Quang Chiến – một dịch giả vừa có tầm vừa có tâm

Vanvn- Quang Chiến là người không chỉ có tầm mà còn có tâm nữa. Ông tâm sự: “Trên thế giới này, tôi chưa từng thấy một nhà thơ nào yêu Việt Nam, quan tâm đến Việt Nam, hết lòng vì Việt Nam như nhà thơ Áo Erich Fried, cho dù ông chưa một lần đến Việt Nam và đã mất vào năm 1988”. Ông phàn nàn: “Vậy mà cho đến lúc qua đời, ở Việt Nam chưa có một tập thơ nào của Erich Fried được xuất bản và hầu như chưa có ai biết đến thơ viết về Việt Nam của Erich Fried!”…

Dịch giả – nhà thơ Quang Chiến (1941 – 2021)

>> Nhớ lại lần đầu gặp Quang Chiến

1. Không phải ngẫu nhiên mà Bertolt Brecht – nhà thơ lớn người Đức, cách nay đã 65 năm lại cho rằng thơ mình là một mãnh sư. Thế nên, trong bài thơ “Về con sư tử bằng gốc chè Trung Hoa”, ông đã viết: “Những kẻ xấu sợ nanh vuốt ngươi/ Những người tốt yêu dáng ngươi đẹp đẽ/ Về thơ tôi/ Tôi cũng muốn nghe/ Những lời như thế”. Đó là những câu thơ rất đặc trưng phong cách Bertolt Brecht. Có lẽ, cũng từ cái gốc gác này mà nhiều nhà lý luận, phê bình của thế giới đã coi Bertolt Brecht là “Con sư tử trong thi ca“.

Tất nhiên, Bertolt Brecht không chỉ có “Về con sư tử bằng gốc chè Trung Hoa” mà ông còn nhiều bài thơ thuộc diện tuyệt tác khác. Về độ khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh, không ai có thể viết hay hơn ông: “Đêm nay những lứa đôi gặp gỡ/ Ngày mai cho ra đời những đứa trẻ mồ côi” (Đêm đến). Viết về người ác, khó ai có thể viết thay ông: “Làm người ác khó nhọc vô cùng” (Mặt nạ kẻ ác). Và ông lớn đến mức khó tưởng tượng nổi khi bật ra những câu thơ: “Khi mọi lỗi lầm đều tiêu tan hết/ Người bạn sau cùng/ Ngồi đối mặt với chúng ta/ Là Hư Vô” (Tặng người sinh sau).

Với tôi, thơ Bertolt Brecht luôn là một thứ ánh sáng chói chang và là những “vết chém” nghệ thuật hằn sẹo trong trí nhớ.

Vì yêu thơ Bertolt Brecht và yêu Bertolt Brecht mà có dạo vợ chồng nhà thơ Thế Dũng đã từ Đức trở lại Việt Nam, mở một quán ăn mang tên Sư Tử trên đường Thái Hà (Hà Nội). Rồi có một đêm, trong một dịp World Cup, quán Sư Tử đã tổ chức một đêm thơ giản dị và trang trọng để tưởng nhớ Bertolt Brecht với sự  có mặt của GS.TS Đình Quang và dịch giả Quang Chiến. Đây là bất ngờ đầu tiên đối với tôi.

Trong dịp này, tôi đặt ra một thắc mắc với dịch giả Quang Chiến: “Thưa anh, sao Bertolt Brecht nổi tiếng thế, mà từ bao nhiêu năm nay, chưa có một tập thơ dịch nào của riêng ông được xuất bản?”. Dịch giả Quang Chiến im lặng, không nói gì. Chẳng ngờ sau đấy không lâu, có một lần ngay ở trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam – hồi Quang Chiến còn tham gia Hội đồng dịch và Tạp chí Văn học nước ngoài, ông đã giải đáp thắc mắc của tôi bằng cách tặng tôi tập “Thơ trữ tình Bertolt Brecht”. Đây là bất ngờ thứ hai đối với tôi.

Nhận cuốn sách từ tay Quang Chiến, tôi rưng rưng cảm động. Tôi có cảm giác như được nhận từ ông với tấm lòng yêu thơ nói chung và yêu thơ Bertolt Brecht nói riêng, như chỉ để dành cho riêng tôi.

“Thơ trữ tình Bertolt Brecht” là một tuyển thơ, có cả thảy 59 bài được tuyển chọn từ 2.000 bài nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của Bertolt Brecht và do các nhà thơ các dịch giả: Tế Hanh, Đào Xuân Quý, Trần Dần, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Nguyễn Quân, Quang Chiến chuyển ngữ; Quang Chiến tuyển chọn với “Lời chào mừng” của Viện trưởng Viện Goethe tại Việt Nam: Franz Xaver Augustin.

Trong “Lời chào mừng”, có đoạn: “Xin thân ái cảm ơn người đã khởi xướng công trình: Nhà văn – dịch giả Quang Chiến. Tôi xin chúc tập thơ bé nhỏ này sẽ giúp bạn đọc Việt Nam yêu thơ có dịp hiểu rõ hơn sự vĩ đại trong văn chương của Bertolt Brecht và có những kỷ niệm khó quên”.

2. Phải 5 lần 7 lượt gọi điện thoại hẹn, tôi mới gặp được dịch giả Quang Chiến. Thời điểm học sinh, sinh viên đang nghỉ hè, ông rất bận. Học trò học tiếng Đức của ông rất đông. Do vậy, ông phải lên lịch cụ thể hàng ngày, hàng tuần để dạy hoặc nâng cao thêm tiếng Đức cho nhiều học sinh chuẩn bị du học ở Đức và sinh viên đang du học ở Đức tạm trở về Việt Nam.

Qua trò chuyện, tôi mới hay: Ngoài các công trình về ngôn ngữ, văn học và triết học Đức đã dịch và xuất bản, tính đến nay, ông đã chuyển ngữ khoảng vài chục tác phẩm văn học Đức tiêu biểu ở các thể loại: Tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kịch và thơ; trong đó, riêng việc chuyển ngữ trọn bộ “Faust” của đại thi hào Goethe đã choán của ông một khoảng thời gian là 10 năm.

Ông nói: “Faust không anh hùng hóa, không thần thánh hóa, thực chất là bi ca không phải là anh hùng ca. Faust không chỉ lớn về thi ca, mà còn lớn bởi phần tri thức tổng hợp của nhân loại, có giá trị như một bách khoa thư”.

Ông nói: “10 năm toàn công, toàn sức, toàn ý dành cho Faust, thì thử hỏi lấy gì để trả cho xứng? Một khi anh đã đến với văn chương, dù ở cách này hay cách khác, thì đừng toan tính gì hết và cũng phải tự bằng lòng với mình, đồng thời phải tự hiểu: Mình có thể hết lòng vì nó cho dù không thể sống bởi nó”.

Quang Chiến là người không chỉ có tầm mà còn có tâm nữa. Ông tâm sự: “Trên thế giới này, tôi chưa từng thấy một nhà thơ nào yêu Việt Nam, quan tâm đến Việt Nam, hết lòng vì Việt Nam như nhà thơ Áo Erich Fried, cho dù ông chưa một lần đến Việt Nam và đã mất vào năm 1988”. Ông phàn nàn: “Vậy mà cho đến lúc qua đời, ở Việt Nam chưa có một tập thơ nào của Erich Fried được xuất bản và hầu như chưa có ai biết đến thơ viết về Việt Nam của Erich Fried!”

Để tri ân, Quang Chiến đã tự mình dịch hẳn một tập thơ của Erich Fried từ tiếng Đức sang tiếng Việt và cho xuất bản. Trong “Một trái tim vì Việt Nam“, Quang Chiến Viết: “Trong lúc nhân dân ta kiên cường cầm súng chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập và tự do của Tổ quốc, bảo vệ phẩm giá con người, thì ở rất xa Việt Nam, ở tận xứ sở sương mù Anh quốc, có một người Áo chạy trốn chủ nghĩa phát xít Đức sống lưu vong ở London, đã luôn theo dõi sát sao mọi diễn biến của cuộc chiến, đã luôn lên án gay gắt cuộc chiến tranh bẩn thỉu do Mỹ gây ra và bênh vực nhân dân ta… Đối với Erich Fried, cuộc chiến tranh Việt Nam không phải cách xa ông ngàn vạn dặm, mà rất gần, gần lắm, bởi vì:

Đất nước ấy cách ta bảy bước chân

Và một tầm đạn bắn

. . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . .

Nếu ta nhắm mắt lại

Và tĩnh lặng, ngồi yên

Ta có thể nhìn thấy

Ở trên đất nước ấy

Những gì đương xảy ra.

Và chính Việt Nam rất gần gũi với Erich Fried, cho nên, ngay từ năm 1962, ông đã có thơ về Việt Nam. Hơn thế nữa, có lẽ Erich Fried cũng là một trong số rất ít những nhà thơ nước ngoài đã rất sớm có hẳn một tập thơ về đất nước và con người chúng ta. Đó là tập thơ với tiêu đề “Và Việt Nam và…” xuất bản năm 1966, gây được tiếng vang lớn trong dư luận châu Âu, nhất là trong giới thanh niên sinh viên, học sinh…”.

3. Như để bù lại những tháng năm miệt mài, vất vả vì văn chương, Quang Chiến đã tìm lại được sự an ủi, cân bằng, cứu rỗi bằng chính văn chương.

Ông kể: “Hồi đất nước còn khó khăn, đặc biệt là vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, như nhiều gia đình trí thức khác, gia đình tôi đã nuôi lợn trong nhà để tự cải thiện cuộc sống. Bản thân tôi, lúc ấy đang dịch “Nỗi đau của chàng Vecte” dưới một ngọn đèn dầu (vì hồi ấy Hà Nội rất hay mất điện).

Đôi khi ngẫm cũng thấy cực nhọc. Nhưng rồi tôi lại tìm được niềm an ủi bởi mấy câu thơ mà đọc lên thấy nhẹ lòng ngay sau đó: Vậy tôi chỉ là lữ khách/ Kẻ hành hương qua trái đất/ Các người có hơn gì tôi đâu. Nhiều lúc, trong khi dịch, tôi càng thêm thấm thía bởi các câu thành ngữ: “Hy vọng mà không hành động là tội lỗi”, “Con người vươn lên trong lầm lạc và trưởng thành trong bi kịch”… Cao hứng lên ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ viết về người mình yêu của Karl Lubomirski trong sự tâm đắc tột cùng: “Em là căn phòng của tôi/ không có bức tường“.

Ông bảo: “Khi dịch, bắt gặp một ý, một tứ, một tư tưởng mà mình thích, cũng có thể bột phát bừng sáng thành niềm vui trong tôi”. Theo tôi, đây là những giá trị tinh thần mang ý nghĩ dài lâu trong đời sống nội tâm cá nhân mà không phải ai cũng có được. Và theo tôi, nếu so sánh với các dịch giả tiếng Đức như Đỗ Ngoạn, Nguyễn Quân, Trần Đương, Vũ Hương Giang, Lê Quang, Lê Chu Cầu, thì Quang Chiến là người dịch đều đặn và thường xuyên hơn cả.

Sau chót, xin được nói thêm: Từ năm 1957, Quang Chiến đã theo học ở một trường thiếu sinh quân ở Đức. Ông có duyên nợ với văn chương từ rất sớm. Thời điểm ấy, ông đã có hai bài thơ mang hai cái tên rất hồn nhiên: “Mỗi ngày thêm tiến thêm vui” “Gặp bố bên bờ sông Enbơ” đoạt giải nhất một cuộc thi thơ do Báo Thiếu niên Tiền phong tổ chức. Ông có thơ dịch đăng trên Báo Văn Nghệ từ năm 1973. Ông có một thời gian dài tham gia công tác giảng dạy lịch sử văn học Đức ở Khoa Đức ở một trường đại học. Ông tên khai sinh là Ngô Quang Phục nhưng lấy tên một người con trai của mình làm bút danh. Năm 1987, ông đã đoạt Giải thưởng quốc tế Grimm của Chính phủ CHDC Đức. Năm 2002, ông đoạt thêm Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

ĐẶNG HUY GIANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *