Một đóng góp của Xuân Diệu vào nền thơ dân tộc

 (Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022)

Vanvn- Mộc mạc hay óng chuốt là chiều khẩu vị của từng thời nhưng nội lực khám phá trong hai dạng cảm thụ này có chung một nguồn là tạng cảm xúc trữ tình cá thể của Xuân Diệu đã hòa trộn từ gốc với chiêm nghiệm văn hóa dân tộc. Nghiêng về phía trước (trữ tình) thì thành kỳ ảo. Nghiêng về phía sau (chiêm nghiệm) thì đậm vị trần gian…

Nhà thơ Xuân Diệu (1916-1985)

 

>> Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Trường thơ Loạn

>> Nhà thơ Phạm Hầu: “Vẫy ngoài vô tận”

>> Huy Cận lấp lánh Lửa thiêng sáng tạo

>> Đinh Hùng: Cúi mặt u huyền khép áo xuân

>> Lưu Trọng Lư với tình yêu và mộng đẹp

>> Bích Khê: Tài thơ độc đáo

>> Nhà thơ Thế Lữ – một tài năng muôn mặt

>> Trường thơ Loạn Quy Nhơn từ góc nhìn địa văn hóa

>> Âm vang hồn thơ Hồ Dzếnh!

 

Cách mạng Tháng Tám – 1945 thành công, Xuân Diệu mới vào tuổi ba mươi, nhưng ông đã nổi tiếng với hai tập thơ Thơ thơGửi hương cho gió. Chúng ta biết phong trào Thơ mới khai sinh nền thơ hiện đại khẳng định thắng lợi bằng tập Mấy vần thơ (xuất bản lần đầu năm 1935) của Thế Lữ. Nhưng khi Xuân Diệu xuất hiện với tập Thơ thơ (1939), do chính Thế Lữ giới thiệu, thì phong trào Thơ mới mới chiếm thế thượng phong và Xuân Diệu trở thành nhà thơ có ảnh hưởng nhất thời kỳ ấy. Lứa trước nhìn ra tài năng của lứa sau và lứa sau trân trọng thành tựu của lứa trước trên một thi đàn đang cách tân biến động chưa từng có quả là một dấu son tươi thắm trong tiến trình văn chương nước ta.

Xuân Diệu đã mang thêm gì cho nền thơ Việt hồi ấy?

Tôi xin phép không nhắc lại những điều đã được nói mà muốn tìm trong thi pháp ông một đóng góp “mác” Xuân Diệu vào nền thơ dân tộc. Ấy là đóng góp một không gian, một thế giới Xuân Diệu. Các cụ cổ điển không có khuynh hướng tạo không gian đặc thù. Sâu sắc, thâm trầm, khái quát… nhưng không gian thơ vẫn là không gian thực, không gian chung của cõi người. Thế Lữ và đôi lúc Tản Đà, vươn tới phi thực bằng cách bay lên tiên. Tiên thì lãng mạn quá rồi nhưng mất dấu mặt đất nó thiếu chất diệp lục của sự sống, của nắng trời. Ôm cô tiên đẹp thì khác gì ôm bức tượng cẩm thạch. Xuân Diệu ôm “cô” trần gian bằng tất cả cảm xúc trần gian của chính ông hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi. Lãng mạn Thế Lữ là lãng mạn tiên cảnh kiêng khem và vô trùng. Lãng mạn Xuân Diệu nồng ấm da thịt trần gian đa sự, giàu sức sống. Xuân Diệu bám lấy trần gian rồi kỳ ảo hóa nó, tạo nên một trần gian kỳ ảo. Kỳ ảo mà đậm vị trần gian. Thơ Việt Nam trước Xuân Diệu chưa có không gian ấy. Cảm được trời xanh đang đổ mầu ngọc bích của mây chiều xuống muôn lá là thần tiên hóa buổi chiều của mặt đất nơi ta hằng sống.

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.

Nhưng ngay đó, vẫn kỳ ảo nhưng sực nức hương và vị mặt đất:

Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang, nắng trở chiều

Rồi:

Mây biếc về đâu bay gấp gấp

Con cò trên ruộng cánh phân vân

Chim nghe trời rộng giang thêm cánh

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.

Các chi tiết ấy là chất thực của đời, nhưng tạo nên mối liên hệ rất kỳ ảo giữa các chi tiết ấy là do chất xúc tác của tâm hồn Xuân Diệu. Con đường nhỏ nhỏ nên ngọn gió phải xiêu xiêu cho hợp con đường ấy. Mây bay gấp làm cánh cò hóa phân vân. Trời rộng làm chim phải giang rộng cánh để chở che, để lấp đầy. Trời rộng nên hoa lạnh. Hoa lạnh nên chiều thành thưa vắng, chiều làm động lòng cho sương xuống mau. Tạo vật bù trì nhau mà cộng hưởng với hồn người. Hồn người thì cảm giác hóa, tri giác hóa tạo vật.

Ngẩng đầu thi sĩ chưa xong nhớ

Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya.

Trong cặp câu thơ này Xuân Diệu lắng nghe mối giao cảm giữa người với trời với nhịp đi của không gian hương và thời gian đêm. Nhà thơ Beaudelaire phát minh ra mối tương quan của mùi hương, mầu sắc và âm thanh (les parfums, les couleurs et les sons se répondent), Xuân Diệu thì thấy tất cả trong vũ trụ này đều tương hợp. Hương thì thơm rồi và đêm thì đã khuya nghĩa là đã có quá trình mà thi sĩ vẫn chưa xong nhớ. Cơn nhớ trời cao hay cơn lắng nghe lòng mình vẫn chưa hoàn thành.

Những mối tương quan tạo vật được nhận ra bằng cảm giác, bằng tâm linh. Nó vô chứng cớ nhưng nghe ra có lý và nhất là có tình. Nó là đặc trưng Xuân Diệu, cái ăng-ten tâm hồn ông tỏa ra tám hướng, bắt nhiều cung bậc tần số và hòa trộn chúng tức thời tạo thành một chỉnh thể đan cài vật chất với tâm linh, hư ảo hư vô mà thấm thía tình nghĩa cuộc đời mặt đất…

Không gian Xuân Diệu còn là không gian của khoảnh khắc. Ông dùng thơ vĩnh cửu hóa khoảnh khắc đó lại. Vĩnh cửu trong sự sống chứ không phải làm nó hóa thạch. Thơ Xuân Diệu không chụp ảnh. Mà là quay phim. Nó là không gian bốn chiều, có chiều của thời gian Vườn rau hoa cải tưng bừng/ Đang bay, dừng lại nửa chừng, lại bay… Nếu chỉ tả vườn rau với hoa cải bay, thì có đủ hai chi tiết đấy nhưng không thấy quỹ đạo hoa bay thì không ra không gian Xuân Diệu. Nó bẹp lại, bất động như tấm ảnh.

Xuân Diệu có hơn nửa thế kỷ sáng tạo thơ. Từ Cách mạng Tháng Tám – 1945, càng về sau ông càng gắn thơ vào công việc cụ thể của đời sống, ông có mặt ở những mảng đề tài cần được cổ vũ biểu dương. Thơ có đích nhân sinh để vươn tới, vươn tới bằng cảm hứng, cố nhiên, nhưng cũng bằng cả ý thức công dân. Đó là sự dấn thân đáng quý của người cầm bút đã tự nguyện tập hợp dưới cờ cách mạng. Nhưng thành tựu của tác phẩm lại không hoàn toàn đồng hành với tâm nguyện ấy. Không gian thơ Xuân Diệu, thế giới đời thực được kỳ ảo hóa, nổi trội nhất có lẽ ở tập thơ đầu Thơ thơ (1939), còn sau đó ông thâm nhập sâu hơn vào việc đời, chuyện đời và chủ trương chân chân thật thật. Thế giới tạo vật trong thơ Xuân Diệu khác đi nhiều. Thành công của ông không ở phía kỳ ảo hóa cuộc đời mặt đất nữa mà lại trội hơn ở những phát hiện sâu nặng về đời và sức cảm nhận tinh tế. Nó là một hướng biến hóa của năng lực Xuân Diệu. Nó không lạ hóa để thành huyền diệu. Nó để mộc, diễn tả giản dị, có phần ngây thơ nữa, nhưng nó lắng nghe vào cốt lõi của cảm xúc để phát hiện ra phần tinh túy của đời sống, thấm đẫm tình yêu đất đai xứ sở.

Tôi nghĩ Xuân Diệu sau này dùng một thao tác ngược với thời trẻ: ông trần gian những cảm nhận kỳ diệu, từ tình yêu sâu nặng của mình với cuộc đời. Ấy là bài thơ Đêm ở Thái Bình, giữa những câu miêu tả cảnh quê chính xác bằng mắt nhìn, bằng tai nghe, ân cần chăm chỉ bỗng lạc vào một cảm nhận có tính phát hiện:

Nhất là chó sủa văng vẳng hay hay

Nói xóm làng, nói nhà cửa đêm nay

Thấy chó sủa là hay hay thì đúng là phát hiện của ông khách tỉnh về quê, cái gì cũng lạ. Nhưng đến câu sau, nhận ra cái tiếng chó sủa trong đêm quê ấy nó nói hồn vía của xóm làng, của nhà cửa đêm nay, thì cảm nhận của nhà thơ tài tình quá, ông cho người đọc nhận biết một cảm giác sâu nặng về hồn quê. Tôi thú thực sau khi đọc câu thơ này, tôi thấy tiếng chó sủa ở đêm quê hoàn toàn khác trước.

Nghe chó sủa mà hình dung ra làng mạc bao đời, mà thương nhớ xa xưa. Kỳ ảo hóa mặt đất trước kia hay trần gian hóa cảm xúc bây giờ, cả hai bổ sung cho nhau và cùng nâng hiện thực lên cao hơn chính nó. Khi ông nghe tiếng đàn kỳ ảo thuở nào:

Đàn ghê như nước lạnh trời ơi…

Long lanh tiếng sỏi, vang vang hận

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

Mấy câu thơ này quả có óng ả hơn Đêm ở Thái Bình. Mộc mạc hay óng chuốt là chiều khẩu vị của từng thời nhưng nội lực khám phá trong hai dạng cảm thụ này có chung một nguồn là tạng cảm xúc trữ tình cá thể của Xuân Diệu đã hòa trộn từ gốc với chiêm nghiệm văn hóa dân tộc. Nghiêng về phía trước (trữ tình) thì thành kỳ ảo. Nghiêng về phía sau (chiêm nghiệm) thì đậm vị trần gian. Còn gì nữa. Còn nhiều. Nhưng đại cương chỉ trong hai vòng ấy. Có chăng, cần kể thêm một thứ trời cho, ấy là cái ánh sáng tinh khôi rọi lên trong không gian Xuân Diệu, làm cho cảnh sắc và con người có vẻ khác biệt, sáng hơn, sống hơn, ấn tượng hơn với không gian thực ở ngoài đời.

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.