Một vấn đề rất khẩn thiết: văn học nhi đồng

Vanvn- “Ai lại chẳng biết nhi đồng ngày nay tức là quốc dân ngày sau, chúng ta đã lao tâm vận động về văn hóa mà nếu chẳng lo cho nhi đồng thì có khác nào như xây đắp lâu đài trên bãi cát, kết quả e cũng đến toi công vô ích mà thôi”. Nhà văn Bùi Thế Mỹ đã viết trên tờ Công Luận ở Sài Gòn, số Tết năm Giáp Tuất 1934. Những vấn đề ông đặt ra về văn học thiếu nhi đến nay vẫn thời sự, Vanvn.vn trân trọng giới thiệu lại nguyên văn bài viết như một tư liệu tham khảo.

Một vấn đề rất khẩn thiết: văn học nhi đồng

 

Sự trọng yếu của Văn học nhi đồng. Nước ta đã có Văn học nhi đồng chưa? Quan niệm chúng ta phải có trong việc kiến thiết Văn học nhi đồng

***

Muốn cải tạo xã hội của loài người cho tận gốc, thì ắt phải cải tạo con người ta cho tận gốc. Mà muốn cải tạo người ta tận gốc, thì ắt phải lo mà giáo dục cho nhi đồng về “tâm tình” và “cái đẹp”.

Một cái lẽ mà ai cũng có thể hiểu đặng, là ở xứ nào đời nào cũng vậy, phải có những cá nhân ưu mỹ, thuần khiết mà sau mới có đặng cái xã hội thuần khiết ưu mỹ. Bởi lẽ đó, nên theo như thiển kiến của tôi, thì cái nền móng của công việc cải tạo, chúng ta cần phải đặt ở trên đám đất văn nghệ, nghệ thuật thì nó mới đứng vững.

Tôi nói thật đấy chớ chẳng phải có ý khoe khoang múa bút để mà lòe bịp ai đâu!

Học giả thiếu chi người biết hơn tôi rằng phạm vi của nghệ thuật vẫn man mác bao la, một bài báo như bài báo nầy không phải là chỗ cho tôi đem mà bàn hết đặng. Tôi chỉ xin nói một lời, là nghệ thuật đối với nhơn tánh có cái sức hun đúc lớn lao mạnh mẽ như thế nào, từ xưa đến giờ, vẫn có định luận rõ ràng, chẳng cần chi tôi phải bào chuốt thêm nữa.

Về văn học, cận lai tuy có nổi lên cuộc tranh luận về chủ nghĩa “công lợi” và chủ nghĩa “duy mỹ” – ấy tức là cái vấn đề “nghệ thuật vị xã hội” và “nghệ thuật vị nghệ thuật” đó; song theo tôi thì sở dĩ có cuộc tranh luận ấy, chẳng qua vì chỗ lập ước khác nhau mà ra. Chớ cái bản thân của văn học vốn có sẵn tánh chất công lợi ở trỏng rồi, ví dụ như có nhiều cuốn sách vẫn trái với xã hội (antisocial) hay chán đời (misanthropique), thế mà về việc cải cách xã hội hay nâng cao tánh cách của người đời thì nó lại có hiệu quả to lớn phi thường lắm.

Vậy ta có thể cứ theo hiệu quả mà bảo những sách đó là “nghệ thuật vị xã hội” chăng?

Lại về một phương diện khác, nếu như nhà làm sách trong khi trứ tác chỉ bo bo lấy mục đích công lợi, thì e cũng vì sự câu nệ ấy mà tác phẩm của mình sẽ nông nổi thật thà, chớ không đủ sức cảm động người ta một cách sâu xa thấm thía đặng; mà đã thế thì gọi là “nghệ thuật” còn chưa đáng nữa, chớ đừng nói là “vị xã hội” hay không “vị xã hội” làm chi!

Tóm lại, tôi muốn rằng, về bên người viết sách, trong khi viết, thì nên nắm giữ lấy chủ nghĩa duy mỹ, mà bên người xem sách, trong khi xem, nên nắm giữ lấy cái chủ nghĩa công lợi, thiết tưởng rốt lại chỉ có sự chủ trương ấy là hợp lý hơn hết.

Đối với nhơn tánh, văn học vốn có cái sức hun đúc mạnh mẽ lớn lao như thế, mà văn học nhi đồng, trong chỗ không hay không biết, lại càng có cái năng lực mở mang lương tri lương năng mà dìu dắt cho nhi đồng đi vào cõi thuần mỹ nhiều lắm.

Bởi vậy, tôi dám nói quả quyết rằng, trong một xã hội hủ bại đến nơi như xã hội Việt Nam ta ngày nay, hết thảy những phần tử gọi là có học thức trong quốc dân, xét ra đều tuyệt nhiên chẳng có cái năng lực sáng tạo, thì văn học nhi đồng chẳng những là một vấn đề khẩn thiết như tôi đã nêu lên trên kia, mà ta có thể nói là một phương thuốc khởi từ hơi xuân, không riêng gì các nhà giữ trách nhiệm dạy dỗ nhi đồng nên lưu ý, mà nhứt thiết những nhà vận động về văn hóa ai ai cũng nên để dành sẵn cho nó một chỗ ở trong lòng.

Ai lại chẳng biết nhi dồng ngày nay tức là quốc dân ngày sau, chúng ta đã lao tâm vận động về văn hóa mà nếu chẳng lo cho nhi đồng thì có khác nào như xây đắp lâu đài trên bãi cát, kết quả e cũng đến toi công vô ích mà thôi.

Văn học nhi đồng vẫn trọng yếu như thế, mà nay thử hỏi ở xứ ta, về văn học nhi đồng, xét lại có gì đáng kể hay không? Xin thú nhận rằng tôi là người ít hay tin cậy nơi sự nghe thấy của mình; song về vấn đề nầy, tôi dám bằng nơi sự nghe thấy mà đáp rằng, xứ ta tuyệt nhiên chưa có văn học nhi đồng chi hết!

Trước hết, thử coi trong những đồng diêu đồng thoại cũ của ta có được những gì? Tôi tưởng trừ ra năm ba câu hát ru em nghe được – nên hiểu nghĩa là “vô tội” thế thôi, – còn lại tinh là những câu hát câu vè bá vơ bá láp, như “Vỗ tay! Vỗ tay! Bà cho ăn bánh, bà vác đòn gánh bà đánh trên đầu”, chỉ làm ngu cái óc con nít đó thôi, chớ tôi chẳng thấy ích lợi chỗ nào hết. Nhiều khi lại còn sử cho con nít làm bậy nữa là khác. Tôi nhớ hồi nhỏ có nghe những câu đồng thoại như vầy thì phải:

Hề hà! Hề hà!

Cóc ở trong nhà

 hóc thách bò ra

Kiếm ruồi táp nhởi

Chẳng ngờ vì bởi

Con nít nên ba

Dùi lại nó pha

Roi lại nó đánh, v.v.

Nghĩ đáng quái chưa? Cóc, tuy bộ tướng nó xấu xí mặc dầu, xong theo khoa học thì nó là con vật rất hiền lành và có ích. Trong sách ấu học của Tây vẫn thường thấy những bài khuyên học trò biết thương cóc; thế mà ở xứ mình, thì người lớn lại xúi cho trẻ con vác roi vác dùi mà “kiện” cóc! Ôi, vô ý thức đến thế là cùng!

Đến đây, hoặc có người sẽ nhắc tôi rằng: Vậy chớ còn những bài thơ giáo huấn, huấn mông của các cụ nhà ta khi trước, há chẳng phải là văn học nhi đồng chớ gì?

– À, trong vài ba bài “gia huấn” của ta khi xưa, ví dụ như của cụ Nguyễn Trãi đó, nếu rộng lượng mà xét, thì cũng có năm ba câu khả thủ; nhưng tôi phải nói trắng rằng, những đồ đó nó ít quá đi, đến nỗi tôi đã suýt quên mất, nếu không ai nhắc giùm. Giá văn học nhi đồng của ta mà chỉ bấy nhiêu đó, thì còn mong gì nó có ảnh hưởng lớn lao đến cuộc cải tạo xã hội như trên kia tôi đã nói.

Bây giờ lại xét đến những tác phẩm của các thi nhơn có tên tuổi trong vãng lai ta gần đây (tôi chỉ nói “thi nhơn” vì một phần lớn công việc văn học nhi đồng là cậy nơi thi nhơn), như trong mấy tập thơ của Tản Đà, của Á Nam, thì tôi đố thắp đuốc mà kiếm cũng chẳng ra những bài thơ có tánh chất nhi đồng!

Ở đây ngòi bút vô tư của tôi phải dừng lại mà điểm “một điểm khen ngợi” cho một tập thơ quốc văn mới xuất bản hồi dịp tết năm ngoái. Sách ra tết năm ngoái mà mãi đến tết năm nay tôi mới khen ngợi, thì có lẽ ít ai nghĩ là tôi muốn làm quảng cáo cho Đông Hồ.

Tôi vừa mới cho các ngài biết một lần cả cái tên của tác giả lẫn cái tên của tập thơ đó. Tập Thơ Đông Hồ, về phương diện “thơ” tôi không dám nói nó hay bằng thơ Tản Đà, thơ Á Nam, song tôi phải khen một điều nầy, là ông Đông Hồ là nhà thi sĩ đã nhớ tới cái văn học nhi đồng. Mà được vậy, có lẽ nhờ ông là một “thi sĩ-giáo học” – hay “giáo học-thi sĩ cũng được, – phải chăng? Bởi vì tôi tưởng, duy các ông thầy giáo là những người hằng ngày được trông thấy rõ cái khổ thiếu thốn văn học nhi đồng xứ ta.

Trong tập thơ nói đây, có để riêng một mục gọi là “bài hát học trò”, tuy không được nhiều mấy, song kể cũng đáng khen. Tôi xin trích lục ra đây một bài để làm chứng cho những lời của tôi vừa mới phát biểu.

 BÀI HÁT TẾT

Thời gian thấm thoát

 Một năm lại bắt đầu xuân

 Gì vui hơn Tết

 Gì đẹp hơn xuân

 Trăm hoa tươi tốt

 Muôn cửa vui mừng

 Áo xiêm phấp phới

 Nô nức xa gần

 Vui chơi lại phải lo dần

 Nửa phần vui Tết nửa phần lo xuân

 Một năm xuân được mấy lần

 Vui xuân vui một, lo xuân lo mười

 Tết không quanh lại

Xuân có chờ ai?

 Ngày xuân đâu dễ còn dài

 Anh em ta chớ để hoài tuổi xuân

Thì:

 Ngày đêm giòng giã

 Học tập ân cần

 Làm sao được

 Vẻ vang nhà họ

 Vui đẹp hương lân

 Đã sanh ra ở cõi trần

 Công danh phải liệu, nợ nần phải toan

 Xuân xanh mấy lúc xuân tàn

 Ngày xuân một khắc, nghìn vàng khôn cân

 Chơi xuân nên biết lòng xuân

(Thơ Đông Hồ, trương 89)

Đánh cho rác ra, thì bài thơ trên đó, chẳng qua cũng tạm cho là văn học nhi đồng vậy thôi, chớ theo tôi thì chưa được đúng với cái tên ấy.

Bởi vậy, trước khi gác bút, tôi lại muốn nói thêm một đôi điều thiển cận về cái quan niệm mà chúng ta cần phải có trong việc xây dựng nền văn học nhi đồng.

Văn học nhi đồng cố nhiên rằng có ngụ ý dạy dỗ ở trong, nhưng phải dạy sao cho kín đáo nhẹ nhàng chớ chẳng phải dạy chăm bẵm và cứ nhai đi nhai lại những “gái thì phải nầy, trai thì phải khác” như cái kiểu thường thấy trong mấy bài “gia huấn” cũ của ta.

Văn học nhi đồng không phải là thứ văn cựa sáo hay thô tục.

Sau lại, văn học nhi đồng không phải thứ văn yêu quái để nói những chuyên nhảm nhí về ma quỷ và thánh thần.

Chúng ta cần gột rửa cho sạch nhứt thiết những quan niệm sai quấy như vừa mới kể trên đặng mà tìm lấy cái bản chất của văn học nhi đồng, nhiên hậu mới có thể nói chuyện kiến thiết thứ văn học ấy.

Văn học nhi đồng, vô luận là muốn làm theo thứ hình thức nào, hoặc đồng thoại, đồng diêu, ngụ ngôn hay kịch khúc, luôn luôn cũng phải dùng thứ văn mà trong đó nhi đồng là bản vị. Văn học nhi đồng rất trọng về cảm tình và tưởng tượng, nên đại để tánh chất nó cũng giống với thơ; khác nhau chỉ bởi chỗ lấy tâm lý nhi đồng làm chủ thể và lấy trí lực nhi đồng làm chuẩn thằng mà thôi.

Một nhà nhi đồng văn học đúng đắn đồng thời cũng là một thi nhơn đúng đắn; song bọn thi nhơn thì lại không hẳn người nào cũng đều có thể làm văn học nhi đồng cả đâu. Đứng về phương diện sáng tạo mà nói thì tất phải là người hiểu rõ tâm lý nhi đồng, hay là người lớn mà trong lòng còn chưa mất hẳn những tình cảm lúc trẻ thơ, rồi khi viết văn lại phải tỷ như tự mình hóa làm trẻ em, đặng tỏ bày tâm tình và tưởng tượng ra một cách tự do mới được.

Đứng về phương diện ảnh hưởng mà nói, thì tất phải làm thế nào mà khi xem sách, trẻ con cảm biết những tư tưởng trong sách một cách rất dễ dàng, chẳng khác nào tự đâu trong tâm khảm của chúng nghĩ ra, rồi chúng nó hồn nhiên bắt theo tư tưởng kia mà không hay không biết chi hết; được thế mới đáng gọi là những sách nhi đồng tuyệt hay vậy.

Nhiều người hiểu tâm lý nhi đồng mà không biết dùng thứ văn tự nhi đồng để bày tỏ ra; nhiều người khác lại dùng văn tự nhi đồng để bày tỏ tâm lý của kẻ lớn; cả hai hạng văn sĩ ấy đều không thể làm nhà văn học nhi đồng, vì không thể đạt được cái hiệu quả “hồn hóa” như tôi mới nói trên.

Con nít và người lớn vẫn khác nhau rất xa ở những trạng thái về sanh lý và tâm lý. Thân thể của con nít quyết chẳng phải là cái hình rút nhỏ của thân thể người lớn, cũng như tâm lý của người lớn quyết chẳng phải là cái ảnh phóng đại của tâm lý con nít. Bởi đó, muốn nghiên cứu văn học nhi đồng, cũng như các nhà hội họa, điêu khắc, nếu muốn cho tinh nghề, ắt đều phải có nghiên cứu về khoa học giải phẫu.

Thuở trước bên Âu Châu những người làm thợ vẽ chưa biết khoa học giải phẫu là gì nên những bức tượng xưa về đức chúa Jesus khi còn bé thì ta thấy đều là hình của người lớn mà rút nhỏ lại cả!

Trong khi hết sức khuyến lệ các văn gia ta lưu tâm về văn học nhi đồng, tôi cũng hết sức mong mỏi cho các nhà nhi đồng văn học của ta ở tương lai sẽ không đến như bọn thợ đã vẽ đức Jesus ngày xưa đó.

BÙI THẾ MỸ

Theo Công luận, SG, số Tết năm Giáp Tuất 1934

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.