báo phục, Đèo Lầm Khẳng lên Hà Nội học với tên khác là Phá Leng. Chàng lấy hai vợ và có thêm một nhân tình, mục đích là để mỗi người đẻ cho chàng một con trai nối dõi cho dòng họ sắp bị tuyệt hậu. Phá Leng vẫn nhớ mối thù với thần hổ xưa. Chàng kể chuyện gia đình mình cho cho một bạn đồng môn, gửi gấm vợ con nhờ bạn chăm sóc nếu chàng chết, rồi quyết tâm tìm hổ xám trả thù. Chàng đã được Peng Slao báo mộng: “Anh sẽ phải chết vì thần hổ xám đúng theo số kiếp và duyên nghiệp của anh. Song le, bởi tội ác loài mãnh thú kia đã đầy đủ, nó cũng sẽ chết vì tay anh, ngõ hầu mối oan nghiệt đến đấy là đoạn tuyệt, không giây vướng mãi đến đời sau nữa. Mối tử thù của anh sẽ được báo phục. Thần hổ cũng sẽ được hóa kiếp. Như thế sẽ tránh khỏi oan oan tương báo, sẽ tránh khỏi vòng nghiệp chướng lưu truyền”. Cảnh báo phục được tác giả mô tả hấp dẫn, hồi hộp đến nín thở, giống như cao trào của một phim hành động đầy kỹ xảo điện ảnh của Mỹ. Phá Leng và một người bạn khác thường lái xe đi săn. Trong một đêm cận rằm tháng Mười, họ gặp thần hổ, kẻ thù truyền kiếp của Đèo Lầm Khẳng: “Nhân buổi trăng sao vằng vặc, nhân khi khí tiết êm ả dịu dàng, nhân quang cảnh lặng lẽ âm thầm, con quái vật kia hiện ra hình người để cùng lũ ma trành đùa giỡn”. Phá Leng đã bắn trúng mắt còn lại của hổ xám. Dù mù cả hai mắt, hổ xám vẫn điên cuồng rượt đuổi theo xe hai người. Họ sợ hãi khi hổ xám càng lúc càng đuổi theo đến gần. Xe lại chạy lạc đường, thay vì về phủ Nho Quan thì lại chạy lầm sang một con đường đi tuột vào cửa rừng, ven sườn núi. Hổ xám đuổi kịp xe. Nó dùng hết sức tàn húc chiếc xe vào mãi cửa rừng cho đến khi gặp hòn đá to mới dừng lại được. Rồi hổ lần vào tận trong một hang rộng để chết. Phá Leng và bạn đến sáng mới tỉnh dậy. Phá Leng kinh hoàng nhận ra dấu vết của thần hổ trên mặt mình và bạn: Một vết đỏ hồng to bằng miệng chén tống! Hai tháng rưỡi sau, Lầm Khẳng và người bạn đi săn đã cùng chết đột ngột. 

Sau này, tôi còn được đọc nhiều thơ, truyện khác về cọp, cả trong văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Có bài thơ thật hay như “Nhớ rừng” của Thế Lữ với những câu thơ đầy hùng khí: “Ngậm một mối căm hờn trong cũi sắt”. Có những tóm tắt truyện hấp dẫn đến nỗi đọc xong chỉ muốn mua ngay tác phẩm như “No beast so fierce” (Không quái thú nào dữ tợn như vậy) của Dane Huckelbridge kể về một con cọp cái cô đơn di chuyển như bóng ma ở chân rặng Himalaya, giết hại 436 người, gieo rắc kinh hoàng cho vùng bắc Ấn Độ và Nepal hàng chục năm trời. Người thợ săn dũng cảm Jim Corbette đã quyết định ngăn chặn thú dữ trước khi nó giết hại sinh mạng tiếp theo. Khi đọc về những tác phẩm ấy, tôi đều nhớ đến “Thần hổ”, con vật với mối căm hờn truyền đời và chắc hẳn cũng chẳng có con quái thú nào độc ác hơn! Tôi cũng nhớ những con người can đảm quyết chinh phục thú dữ trừ hại cho dân lành. 

Dù sao, có một tập tính ở loài cọp được mô tả trong “Thần hổ” mà nếu con người có được thì sẽ dễ tha thứ cho người khác. Đó là tính hay quên. “những con cọp thường là những vật “thiên lý nhĩ”, nghe được ngàn dặm, ai nói gì động tới chúng nó, chúng nó đều biết cả. Nhưng trời lại phú cho cái tật hay quên, hễ đụng tai vào một cành cây, vào một chùm lá, là quên bẵng hết, không nhớ gì nữa. Duy có Thần hổ thì không thế”.

 Mùa xuân, cây lá tốt tươi, ước gì mỗi người khi chạm vào những mầm xanh lộc biếc đều quên hết những sân si thù hận, quên cả những thống khổ, phiền muộn, ưu tư của năm cũ đã qua.

NGỌC KHÁNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *