Mùa cướp vợ – Truyện ngắn của Nguyễn Thị Việt Nga

Vanvn- Cô giáo Vân khoác thêm cái áo, mở cửa, co ro bước ra. Đêm tối đặc quánh và mênh mông nuốt chửng thân hình mảnh mai của cô. Chút ánh sáng vàng vọt, yếu ớt của ngọn đèn dầu trên bàn gỗ như lùi dần, lùi dần trước bóng đêm thăm thẳm. Gió hun hút thốc vào căn phòng nhỏ. Ngọn đèn cũng run lên như sợ hãi.

Cô giáo Thúy vội vã lấy tập giáo án che gió cho ngọn đèn, hỏi lạc cả giọng:

– Chị đi đâu thế, chị Vân?

Tiếng trả lời của Vân cũng chìm nghỉm trong bóng đêm và tiếng gió u u đập vào vách đá, vào cành cây. Thúy nhào ra cửa, nhìn theo, nhưng chẳng thấy gì ngoài vệt sáng nho nhỏ hắt ra dưới dãy nhà của bọn học trò, cách căn phòng của hai cô giáo một khoảng đá lô xô. Thúy vội vã khép cửa, đoán Vân lại xuống dãy nhà của học trò để kiểm tra xem chúng ngủ nghê thế nào. Cánh cửa được ghép từ những mảnh gỗ đủ kích thước, nặng trình trịch nhưng vẫn đầy khe hở, không đủ để cản bước những con gió đói cứ lồng lộn cả ngày đêm. Ngồi co ro trên giường, trùm chăn đến tận đầu, Thúy vẫn rùng mình vì lạnh. Cái mền bông trải dưới giường cũng lạnh ngăn ngắt. Bếp lửa góc phòng đã rạc mà Thúy không dám thò chân xuống đất để ra tiếp thêm củi. Mùa đông đầu tiên cô có mặt ở vùng cao Hà Giang này. Cô giáo trẻ mới ra trường, lần đầu tiên đi dạy, lại được “nếm” ngay mùa đông cực Bắc với điểm trường nội trú dân nuôi cắm bản, xa đường lớn cả ngày đường. Bao nhiêu nước mắt đã lặng lẽ rơi trong những đêm đông dằng dặc, buốt giá. May còn có Vân bên cạnh, chứ nếu không, chắc Thúy đã bỏ trường, bỏ học trò, bỏ Hà Giang để về quê ngay từ hôm vừa chân ướt chân ráo lên nhìn đá núi đứng ngồi lổm ngổm…

– Chà chà.. Rét ghê gớm. Cóng hết cả tay chân rồi. Thế mà bọn trẻ còn chưa đi ngủ…

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga ở Hải Dương

Vân vào, bao nhiêu gió núi thừa cơ ào vào theo sau cái kẹt cửa buồn thảm. Thấy Thúy đang trùm chăn lù lù trên giường, cô bật cười:

– Sao không nằm xuống, lại ngồi thế kia?

Giọng Thúy sũng nước:

– Nhưng mà em rét lắm!

Vân đến bên bếp, tiếp thêm củi, ghé sát mặt xuống đất, phồng má thổi lửa. Phù phù như thế một lúc, lửa bén vào củi, bùng lên. Vân tranh thủ hơ tay trên bếp, giọng vẫn xuýt xoa vì lạnh:

– Em chưa quen, nên thấy lạnh quá đấy thôi. Năm đầu tiên lên đây, chị cũng thế, tưởng mình chết vì rét mất. Nhưng giờ thì quen rồi. Đã sống được tám mùa đông xứ này, thì phải sống tiếp được chứ, nhỉ?

Thúy rùng mình, lần này không phải vì lạnh:

– Tám năm rồi…

Cô nghĩ đến tám năm nữa của mình…

– Chị em con bé Giàng Seo Mẩy hôm nào cũng thức khuya. Lại tiết kiệm, không thắp đèn, cứ đọc sách bằng ánh lửa bếp. Cứ phải cô giáo xuống nhắc thì mới đi ngủ.

Vân lẩm bẩm xong, ngồi trầm tư bên bếp, hơ tay. Thúy tung chăn, lại chạy xuống ngồi cạnh Vân, cũng hơ tay.

– Hồi đầu tiên lên đây, chị có khóc không, chị Vân?

Vân ngẩng lên nhìn Thúy, thoáng một nét cười:

– Giá mà khóc xong thấy đỡ khổ hơn, thì chị cũng khóc đấy. Nhưng đằng này…

– Khiếp, sao chị gan cùng mình thế? Em… Em…

– Khóc nhiều chứ gì? Lúc nào cũng nước mắt nước mũi tèm lem, đến học trò cũng biết cô giáo khóc nữa là…

Thúy giật mình:

– Thật hả chị?

Vân cười:

– Chị đùa thôi. Lần đầu tiên xa nhà, lại vào nơi heo hút thế này, con gái, đứa nào chẳng khóc hàng tháng giời. Còn rét không? Có muốn chống rét theo cách của người Mông không?

Thúy lắc đầu. Cái cách chống rét của người Mông mà thi thoảng chị Vân áp dụng, đó chính là uống rượu. Gầm giường có can rượu ngô to tướng. Học trò mang cho cô giáo. Mùa đông vùng cao lạnh và dài. Chị Vân kể, có những đêm hun hút gió, đúng là phải uống vài ngụm rượu thì mới ngủ thiếp đi được. Ban đầu chị thấy buồn cười khi học trò mang rượu đến cho cô giáo. Không nhận, chúng nó cũng cứ để đó. Sau dần, chị thử uống một ngụm, thấy ấm người lên thật. Và quan trọng là cái cảm giác chuếnh choáng ấy khiến dễ ngủ hơn. Cho nên, những lúc quá lạnh thì phải uống một đôi ngụm. Có điều, từ hôm Thúy lên,  chưa thấy Vân uống lần nào. Chị bảo có hai người, ngủ ấm hơn, nên không cần đến rượu. Lúc không ngủ, cũng có người trò chuyện, vui hơn cái thuở chỉ có một mình. Nói là vui, chứ câu chuyện thủ thỉ nào cũng toàn nước mắt. Thúy cứ than nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ quê. Nhớ cả tụi bạn thời học phổ thông, thời sinh viên… Tất cả mới đây mà cứ như xa lắc. Cứ như Thúy đột ngột bị ném vào cõi nào khác. Buồn cười, ngày đầu tiên, khi Vân hướng dẫn Thúy muốn gọi được điện thoại di động thì phải đi nửa ngày đường, rồi trèo lên cái tảng đá cao ngất mới thấy lờ mờ hai cột sóng, Thúy đã suýt khóc thét lên. Không có điện, muốn nạp pin cho điện thoại cũng phải nhờ ở trụ sở xã, đi bộ rạc chân, hoặc vào tận đồn biên phòng. Ở đồn, các anh bộ đội có máy phát điện. Đường điện lên đây đang làm dở ở phía dưới kia, cách chừng gần ngày đường. Cả cột điện, cả đá làm đường đang ngổn ngang cả. Vân bảo chắc chỉ một năm nữa, là khu này có điện, đừng lo.

Đêm, ôm thân hình gầy khô của Vân mà Thúy cứ thao thức mãi, nước mắt len lén rơi xuống tấm chăn bông trải ra làm đệm. Ba mươi hai tuổi, tám năm dạy học vùng cao thiếu từ giọt nước thiếu đi, Vân vẫn chưa lập gia đình. Chắc cũng do duyên số oái oăm sao chứ, cách đây mười lăm quả núi điệp trùng nối nhau là  một chốt biên phòng, có đến chục anh trai trẻ. “Các anh ấy có vợ dưới xuôi hết cả rồi”, có lần Vân nén tiếng thở dài bảo vậy. Nhưng Thúy không tin. Phải có người chưa vợ như Thúy với Vân chưa chồng chứ! Nhưng chưa có dịp nào Thúy vào chơi được với bộ đội biên phòng, cho dù có vài anh đã ra đây chơi với “cô giáo mới” và mời hai chị em lúc rảnh ra đồn chơi. Vân đã “lên kế hoạch”, nhưng chưa đến ngày rảnh ấy. Còn bao nhiêu việc liên quan đến trường, đến lớp, đến học sinh. Nguyên chuyện về điểm trường trung tâm để “trình diện” mà mới đi một lần Thúy đã thấy sợ mất mật. Đôi chân chưa quen đạp trên đá sắc cứ sưng phồng, đau nhức từ xương nhức ra. Còn bao nhiêu điểm trường rải rác khác cần phải đi một vòng…

Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng

***

Sáng chủ nhật, Thúy háo hức xuống chợ phiên lắm mà Vân cứ đủng đỉnh như không, hết sửa lại cái đế giày vải lại mang mấy cái áo rét ra hong ở mấy mỏm đá phía đầu hồi. Bọn trẻ đã về nhà hết từ hôm qua, chiều nay chúng mới trở lại trường. Về nhà để mang gạo, mang bánh bột ngô, mang túm rau cải mèo đến trường, tự nấu nướng ăn trong vòng một tuần. Cũng có đứa chẳng có gì mang theo, hai cô giáo lại phải kêu gọi các bạn san sẻ đồ ăn, rồi cô bù thêm cho để học sinh có cái ăn, còn học nữa chứ. Lắm khi nhìn học trò mũi dãi tèm lem đang bặm môi, ngoẹo cổ tô từng nét chữ trong cái lạnh chết người nơi núi đá, Thúy nghĩ chắc không đâu những con chữ đến được với học trò lại vất vả, gian nan như ở nơi này. Giờ quen rồi còn đỡ, chứ hồi đầu Thúy khóc suốt. Tay lau nước mắt không xuể, lát lát lại phải chạy ra cửa lớp đứng, nhìn bốn bề đâu đâu cũng đá giăng thành, giăng lũy…

– Sao chưa đi, chị Vân?

Thúy sốt ruột hỏi đến lần thứ ba, Vân cười:

– Phải chờ mấy anh biên phòng mà!

– Chị không biết đường xuống chợ à? Thúy thắc mắc.

– Biết chứ! Tám năm ở đây rồi, chỗ nào chẳng biết! Nhưng mùa này đi chợ là phải đi với bộ đội biên phòng…

– Sao hả chị? Thúy hấp tấp hỏi

– Mùa này là … là mùa cướp vợ đấy!

Nhìn Thúy trợn tròn mắt, Vân thấy vừa buồn cười, vừa thương. Sợ Vân lo lắng nên cô chưa kể tường tận. Cứ đến mùa cướp vợ thế này, cô giáo chưa chồng đi chợ phiên phải đi cùng với bộ đội biên phòng, đề phòng trường hợp xấu xảy ra. Trai Mông cứ nhìn cô gái nào ưng mắt, là tổ chức cướp về làm vợ. Theo phong tục của người Mông, hễ cô gái bị cướp về, nhốt ở nhà trai một đêm , là nghiễm nhiên đã trở thành vợ của chàng trai ấy. Năm kia, ở điểm trường bên Sủng Là có cô giáo trẻ bị cướp về làm vợ của chính học trò mình. Chuyện ầm lên, phải cả chính quyền vào cuộc mãi mới giải thoát được cho cô giáo. Sau lần ấy, cô giáo về xuôi mất tăm…

– Ôi giời ơi! Thế thì thôi, em không đi chợ nữa đâu…

Nghe Thúy kêu giời, Vân bật cười thành tiếng :

– Không đến nỗi phải thế đâu ! Đi cùng mấy anh biên phòng là an toàn rồi. Với lại, trai bản ở đây thường chỉ thích lấy vợ Mông thôi, chứ bọn mình không nằm trong danh sách đâu. Họ bảo cô giáo chỉ biết chữ chứ không biết trồng ngô, cướp về lại phải nuôi như nuôi lợn thì mệt lắm !

Nghe Vân pha trò mà mặt Thúy nhăn lại như sắp khóc đến nơi. Bao nhiêu háo hức đi chợ phiên bay biến sạch, chỉ còn lại nỗi lo lắng, căng thẳng. Sẽ ra sao nếu như mình bị cướp, bị nhốt vào trong một cái buồng tối âm u, tường trình đất, lợp mái ngói âm dương, nép sau bờ rào đá, làm vợ của một anh chàng người Mông nào đó ? Nhưng nhìn Vân đang thản nhiên ngồi cặm cụi lau chùi quả địa cầu đồ dùng học tập, Thúy lại thấy yên yên dạ hơn. Chẳng gì Vân cũng trụ được nơi này gần chục năm rồi. Với nhiều gia đình ở đây, Vân đã trở thành người trong nhà. Sống cạnh Vân, chắc chắn Thúy sẽ bớt đi được rất nhiều mối lo.

Cầu được, ước thấy ! Cứ mải thắc mắc về tục cướp vợ của người Mông nơi đây, tàn phiên chợ hôm ấy, lần đầu tiên trong đời Thúy được thấy cảnh cướp vợ. Thấy nó xảy ra ngay trước mắt mình, chứ không phải qua sách báo, phim ảnh gì. Thúy với Vân đang lễ mễ xách những túm rau cải mèo to tướng, đi đằng sau một tốp ba cô bé vừa che ô vừa nói cười ríu rít. Nếp váy xòe hoa văn xanh đỏ sặc sỡ nhún nhảy theo từng bước chân. Thúy chưa biết tiếng Mông nên không hiểu các cô bé nói gì, chỉ thấy liếc sang Vân cũng cười tủm tỉm. Chưa kịp hỏi xem các cô bé chuyện trò gì thì có tiếng kêu thất thanh. Bốn, năm anh chàng áo chàm đậm như nhau quây quanh nhóm mấy cô bé. Chỉ loáng cái đã thấy một cô bị một anh chàng vác lên vai, với sự hậu thuẫn của những người còn lại, chạy biến xuống con dốc nhỏ ngoằn ngoèo. Vân và Thúy sững lại. Mấy cô bé cũng sững lại, nhìn theo, chỉ trỏ xôn xao. Tim Thúy đập thình thịch. Sợ hãi. Bất ngờ. Xung quanh vẫn còn những người vừa từ chợ trở về, bình thản trước cảnh ấy như không.

– Sao.. sao.. không ai… cứu, hả chị ?

Nghe Thúy hổn hển hỏi, Vân buồn buồn :

– Phong tục của họ mà em. Đây là chuyện thường ngày. Có điều, bọn trẻ còn quá nhỏ, chưa trưởng thành đã bị cướp về làm vợ, làm dâu. Nhiều đứa đang đến trường, cũng phải bỏ học. Làm vợ, làm dâu, sinh con sớm… Rồi lại một vòng quay đói nghèo, khổ ải… Vận động mãi rồi, nhưng cũng chưa nhiều nhà nghe ra. Thiếu người làm, họ vẫn thích con trai mình cướp vợ sớm. Không có ăn, họ vẫn thích con gái sớm đi làm dâu nhà khác, bớt được một miệng ăn.

Thúy lại quay đi, gạt nước mắt. Chỉ thấy nhập nhòa một trời đá đứng, đá ngồi lô nhô.

***

Đi bộ từ sáng đến xế chiều, Vân và Thúy mới đến được trạm xá trung tâm xã, nằm ngay cạnh đồn biên phòng. Con bé Giàng Seo Phử đã qua cơn nguy kịch nhưng vẫn còn yếu ớt, nằm thở thoi thóp trên giường. Vừa thấy hai cô giáo, nó ngóc đầu toan nhỏm dậy, nhưng Vân đã xua tay :

– Nằm im, nằm im đấy, không được ngồi dậy đâu ! Cô giáo đến thăm, có cả quà nữa này !

Thúy đặt cân đường, hộp sữa đặc lên đầu giường con bé. Đường sữa này cũng là của mấy anh biên phòng mang sang. Mười bốn tuổi, Giàng Seo Phử xinh nhất lớp 5 của Vân, và cũng học khá nhất. Sang năm, con bé sẽ được ra học ngoài trường huyện. Nó đang háo hức vì điều ấy. Nó tâm sự : em thích đi học nhiều nhiều. Em thích được học, được đi thật nhiều nơi, làm thật nhiều  việc, chứ không thích ở nhà đi nương trồng ngô, đi lấy cỏ voi cho bò. Tuần vừa rồi không thấy con bé đến lớp, Vân đã lo cuống. Cô bảo Thúy : chắc nó bị cướp làm vợ rồi, vì chưa bao giờ con bé nghỉ học. Trời mưa gió nó cũng đội mưa gió để đi. Có hôm bị sốt nó cũng cố gắng đến lớp bằng được. Nghỉ học bất thường thế này, trăm phần trăm nó bị cướp làm vợ mất rồi… Hai cô giáo lần mò tìm đến tận nhà Giàng Seo Phử, mới hay con bé bị cướp thật. Trong lúc vùng vẫy chống lại cái kẻ cướp mình về làm vợ, Giàng Seo Phử quơ tay, nắm chặt những lùm cây dại ven đường mòn. Nhưng sức nó làm sao lại được sức mấy đứa thanh niên trai tráng…. Bị nhốt trong buồng nhà « chồng », Giàng Seo Phử xòe tay. Trong lòng hai bàn tay tướp máu còn sót lại mấy cái lá xanh xanh. Lá ngón ! Khóc gào đập cửa đến khản hơi đòi về đi học, không được mở cửa cho ra, con bé cuộn những chiếc lá ngón, cho vào miệng nhai, cố tình để lại một lá trong lòng tay. Thấy Giàng Seo Phử im im, « chồng » nó mới mở cửa vào xem, hốt hoảng khi thấy con bé lả đi như cái xác, trong tay còn chiếc lá ngón rách tướp. Mẹ của thằng « chồng » là người cứu Giàng Seo Phử. Bà vào buồng, lấy thứ bột gì đó đen đen, hòa thành nước, đổ vào miệng con bé, để nó nôn ra. Chưa cúng ma mà đã suýt thành ma, nhà chồng nó trả nó về, vì sợ nó sẽ mang xui xẻo đến cho cả dòng họ nhà mình. Cũng may là Giàng Seo Phử được đưa đi trạm xá kịp thời. Số lá ngón nó nuốt, chưa đủ để giết nó ngay…

– Sao em lại ăn lá ngón ? Chết người đấy ! May mà được cấp cứu kịp…

Giàng Seo Phử nắm tay cô giáo Vân :

– Em biết ăn sẽ chết, nhưng ăn ít thì không chết ngay được. Em phải đi học, em không muốn lấy chồng. Em thích học nhiều cái chữ nữa mà, học nhiều nhiều như cô giáo…

Vân ứa nước mắt.

– Em sẽ ở lại trường luôn, em không về nhà nữa. Em biết trồng ngô đấy ! Em trồng ngô quanh trường, cô giáo nhé ! Em ở lại trường để học, không về nhà nữa, thì sẽ không bị cướp nữa !

Lại đến lượt Thúy ứa nước mắt. Cô đã hiểu vì sao Vân gắn bó được với vùng cao này ngần ấy năm đằng đẵng. Bốn bề vẫn một trời đá đứng, đá ngồi lô nhô, nhưng Thúy thấy bớt xa lạ, thấy ấm áp hơn nhiều lắm.

NGUYỄN THỊ VIỆT NGA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *